增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
23. PHẨM ĐỊA CHỦ
KINH SỐ 1
[609a14]
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp
Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ vua Ba-tư-nặc bảo các quần
thần:
“Các ngươi hãy mau chỉnh bị xe có
gắn lông chim.
Ta muốn đến chỗ đức Thế tôn, lễ bái thăm hỏi.”
Tả hữu vâng lệnh vua, chỉnh bị xe
có gắn lông chim* xong, liền tâu vua:
“Đã chỉnh bị xong, nay đã đến
lúc.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc liền lên xe
có gắn lông chim*, có vài nghìn người đi bộ và cỡi ngựa, vây quanh trước
sau, ra khỏi nước Xá-vệ, đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ đức Thế-tôn. Như
phép của các vua, cởi bỏ năm món nghi trương, đó là: lọng, mũ, kiếm,
giày và quạt vàng,
để hết một bên, đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên.
Bấy giờ, Thế tôn thuyết cho pháp
thâm diệu cho vua, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Vua Ba-tư-nặc sau khi nghe
thuyết pháp, bạch Thế tôn:
“Cúi mong đức Thế tôn nhận thỉnh
cầu ba tháng
của con, cùng Tỳ-kheo Tăng không ở nơi khác.”
Thế tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu
của vua Ba-tư-nặc. Khi vua Ba-tự-nặc thấy đức Thế tôn im lặng nhận lời
thỉnh cầu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồi lui đi.
Về đến thành Xá-vệ, Vua ra lệnh
các quần thần:
“Ta muốn cúng dường phạn thực cho
Phật và Tỳ-kheo Tăng ba tháng, cung cấp những vật cần dùng, y phục, đồ
ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, [609b01]
các ngươi cũng nên phát tâm hoan hỷ.”
Quần thần đáp:
“Xin vâng.”
Vua Ba-tư-nặc cho xây dựng đại
giảng đường ở ngoài cửa cung, cực kỳ đẹp đẽ, treo lụa là, tràng phan, dù
lọng, trỗi nhạc hát múa, không thể kể. Lập các hồ tắm, bày biện nhiều
đèn dầu, dọn nhiều thức ăn, có đến trăm vị. Rồi vua Ba-tư-nặc liền đến
bạch:
“Đã đến giờ, cúi xin đức Thế tôn
quang lâm đến nơi này.”
Bấy giờ Thế tôn thấy đã đến giờ,
đắp y cầm bát, dẫn các Tỳ-kheo Tăng, vây quanh trước sau, vào thành
Xá-vệ, đến chỗ giảng đường kia. Đến rồi, vào chỗ ngồi mà ngồi, và các
Tỳ-kheo Tăng theo thứ tự cũng ngồi.
Khi đó, vua Ba-tư-nặc hướng dẫn
các cung nhân, tự tay mang thức ăn, và cung cấp những thứ cần dùng, cho
đến ba tháng mà không có gì thiếu hụt; cung cấp các thứ áo chăn, cơm
nước, giường chiếu, thuốc trị bịnh.
Thấy Thế tôn ăn xong, Vua đem các
thứ hoa rải lên Thế tôn và Tỳ-kheo Tăng, rồi lấy ghế nhỏ ngồi ở trước
Như lai, bạch Thế tôn:
“Con đã từng nghe từ Phật, do nhờ
nhân duyên bố thí cho súc sanh ăn mà được phước gấp trăm; cho người phạm
giới ăn được phước gấp ngàn; cho người trì giới ăn được phước gấp vạn;
cho Tiên nhân đoạn dục ăn được phước gấp ức; cho vị Tu-đà-hoàn hướng ăn
được phước không thể tính kể, huống lại là vị thành Tu-đà-hoàn ư? Huống
chi là vị hướng Tư-đà-hàm đắc quả Tư-đà-hàm, huống chi vị hướng A-na-hàm
đắc quả A-na-hàm, huống chi vị A-la-hán hướng, đắc A-la-hán quả, huống
chi vị Bích-chi Phật hướng, đắc Bích-chi Phật quả, huống chi bậc hướng
Như lai, Chí chân, Đẳng chánh giác, huống chi bậc thành Phật và Tỳ-kheo
Tăng, công đức phước báu đó không thể tính kể. Những việc làm công đức
hiện tại của con, hôm nay đã xong.”
Thế tôn bảo:
“Đại vương, chớ nói như vậy! Làm
phước không nhàm chán, sao hôm nay lại nói đã làm xong? Vì sao như vậy?
Vì sanh tử lâu dài không thể kể.
“Quá khứ lâu xa có vua tên là Địa
Chủ, thống lãnh cõi Diêm-phù này. Vua đó có vị đại thần tên là Thiện
Minh, ngay từ thiếu thời đã quanh quẩn bên vua không hề sợ khó. Sau đó,
vua kia chia nửa cõi Diêm-phù cho vị đại thần đó trị. Khi đó, tiểu vương
Thiên Minh tự xây thành quách, dọc mười hai do tuần, ngang bảy do tuần,
đất đai phì nhiêu, nhơn dân đông đúc.
“Bấy giờ, thành đó tên là Viễn
chiếu. Đệ nhất phu nhân của vua Thiện Minh tên là Nhật Nguyệt Quang,
không cao, không thấp, [609c01]
không mập, không gầy, không trắng, không đen, nhan sắc xinh đẹp, hiếm có
trên đời, miệng tỏa mùi hương hoa ưu-bát, thân thơm hương chiên-đàn. Một
thời gian sau, bà mang thai. Vị phu nhân đó liền đến tâu vua rằng, ‘Nay
thần thiếp có thai.’
“Vua nghe lời này, vui mừng hớn
hở, không thể kiềm được, liền sai kẻ hầu cận, bày biện giường chiếu cực
kỳ khoái lạc. Phu nhân mang thai đủ ngày, sanh một nam nhi. Lúc đương
sanh, đất cõi Diêm-phù hiện rực sáng màu vàng, tướng mạo đoan chánh, đủ
ba mươi hai tướng tốt, thân thể sắc vàng. Đại vương Thiện Minh thấy thái
tử này, hoan hỳ phấn khởi, mừng rỡ khôn lường, liền triệu các thầy đạo
sĩ Bà-la-môn, tự bồng thái tử để họ xem tướng, ‘Nay ta đã sanh thái tử.
Các khanh hãy xem tướng giúp ta, rồi đặt cho tên.’
“Khi đó, các thầy tướng vâng lịnh
vua. Họ cùng bồng, xem xét tướng mạo, rồi cùng nhau tâu vua, ‘Thánh
vương Thái tử đoan chánh vô song. Các căn đầy đủ. Có ba mươi hai tướng
tốt. Nay Vương tử này, sẽ có hai đường hướng: Nếu ở nhà sẽ làm Chuyển
luân Thánh vương, đầy đủ bảy báu. Bảy báu gồm có: bánh xe báu, voi báu,
ngựa báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, điển binh báu. Đó là bảy báu. Vua sẽ
có một ngàn người con, dõng mãnh cang cường, có thể dẹp quân địch, ở
trong bốn biển này, không cần đao trượng mà tự nhiên khuất phục. Hoặc
Vương tử này sẽ xuất gia học đạo, thành Vô thượng Chánh giác, danh đức
vang xa, khắp cả thế giới. Ngay ngày sinh Vương tử này, ánh sáng chiếu
xa, nay đặt tên Vương tử là Đăng Quang.’ Các thầy tướng sau khi đặt tên
xong, họ rời chỗ ngồi mà đi.
“Nhà vua suốt ngày bồng thái tử,
không hề rời mắt. Lúc này, Vua xây cho Vương tử nầy ba giảng đường thích
hợp vơi ba mùa Thu, Đông và Hạ. Cung nhơn thể nữ đầy cả trong cung. Rồi
để cho thái tử của ông ở đó vui chơi.
“Khi vương thái tử được hai mươi
chín tuổi, bằng tín tâm kiên cố, xuất gia học đạo. Ngày xuất gia, ngay
đêm đó thành Phật.
“Bấy giờ, khắp cõi Diêm-phù-đề đều
nghe biết, thái tử của vua kia xuất gia học đạo, ngay ngày ấy thành
Phật. Sáng sớm phụ vương nghe vương thái tử xuất gia học đạo, ngay đêm
đó thành Phật. Vua liền nghĩ rằng: ‘Đêm qua ta nghe chư thiên trên không
thảy đều ca tụng tốt lành. Đây tất là điềm lành, chứ không phải là tiếng
vang xấu. Nay ta hãy đi [610a01]
gặp gỡ.’
“Rồi vua dẫn bốn mươi ức nam nữ
vây quanh, đi đến chỗ Như lai Đăng Quang. Đến nơi, đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên. Bốn mươi ức người cũng làm lễ sát chân, rồi ngồi qua
một bên. Khi đó Như Lai lần lượt thuyết các đề tài vi diệu cho phụ vương
và bốn mươi ức người. Các đề tài đó là luận về thí, luận về giới, luận
về sanh thiên, dục là ô uế, là hữu lậu, là hạnh bất tịnh, xuất gia là
con đường xuất yếu, đạt được quả báo thanh tịnh.
“Bấy giờ, Như lai quán sát tâm ý
của chúng sanh này, tâm tánh đã hòa dịu, bèn như pháp mà chư Phật Như
Lai thường thuyết, nói về khổ, tập, diệt, đạo; Ngài cũng vì bốn mươi ức
người mà nói rộng hết nghĩa này. Ngay trên chỗ ngồi, họ sạch hết các
trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Khi đó, bốn mươi ức người bạch đức Đăng
Quang Như lai, ‘Chúng con muốn cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo.’
“Đại vương nên biết, bấy giờ, hết
thảy bốn mươi ức người được xuất gia học đạo, ngay trong ngày đó thảy
đều thành A-la-hán.
“Bấy giờ, đức Đăng Quang Như lai
dẫn bốn mươi ức người đều là bậc Vô trước,
du hành trong nước này. Nhân dân trong nước cúng dường tứ sự, y phục, đồ
ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, không thiếu hụt
một thứ gì.
“Khi đó, Đại vương Địa Chủ nghe
Đăng Quang thành vô thượng chánh chân, Đẳng chánh giác, đang dẫn bốn
mươi ức người đều là bậc Vô trước, du hành trong nước kia. Vua nghĩ,
‘Nay ta sai tín sứ đến thỉnh Như lai sang du hóa ở đây. Nếu Ngài đến,
bổn nguyện của ta thỏa mãn. Nếu không đến, ta đích thân đến lễ lạy, thăm
hỏi.’ Vua liền sai một vị đại thần, ‘Ngươi đến đó, nhân danh ta đảnh lễ
sát chân, thăm hỏi Như Lai, đời sống có nhẹ nhàng, đi đứng có mạnh khoẻ
không? Hãy thưa: Vua Địa Chủ thăm hỏi Như lai, đời sống có nhẹ nhàng, đi
đứng có mạnh khỏe không? Cúi xin Thế tôn chiếu cố chốn nầy.’
“Bấy giờ, người đó vâng lệnh vua
đi đến đất nước kia. Đến nơi, đảnh lễ sát chân Phật, rồi đứng qua một
bên, thưa như vầy: ‘Đại vương Địa Chủ lễ sát chân Như Lai. Lễ xong thăm
hỏi đời sống có nhẹ nhàng, đi đứng có mạnh khỏe không? Cúi xin Thế tôn
chiếu cố nước này.’
“Bấy giờ, đức Thế tôn im lặng nhận
lời thỉnh cầu ấy. Rồi Như lai Đăng Quang dẫn đại chúng, lần lượt du hành
trong dân gian, cùng với bốn mươi ức đại Tỳ-kheo, ở bất kỳ nơi nào cũng
đều được cung kính, cúng dường y phục, đồ ăn thức uống, giường chiếu,
tọa cụ, thuốc men trị bệnh. Như Lai và đại chúng đi lần đến nước Địa
Chủ. Đại vương Địa Chủ nghe Đăng Quang Như lai đến nước mình, hiện đang
ở trong vườn [610b01]
Bà-la phía Bắc, dẫn bốn mươi ức đại Tỳ-kheo. Vua nghĩ, ‘Nay ta nên đích
thân đến nghinh đón.’
“Khi đó, đại vương Địa Chủ cũng
lại dẫn bốn mươi ức người đến chỗ đức Như lai Đăng Quang. Đến nơi, đảnh
lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Bốn mươi ức người lễ sát chân
Phật, rồi ngồi qua một bên.
“Bấy giờ, Như lai Đăng Quang lần
lượt trực tiếp nói các đề tài vi diệu cho vua cùng với bốn mươi ức người
nghe. Ngài nói về thí, về giới, về sanh thiên, về dục là ô uế, là hữu
lậu, là hạnh bất tịnh, xuất gia là con đường xuất yếu, đạt được quả báo
thanh tịnh.
“Như Lai quán sát tâm ý của chúng
sanh này, tâm tánh đã hòa dịu, bèn như pháp mà chư Phật Như Lai thường
thuyết, nói về khổ, tập, diệt, đạo; Ngài cũng vì bốn mươi ức người mà
nói rộng hết nghĩa này. Ngay trên chỗ ngồi, họ sạch hết các trần cấu,
được pháp nhãn tịnh. Khi đó bốn mươi ức người bạch Như lai Đăng Quang
rằng, ‘Chúng con có ý muốn cạo bảo râu tóc, xuất gia học đạo.’
“Đại vương nên biết, bấy giờ cả
thảy bốn mươi ức người đều được xuất gia học đạo. Ngay ngày hôm ấy, họ
thảy đều đắc đạo, thành A-la-hán. Khi đó quốc vương Địa Chủ từ chỗ ngồi
đứng dậy, đầu mặt lễ sát chân Phật rồi thối lui ra về.
“Bấy giờ, Như lai Đăng Quang dẫn
tám mươi vạn ức người đều là A-la-hán, du hành trong nước. Nhân dân
trong nước cúng dường tứ sự, y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, tọa
cụ, thuốc men chữa bệnh, cung cấp mọi thứ, không gì thiếu hụt.
“Thời gian sau, quốc vương Địa Chủ
lại dẫn các quần thần đến chỗ đức Như Lai đó, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi
qua một bên. Khi đó, đức Như Lai Đăng Quang vì quốc vương kia thuyết
pháp vi diệu. Quốc vương Địa Chủ bạch đức Như Lai rằng, ‘Cúi xin đức Thế
tôn cho con được suốt đời cúng dường Ngài và Tỳ-kheo Tăng, cung cấp y
phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc mên trị bệnh, sẽ không
có gì thiếu hụt.’
“Bấy giờ, Như lai Đăng Quang im
lặng nhận lời thỉnh cầu của vua kia. Khi vua thấy đức Phật im lặng nhận
thỉnh, lại tiếp bạch Thế tôn, ‘Nay con có điều cầu nguyện từ Thế tôn.
Cúi mong Thế tôn chấp nhận.’ Thế tôn bảo, ‘Pháp của Như lai siêu quá
nguyện này.’
Vua bạch Thế tôn, ‘Nguyện cầu của con hôm nay rất là tịnh diệu.’ Thế tôn
bảo, ‘Những điều nguyện cầu tịnh diệu ấy là gì?’ Vua bạch Thế tôn, ‘Như
ý của con, hôm nay chúng tăng ăn bằng bát này, ngày mai ăn dùng bát
khác; hôm nay chúng tăng mặc y phục này, ngày mai mặc y phục khác; hôm
nay chúng tăng ngồi tòa này, ngày mai ngồi tòa khác; hôm nay sai [610c01]
người này đến hầu chúng tăng, ngày mai thay đổi người khác đến hầu chúng
tăng. Những điều mà con cầu mong chính là như vậy.’ Như lai Đăng Quang
bảo, ‘Tùy ý nguyện của vua. Nay là lúc thích hợp.”
Đại vương Địa Chủ vui mừng hớn hở
không thể tự kiềm chế, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, rồi
thối lui, trở về cung.
“Về đến nơi, vua bảo các quần
thần, ‘Nay ta phát tâm trọn đời cúng dường Như lai Đăng Quang, Chí chân,
Đẳng chánh giác và chúng Tỳ-kheo, y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm,
tọa cụ, thuốc men chữa bệnh. Ta khuyên các khanh cũng nên giúp ta lo
việc cúng dường.’ Các đại thần đáp, ‘Như lời Đại vương dạy.’
“Cách thành không bao xa, trong
vòng một do tuần, Vua cho xây dựng giảng đường chạm trổ điêu khắc, năm
màu rực rỡ, treo màn, tràng phan, dù lọng, trổi nhạc hát múa, rưới hương
trên đất, sửa sang hồ tắm, bày đủ thứ đèn đuốc, sửa soạn các thứ đồ ăn
thức uống ngon ngọt, bày biện chỗ ngồi. Rồi đến cho biết đã đến giờ,
bạch, ‘Bây giờ, đã đúng giờ, xin Thế tôn chiếu cố.’
“Như lai biết đã đến giờ, mặc y
cầm bát, dẫn các Tỳ-kheo trước sau vây quanh, đi đến chỗ giảng đường.
Mọi người ngồi trên chỗ ngồi dọn sẵn. Khi đại vương Địa Chủ thấy đức
Phật và các Tỳ-kheo Tăng ngồi xong, dẫn cung nhân thể nữ và các quan đại
thần, tự tay rót nước, bưng sớt nhiều đồ ăn thức uống, có đến trăm vị.
“Đại vương nên biết, khi ấy quốc
vương Địa Chủ cúng dường Như lai Đăng Quang và tám mươi ức vị A-la-hán
trong vòng bảy vạn năm, chưa từng lười bỏ. Khi đức Như lai đó giáo hóa
khắp tất cả xong, bèn nhập Niết-bàn ở trong vô dư Niết-bàn giới.
“Khi đó, đại vương Địa Chủ dùng
hàng trăm thứ hoa thơm cúng dường. Rồi ở các ngả tư đường dựng bốn tháp
lớn. Mỗi tháp được làm bằng bảy báu, vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh; treo
lụa, phướn, dù lọng. Tám mươi ức A-la-hán cũng lần lượt nhập Niết-bàn ở
trong vô dư Niết-bàn giới. Bấy giờ đại vương thâu lấy xá-lợi của tám
mươi ức vị đó, thảy đều xây tháp, treo lụa, phướn, dù lọng, cúng dường
hoa thơm.
“Đại vương nên biết, bấy giờ đại
vương Địa Chủ lại cúng dường tháp Như lai Đăng Quang và tám mươi ức
A-la-hán. Rồi trải qua bảy vạn năm, tùy thời cúng dường, đốt đèn, rải
hoa, treo lụa, phan, cái.
“Đại vương nên biết, giáo pháp Như
lai Đăng Quang truyền lại bị diệt tận, sau đó vị vua này mới diệt độ.
“Đại vương Địa Chủ lúc bấy giờ há
là ai khác chăng? Đừng nghĩ vậy, Vì sao? Đại vương Địa Chủ lúc bấy giờ
chính là [611a01]
thân ta. Ta lúc bấy giờ, trong bảy vạn năm, đem các thứ y phục, đồ ăn
thức uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, cúng dường Phật đó,
không để giảm thiếu. Sau khi Phật nhập Niết-bàn, lại trong bảy vạn năm
cúng dường hình tượng xá-lợi, thắp hương, đốt đèn, treo lụa, phướn, dù
lọng, không thứ gì thiết hụt. Vào lúc bấy giờ, Ta đem công đức này cầu
hưởng phước lành trong sanh tử, không cầu giải thoát.
“Đại vương nên biết, phước lành có
được lúc bấy giờ, nay có còn lại gì chăng? Đừng nghĩ vậy! Như hôm nay Ta
xem thấy sự giàu có kia không còn mảy may nào như lông tóc. Vì sao vậy?
Sanh tử triền miên không thể kể được, ở trong đó tất đã hưởng hết phước,
không còn mảy may nào như sợi tóc. Cho nên Đại vương đừng nói như vầy,
‘Phước lành mà ta làm hôm nay đã xong.’ Đại vương nên nói như vầy,
‘Những gì tôi đã làm bằng thân, miệng, ý hôm nay, hết thảy để cầu giải
thoát, chứ không cầu hưởng phước nghiệp kia ở trong sanh tử. Như thế sẽ
lâu dài được an ổn vô lượng.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc trong lòng
kinh sợ, áo lông dựng đứng, thương khóc lẫn lộn, lấy tay gạt nước mắt,
đảnh lễ sát chân Thế tôn, tự trình bày tội trạng:
“Con như ngu si, như khờ dại,
không hiểu biết gì hết. Cúi xin Thế tôn nhận sự hối lỗi của con. Nay con
năm vóc gieo sát đất, sửa đổi những lỗi lầm đã qua, không tái phạm những
lời nầy nữa. Cúi mong đức Thế tôn nhận sự hối lỗi của con.”
Ba lần như vậy.
Đức Thế tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, Đại vương!
Nay ở trước Như lai sám hối sự phi pháp của mình, đổi lỗi qua, tu sửa về
sau. Nay Ta nhận sự sám hối lỗi của Vua. Chớ có tái phạm nữa.”
Bấy giờ ở trong đại chúng, có
Tỳ-kheo-ni tên là Ca-chiên-diên, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân
Phật, bạch đức Thế tôn:
“Những gì Thế tôn dạy hôm nay rất
là vi diệu. Lại nữa, Thế tôn bảo vua Ba-tư-nặc rằng, ‘Đại vương nên
biết, những hành vi gì đã làm bằng thân, khẩu, ý là để cầu giải thoát,
chớ đừng cầu hưởng phước nghiệp ở trong vòng sanh tử, như vậy sẽ lâu dài
được an ổn vô lượng.’ Sự thật là như vậy. Vì con
nhớ lại ba mươi mốt kiếp về trước đã từng dâng cơm cho Như lai Thí-cật,
Chí chân, Đẳng chánh giác xuất hiện ở đời, Minh hạnh túc,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Đạo pháp ngự, Thiên nhơn sư,
hiệu Phật Chúng hựu, bấy giờ du hóa ở thế giới Dã mã.
“Bấy giờ, đức Phật đó, đến giờ,
đắp y cầm bát vào thành Dã mã khất thực. Trong thành có một [611b01]
người làm thuê tên là Thuần Hắc. Khi người làm thuê kia thấy đức Như lai
cầm bát vào thành khất thực, liền tự nghĩ, ‘Nay đức Như lai vào thành,
ắt cần ăn uống.’ Liền chạy vào nhà lấy thức ăn ra cúng cho Như lai, và
phát lời nguyện này: ‘Bằng công đức nầy, tôi sẽ khỏi đọa trong ba đường
dữ. Mong cho tôi đời sau cũng gặp vị như Thánh tôn này, cũng sẽ mong
Thánh tôn kia thuyết pháp cho tôi, để được giải thoát.’
“Thế tôn và vua Ba-tư-nặc cũng
biết điều này. Người làm thuê Thuần Hắc lúc bấy giờ há là ai khác chăng?
Chớ có xem vậy! Vì sao? Người làm thuê Thuần Hắc lúc bấy giờ, chính là
thân con. Con lúc đó cúng cơm cho Như lai Thí-cật, phát thệ nguyện này:
‘Bằng công đức nầy, tôi sẽ khỏi đọa trong ba đường dữ. Mong cho tôi đời
sau cũng gặp vị như Thánh tôn này, cũng sẽ mong Thánh tôn kia thuyết
pháp cho tôi, để được giải thoát.’ Con trong ba mươi mốt kiếp không đọa
vào ba đường dữ, sanh trong trời người, cuối cùng hôm nay nhận thân phần
nầy, gặp gỡ Thánh tôn được xuất gia học đạo, tận trừ hữu lậu, thành
A-la-hán. Như những gì Thế tôn thuyết rất là vi diệu.”
Rồi cô nói với vua Ba-tư-nặc:
“Những gì được làm bởi thân, khẩu,
ý đều để cầu giải thoát, chẳng cầu hưởng phước nghiệp ở trong vòng sanh
tử. Nếu khi tôi gặp Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào tỏ tâm
ý hoan hỷ hướng đến Như lai, tôi liền nghĩ như vầy: ‘Các hiền sĩ này
dụng ý như không ái kính cung phụng Như lai.’ Nếu tôi gặp bốn bộ chúng,
liền đến bảo: ‘Này các bạn, cần vật gì? Y bát chăng? Ni-sư-đàn chăng?
Ống kim chăng? Chậu rửa chăng? Và những thứ đồ
dùng khác của Sa-môn, tôi sẽ cung cấp hết.’ Tôi đã hứa vậy rồi, khất cầu
khắp nơi. Nếu tôi được, thì đó là đại hạnh. Nếu không được, tôi đến
Uất-đơn-việt, Cù-da-ni, Phất-vu-đệ tìm kiếm cầu cho. Vì sao vậy? Vì đều
do chúng bốn bộ này mà được đạo Niết-bàn.”
Bấy giờ đức Thế tôn quán sát tâm
Tỳ-kheo ni Ca-chiên-diên này, liền bảo các Tỳ-kheo:
“Các ngươi có thấy ai có tín tâm
giải thoát như Tỳ-kheo ni Ca-chiên-diên này không?”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Không thấy,
bạch
Thế
tôn.”
Đức Thế tôn bảo:
“Trong số Thanh văn của ta, người
có tín giải thoát đệ nhất trong các Tỳ-kheo ni chính là Tỳ-kheo ni
Ca-chiên-diên vậy.”
Tỳ-kheo ni Ca-chiên-diên và vua
Ba-tư-nặc sau khi nghe Phật thuyết pháp xong, hoan hỷ
[611b]
phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong núi
Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt, cùng với năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, tôn giả Bà-câu-lư ở tại
một eo núi chắp vá y cũ. Khi đó Thích Đề-hoàn Nhơn từ xa thấy tôn giả
Bà-câu-lưu
ở tại một eo núi, đang vá y cũ. Thấy vậy, ông nghĩ thầm: “Tôn giả
Bà-câu-lư này đã thành A-la-hán, các trói buộc đã mở, sống lâu vô lượng,
hằng tự hàng phục, tư duy vô thường, khổ, không, vô ngã, không vướng
việc đời, lại cũng không thuyết pháp cho người khác, tịch lặng tự tu
giống như dị học ngoại đạo. Không rõ tôn giả này có thể vì người khác
thuyết pháp cho người khác hay là không kham nổi? Nay ta nên thử xem.”
Bấy giờ, Thiên đế Thích biến mất
khỏi trời Tam thập tam, hiện đến núi Kỳ-xà-quật, đứng ở trước tôn giả
Bà-câu-lư. Sau khi đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên. Bấy giờ Thích
Đề-hoàn Nhơn nói kệ nầy:
Thuyết được người trí khen;
Vì sao không thuyết pháp?
Phá kết, được hạnh Thánh
Sao lại
trụ lặng im.
Tôn giả Bà-câu-lư đáp Thích
Đề-hoàn Nhơn bằng bài kệ này :
Có Phật, Xá-lợi-phất
A-nan, Quân-đầu,
Bàn,
Và cùng các Tôn trưởng,
Khéo hay nói pháp mầu.
Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhơn bạch
tôn giả Bà-câu-lư:
“Căn của chúng sanh có nhiều loại
khác nhau. Song ngài nên biết, Thế tôn cũng nói chủng loại chúng sanh
nhiều hơn bụi đất, vì sao tôn giả Bà-câu-lư không vì người khác mà
thuyết pháp?”
Bà-câu-lư đáp:
“Chủng loại chúng sanh khó có thể
hiểu biết. Thế giới có nhiều quốc độ không giống nhau, thảy đều chấp
trước ngã sở, phi ngã sở. Nay tôi sau khi quán sát nghĩa này, không
thuyết pháp cho mọi người.”
Thích Đề-hoàn Nhơn nói:
“Xin ngài nói cho tôi nghe nghĩa
của ngã sở, phi ngã sở.”
Tôn giả Bà-câu-lư nói:
“Ta, người, thọ mạng,
hoặc nam, hoặc nữ, con người,
các loại ấy thảy đều y nơi mạng này mà tồn tại. Nhưng, lại nữa, này
Câu-dực,Thế tôn cũng nói, ‘Tỳ-kheo nên biết, nên tự nổ lực, không khởi
tà pháp, cũng nên im lặng như Thánh hiền. Tôi sau khi quán [612a01]
sát nghĩa này, bèn im lặng.”
Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhơn từ xa
hướng về Thế tôn chắp tay, nói kệ nầy:
Quy mạng đấng Mười lực,
Sáng tròn không mù che.
Vì khắp cả mọi người.
Người nầy thật kỳ lạ.
Tôn giả Bà-câu-lư đáp:
“Tại sao Đế Thích nói như vầy,
‘Người này thật kỳ lạ?’”
Thích Đề-hoàn Nhơn đáp:
“Tôi nhớ ngày xưa đi đến chỗ Thế
tôn, sau khi lễ sát chân Thế tôn rồi hỏi nghĩa nầy, ‘Loài trời, người,
có tưởng niệm gì?’ Bấy giờ Thế tôn bảo tôi, ‘Thế giới này ngần ấy loại,
tất cả đều sai khác nhau, nguồn gốc không đồng.’ Tôi nghe những lời này
rồi, liền đáp, ‘Đúng vậy, Thế tôn! Đúng như những lời Thế tôn đã nói.
Thế giới ngần ấy loại, mỗi mỗi đều không đồng. Có thể chăng, nếu thuyết
pháp cho chúng sanh kia, thảy đều thọ trì và có người thành quả Thánh!
Vì vậy nên tôi nói ‘Người nầy thật lạ kỳ!’ Song những gì tôn giả
Bà-câu-lư nói đã nói, cũng lại như vậy, ‘Thế giới ngần ấy loại, mỗi mỗi
không đồng.’”
Rồi Thích Đề-hoàn Nhơn nghĩ thầm:
“Tôn giả này có khả năng thuyết pháp cho người, chứ không phải không
thể.” Rồi Thích Đề-hoàn Nhơn từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Thích Đề-hoàn Nhơn sau khi nghe
những gì tôn giả Bà-câu-lư thuyết, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở cạnh hồ Lôi
thanh,
nước Chiêm-bà.
Bấy giờ, Tôn giả Nhị Thập Ức Nhĩ
sống một nơi vắng, tự tu gốc pháp, không bỏ mười hai pháp hạnh đầu-đà,
đêm ngày kinh hành, không lìa giáo lý ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Hoặc
ngồi, hoặc đi, thường tu chánh pháp. Đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, thường
tự cố gắng không bỏ một giây. Song tâm vẫn không được giải thoát khỏi
dục, các pháp hữu lậu.
Lúc bấy giờ, chỗ mà Tôn giả Thập
Nhị Ức Nhĩ kinh hành, máu từ bàn chân bị nát chảy đầy tràn cả lề đường,
giống như chỗ mổ trâu. Quạ, diều đến ăn máu. Song tâm vẫn không được
giải thoát khỏi dục, các pháp hữu lậu. Rồi Tôn giả Nhị Thập Ức tự nghĩ:
“Trong những người đệ tử khổ hành tinh tấn của đức Phật Thích-ca, ta là
người đứng đầu. Song nay tâm của ta vẫn không được giải thoát khỏi các
lậu. Vả lại, gia nghiệp ta nhiều tiền của. Ta nên xả bỏ pháp phục, trở
về làm bạch y, đem tiền của bố thí rộng rãi. Chứ làm Sa-môn như hiện nay
thật khó, không dễ.”
Bấy giờ, Thế tôn từ xa biết được
những gì Nhị Thập Ức Nhĩ suy nghĩ, liền [612b01]
lướt qua hư không mà đi, đến chỗ Tôn giả kinh hành, trải tọa cụ mà ngồi.
Khi đó, tôn giả Nhị Thập Ức Nhĩ đến trước chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân,
rồi ngồi qua một bên. Thế tôn hỏi tôn giả Nhị Thập Ức Nhĩ:
“Vừa rồi ngươi vì cớ gì mà nghĩ
rằng, ‘Trong những người đệ tử khổ hành tinh tấn của đức Phật Thích-ca,
ta là người đứng đầu. Song nay tâm của ta vẫn không được giải thoát khỏi
các lậu. Vả lại, gia nghiệp ta nhiều tiền của. Ta nên xả bỏ pháp phục,
trở về làm bạch y, đem tiền của bố thí rộng rãi. Chứ làm Sa-môn như hiện
nay thật khó, không dễ.’?”
Nhị Thập Ức Nhĩ đáp:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn.”
Thế tôn bảo:
“Nay Ta hỏi lại ngươi, ngươi tùy
đó trả lời Ta. Thế nào, Nhị Thập Ức Nhĩ, trước kia khi còn tại gia ngươi
giỏi khảy đàn chăng?”
Nhị Thập Ức Nhĩ đáp:
“Đúng vậy, bạch Thế tôn. Trước kia
khi còn tại gia con khảy đàn rất giỏi.”
Thế tôn bảo:
“Thế nào, Nhị Thập Ức Nhĩ, nếu dây
đàn căng quá thì âm hưởng không đều. Khi đó tiếng đàn nghe có hay
không?”
Nhị Thập Ức Nhĩ đáp :
“Thưa Không, Thế tôn.”
Thế tôn bảo:
“Thế nào, Nhị Thập Ức Nhĩ, nếu dây
đàn lại chùng, khi đó tiếng đàn nghe có hay không?”
Nhị thập Ức Nhĩ đáp:
“Thưa Không, Thế tôn.”
Thế tôn bảo:
“Thế nào, Nhị Thập Ức Nhĩ, nếu dây
đàn không căng không chùng, khi đó âm đàn nghe có hay không?”
Nhị Thập Ức Nhĩ đáp:
“Thưa vâng, Thế tôn. Nếu dây đàn
không chùng, không căng, lúc ấy âm đàn nghe rất hay.”
Thế tôn bảo:
“Ở đây cũng như vậy. Quá tinh tấn,
cũng bằng như trạo cử.
Nếu lười biếng, đây sẽ rơi vào tà kiến. Nếu có thể ở giữa, đó là hành
bực thượng. Như vậy không lâu sẽ thành người vô lậu.”
Thế tôn sau khi thuyết pháp vi
diệu cho Tỳ-kheo Nhị-thập-ức-nhĩ xong, trở về bên bờ hồ Lôi âm.
Bấy giờ, Tôn giả Nhị Thập Ức Nhĩ
suy nghĩ những gì Thế tôn đã dạy bảo, ở nơi nhàn tịnh, liên tục không
ngừng tu hành pháp đó, vì mục đích mà thiện gia nam tử xuất gia học đạo,
cạo bỏ râu tóc, tu phạm hạnh vô thượng, cho đến như thất biết rằng,
‘sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sinh nữa.’ .Tôn giả Nhị Thập Ức Nhĩ đã thành A-la-hán.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Đệ tử siêng năng, đệ nhất khổ
hành trong hàng Thanh văn của Ta chính là Nhị Thập Ức Nhĩ.”
Sau khi các Tỳ-kheo nghe những gì
Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4 |