增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
24.
PHẨM CAO TRÀNG
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các
tỳ-kheo:
“Xưa, Thiên đế Thích bảo với Trời
Tam thập tam rằng: ‘Các khanh khi vào trận chiến lớn, nếu ai có tâm kinh
hãi lo sợ, thì các khanh hãy quay lại nhìn lá cờ rộng lớn của ta. Nếu ai
thấy lá cờ của ta, liền hết sợ hãi. Nếu khanh nào không nhớ cờ của ta,
hãy nhớ cờ của Y-sa Thiên vương,
vì ai nhớ cờ kia thì những sự sợ hãi đang có liền tự tiêu diệt. Nếu các
khanh không nhớ cờ của ta và cờ của Y-sa Thiên vương, lúc đó nên nhớ cờ
của Bà-lưu-na
Thiên vương, vì nhớ cờ đó thì những sự sợ hãi đang có sẽ tự tiêu diệt.
“Nay ta cũng lại bảo các ngươi:
Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào mà sợ hãi, dựng đứng
lông áo, bấy giờ nên niệm thân Ta, rằng ‘Đây là Như lai Chí chân, Đẳng
chánh giác, Minh hành Thành*, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ,
Đạo pháp ngự, Thiên nhơn sư, hiệu Phật Chúng hựu xuất hiện ở đời.’ Giả
sử có sự sợ hãi dựng đứng lông áo, sợ hãi ấy liền tự tiêu diệt. Nếu ai
không niệm Ta, lúc đó nên niệm Pháp, rằng ‘Pháp của Như lai rất là vi
diệu, được người trí học tấp.’ Do niệm pháp mà mọi sợ hãi tự tiêu diệt.
Nếu không niệm Ta, cũng không niệm Pháp, khi đó nên niệm Thánh Chúng,
rằng ‘Thánh Chúng của Như lai rất là hòa thuận, pháp pháp thành tựu,
giới thành tựu, tam-muội thành tựu, trí huệ thành tựu, giải thoát thành
tựu, giải thoát kiến huệ thành tựu, gồm có bốn đôi tám bậc. Đó là Thánh
chúng Như lai, đáng kính, đáng thờ, là ruộng phước của thế gian.’ Đó gọi
là Thánh chúng Như lai. Bấy giờ, nếu niệm Tăng rồi, mọi sợ hãi tự tiêu
diệt.
“Tỳ-kheo nên biết, Thích Đề-hoàn
Nhân còn có dâm, nộ, si. Song trời Tam thập tam niệm tưởng chủ mình mà
hết sợ hãi, huống chi Như lai không còn có tâm dục, nộ, si, nên niệm
tưởng đến mà có sợ hãi sao? Nếu tỳ-kheo nào có sợ hãi, sợ hãi tự tiêu
diệt. Cho nên, này các tỳ-kheo, hãy niệm tam tôn: Phật, Pháp và Thánh
chúng.
“Này các tỳ-kheo, hãy học điều này
như vậy.”
Các tỳ-kheo sau khi nghe những
điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, trong nước Bạt-kỳ có quỷ
tên là Tỳ-sa,
ở nước đó rất là hung bạo, giết dân vô số, thường mỗi ngày giết một
người, hoặc ngày hai người, ba người, bốn người, năm người, mười người,
hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người, năm mươi người. Nước đó
bấy giờ đầy dẫy các quỷ thần, La-sát. Lúc bấy giờ nhơn dân nước Bạt-kỳ
tụ hội lại, cùng bàn luận:
“Chúng ta có thể tránh nước này,
sang nước khác, không cần ở đây.”
Bấy giờ, ác quỷ Tỳ-sa biết được ý
nghĩ trong lòng những người dân kia, liền bảo nhơn dân kia:
“Các ngươi chớ rời nơi này đến
nước khác. Vì sao vậy? Cuối cùng không thoát tay ta. Mỗi ngày các ngươi
mang một người tế ta, ta sẽ không quấy nhiễu các ngươi.”
Khi ấy, dân Bạt-kỳ hằng ngày bắt
một người tế ác quỷ kia. Khi ác quỷ kia ăn thịt người rồi, lấy hài cốt
ném vào nơi khác trong núi, nên hang suối trong núi kia đầy những xương.
Bấy giờ, có trưởng giả tên là
Thiện Giác sống tại nơi đó, nhiều tiền lắm của, tiền chứa ngàn ức; la,
lừa, lạc đà không thể tính hết; kim ngân, trân bảo, xa cừ, mã não, chơn
châu, hổ phách cũng không thể kể. Trưởng giả kia có con trai nhỏ tên là
Na-ưu-la. Vì chỉ có một con trai, nên rất được yêu quý, thương nhớ chưa
từng rời mắt. Theo kỳ hạn này, bấy giờ đến lượt đứa trẻ Na-ưu-la phải tế
quỷ. Bấy giờ, cha mẹ Na-ưu-la tắm rửa đứa trẻ này và mặc y phục đẹp, dẫn
đến nơi gò mả chỗ quỷ kia. Đến đó, rồi khóc lóc, kêu la không thể kể
xiết, và nói như vầy:
“Các thần và địa thần, thảy đều
chứng minh cho. Chúng tôi chỉ có một đứa con này. Xin các thần sáng suốt
hãy chứng minh cho. Hai mươi tám vị đại quỷ thần vương xin hãy gia hộ
cho, khiến đừng bị tai ách.
[615c1]
Xin đảnh lễ hết thảy Tứ thiên vương, xin thủ hộ đứa trẻ này khiến được
cứu thoát. Cũng xin đảnh lễ Thích Đề-hoàn Nhân, xin cứu mạng đứa trẻ
này. Cũng lại đảnh lễ Phạm Thiên vương, xin cứu thoát mạng này. Cũng xin
đảnh lễ chư quỷ thần hộ thế, để thoát ách này. Nay con cũng xin đảnh lễ
các vị A-la-hán lậu tận, đệ tử Như lai để thoát ách này. Cũng lại đảnh
lễ các vị Bích-chi-phật vô sư, tự giác, để thoát ách này. Nay cũng tự
đảnh lễ Như lai kia, hàng phục người chưa hàng phục, độ người chưa được
độ, bảo hộ người chưa được bảo hộ, cứu thoát người chưa được cứu thoát,
khiến bát-niết-bàn người chưa được bát-niết-bàn, cứu hộ cho người chưa
được cứu hộ, làm mắt sáng cho người mù, làm đại y vương cho người bịnh.
Đối với trời, rồng, quỷ thần, tất cả nhơn dân, ma và ma thiên, Ngài là
bực tối tôn thượng, không ai có thể sánh bằng, đáng kính đáng quý, làm
ruộng phước lành cho mọi người, không ai hơn Như lai. Vậy, xin Như lai
hãy giám sát cho. Xin Như lai hãy rọi đến lòng chí thành này.”
Cha mẹ Na-ưu-la sau khi đưa đứa
trẻ cho quỷ rồi, lui trở về.”
Bấy giờ, đức Thế tôn bằng thiên
nhãn thanh tịnh, lại bằng thiên nhĩ nghe thấu những lời này, cha mẹ của
Na-ưu-la khóc lóc van xin không thể kể xiết. Khi đó, đức Thế tôn dùng
thần túc lực đến chỗ ở của con quỷ dữ trong núi kia. Lúc ác quỷ kia đang
tụ tập tại chỗ quỷ thần phía bắc Tuyết sơn, Thế tôn vào tại trú xứ của
quỷ mà ngồi, ngồi kiết già chánh thân, chánh ý.
Lúc đó, đứa trẻ Na-ưu-la lần hồi
đi đến chỗ trú xứ của quỷ kia. Từ xa, đứa trẻ Na-ưu-la nhìn thấy Như lai
trú xứ của ác quỷ, ánh sáng rực rỡ, chánh thân chánh ý, cột niệm ở
trước, nhan sắc đoan chánh ít có trên đời, các căn tịch tịnh, có nhiều
công đức hàng phục các ma. Những công đức như vậy không thể kể xiết. Có
ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân Ngài, như núi
Tu-di vượt trên các đỉnh núi. Gương mặt Ngài như mặt trời, mặt trăng,
cũng như ánh sáng của núi vàng chiếu xa. Thấy vậy rồi, nó sanh tâm hoan
hỷ, hướng về Như lai mà nghĩ như vầy: “Đây ắt không phải ác quỷ Tỳ-sa.
Vì sao vậy? Vì nay ta thấy người này mà tâm rất hoan hỷ. Nếu người chính
là ác quỷ thì cứ tùy ý mà ăn.”
Lúc đó, đức Thế tôn bảo:
“Na-ưu-la, đúng như những lời
ngươi nói. Ta nay là Như lai Chí chân, Đẳng chánh giác, đến cứu ngươi
và, hàng phục ác quỷ này.”
Na-ưu-la nghe những lời này
[616a1],
vui mừng hớn hở không thể tự kiềm chế, liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát
chân, rồi ngồi qua một bên. Khi đó, Thế tôn nói cho đứa bé nhiều đề tài
vi diệu; luận về bố thí, luận về trì giới, luận về sanh thiên, dục là
nhơ ác, là hữu lậu, là hạnh bất tịnh, xuất gia là con đườn xuất yếu, trừ
khử các loạn tưởng.
Khi đức Thế tôn đã thấy tâm ý đứa
trẻ Na-ưu-la hoan hỷ, tánh ý nhu nhuyến. Như Pháp mà chư Phật Thế tôn
thường thuyết, là khổ, tập, tận, đạo, bấy giờ Thế tôn cũng vì bé mà
thuyết đủ. Bé liền ở trên chỗ ngồi sạch hết các trần cấu, được mắt pháp
trong sạch. Bé đã thấy pháp, đắc pháp, thành tựu các pháp, tiếp nhận các
pháp không có nghi ngờ, hiểu được lời dạy Như lai, quy y Phật, Pháp,
Thánh chúng và, thọ năm giới.
Khi ấy, ác quỷ Tỳ-sa trở về đến
trú xứ mình.
Từ xa, ác quỷ trông thấy Thế tôn đang ngồi đoan chánh tư duy, thân không
lay động. Thấy vậy, nó nổi sân hận phẫn nộ, nổi mưa, sấm sét, hoặc mưa
đao kiếm nhắm đến Như lai; nhưng khi chưa rơi xuống đất liền biến thành
hoa sen ưu-bát. Khi đó quỷ kia càng thêm thịnh nộ, làm mưa xuống các
núi, sông, vách đá; nhưng khi mưa chưa rơi xuống đất liền biến thành vô
số đồ ăn thức uống. Quỷ kia lại hoá làm con voi lớn, gầm thét nhắm đến
chỗ Như lai. Thế tôn lại hóa làm sư tử chúa. Quỷ kia lại biến làm hình
sư tử nhắm đến chỗ Như lai. Thế tôn biến làm một đám lửa lớn. Quỷ kia
lại càng thịnh nộ, biến thành rồng lớn có bảy đầu. Thế tôn biến làm kim
xí điểu lớn. Khi đó quỷ kia liền tự nghĩ như vầy: “Nay những thần mà ta
có, hiện đã trổ hết rồi. Song không động đến lông áo của Sa-môn này. Nay
ta nên đến hỏi ông ta nghĩa sâu này.”
Khi đó quỷ kia hỏi Thế tôn:
“Nay ta muốn hỏi nghĩa sâu xa. Nếu
không thể trả lời được, ta sẽ nắm hai chân ông quăng xuống biển nam.”
Đức Thế tôn bảo:
“Ác quỷ nên biết, Ta tự quán sát
thấy không có trời và người, Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc người, hoặc phi
nhơn nào có thể nắm hai chân Ta ném xuống biển nam. Nhưng nay ngươi muốn
hỏi nghĩa thì có thể hỏi.”
Khi đó, ác quỷ hỏi:
“Sa-môn, những gì là hành cũ,
những gì là hành mới, những gì là hành diệt?”
Thế tôn bảo:
“Ác quỷ nên biết, mắt là hành cũ,
do duyên là những gì được làm từ trước mà sinh thọ
thành hành. Tai, mũi, lưỡi,
thân, ý; đó là các hành cũ, do duyên là những gì được làm từ trước mà
sinh thọ*
[616b1] thành hành.
Ác quỷ, đó gọi đây là các hành cũ.”
Quỷ Tỳ-sa hỏi:
“Sa-môn, những gì là hành mới?”
Thế tôn bảo:
“Những gì được làm trong hiện tại,
ba bởi thân, bốn bởi miệng, ba bởi ý. Ác quỷ, đó gọi là hành mới.”
Ác quỷ hỏi:
“Những gì là hành diệt?”
Thế tôn bảo:
“Ác quỷ nên biết, hành cũ đã diệt
tận không còn tái sinh; hành mới không được tạo tác; cái chấp thụ này
vĩnh viễn không sanh, vĩnh viễn diệt tận không còn tàn dư. Đó gọi là
hành diệt.”
Khi đó quỷ kia bạch Thế tôn:
“Nay ta rất đói, tại sao cướp thức
ăn của ta? Đứa trẻ này là thức ăn của ta. Sa-môn, trả đứa trẻ này lại
cho ta!”
Thế tôn bảo:
“Xưa kia, khi Ta chưa thành đạo,
từng làm Bồ-tát có, chim bồ câu bay núp nơi Ta, Ta còn không tiếc thân
mạng cứu nguy bồ câu kia, huống chi nay Ta đã thành Như lai, há lại có
thể bỏ đứa trẻ này cho ngươi ăn thịt! Ác quỷ, nay ngươi có dùng hết thần
lực của ngươi, Ta quyết không trao đứa trẻ này cho ngươi. Thế nào, ác
quỷ, thời Phật Ca-diếp ngươi đã từng làm Sa-môn tu trì phạm hạnh, sau
lại phạm giới sanh làm ác quỷ này.”
Bấy giờ, ác quỷ nương vào oai thần
của Phật, liền nhớ lại những viêc đã làm đời trước. Ác quỷ bèn đến chỗ
Thế tôn, đảnh lễ sát chân, và nói như vầy:
“Nay con là người ngu si không
phân biệt chân nguỵ, mới sanh tâm này đối với Như lai. Cúi xin Thế tôn
nhận sự sám hối của con.”
Như vậy ba, bốn lần.
Thế tôn bảo:
“Cho phép ngươi hối lỗi, đừng tái
phạm nữa.”
Bấy giờ, Thế tôn vì quỷ Tỳ-sa
thuyết pháp vi diệu khiến sinh hoan hỷ. Sau đó, ác quỷ kia tự tay dâng
lên Thế tôn hàng ngàn lạng vàng, bạch Thế tôn: “Nay con đem hang núi này
cúng dường chiêu-đề-tăng, cúi xin đức Thế tôn vì con mà thọ nhận nó và
hàng ngàn lạng vàng này.”
Nó nói ba lần như vậy.
Bấy giờ, Thế tôn liền tiếp nhận
hang núi này, rồi nói kệ này:
Thí vườn trái mát mẻ;
Làm cầu bắc ngang sông.
Hoặc giả làm thuyền lớn;
Cùng các đồ nuôi sống;
Ngày đêm không lười mỏi,
Được phước không thể lường.
Pháp nghĩa, giới thành tựu
Chết rồi được sanh Thiên.
Khi đó, quỷ kia bạch Thế tôn:
“Không biết Thế tôn còn có gì chỉ
dạy?”
Thế tôn bảo:
“Nay ngươi bỏ hình cũ của ngươi,
mặc ba y làm Sa-môn,
[616c1]
vào thành Bạt-kỳ, đến bất kỳ nơi chốn nào, nói lời dạy này: ‘Các hiền
nên biết, Như lai xuất hiện ở đời, hàng phục người chưa được hàng phục,
độ người chưa được độ, giải thoát người chưa được giải thoát, cứu hộ
người chưa được cứu hộ, người mù làm mắt sáng, ở giữa chư thiên, người
đời, thiên long, quỷ thần, Ma hoặc Ma thiên, hoặc người, phi nhơn, Ngài
là bực tối tôn thượng, không ai sánh bằng, đáng kính, đáng quý, làm
ruộng phước lành cho loài người. Hôm nay, Ngài đã độ cậu bé Na-ưu-la và
hàng phục ác quỷ Tỳ-sa, các hiền có thể đến đó để được thọ giáo.”
Đáp:
“Kính vâng, Thế tôn!”
Bấy giờ, quỷ Tỳ-sa làm Sa-môn, mặc
ba pháp y, vào các đường hẻm trong làng, làm theo sự chỉ dạy này: “...
Hôm nay, Ngài đã độ cậu bé Na-ưu-la và hàng phục ác quỷ Tỳ-sa, các bạn
có thể đến đó để được thọ giáo.’
Vào bấy giờ, nhân dân trong nước
Bạc-kỳ sôi động. Lúc đó, trưởng giả Thiện Giác nghe những lời này rồi,
vui mừng hớn hở, không thể tự kiềm chế, dẫn tám vạn bốn ngàn người dân
đến chỗ đức Thế tôn. Đến nơi, đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một
bên. Khi ấy nhân dân trong thành Bạt-kỳ có người làm lễ sát chân Phật,
hoặc có người đưa cao tay lên chào.
Khi tám vạn bốn ngàn người đã đến
ngồi qua một bên, đức Thế tôn lần lượt nói pháp vi diệu cho họ; luận về
bố thí, luận về trì giới, luận về sanh thiên, dục là tưởng bất tịnh, là
hữu lậu, là tai hoạn lớn.
Rồi đức Thế tôn quán sát tâm tám
vạn bốn ngàn người dân kia, ý đã hoan hỷ. Như Pháp mà chư Phật Thế tôn
thường thuyết, khổ, tập, tận, đạo, Ngài cũng thuyết pháp này cho tám vạn
bốn ngàn người dân kia. Mọi người ngay trên chỗ ngồi sạch hết bụi trần,
được mắt pháp trong sạch, như áo trắng tinh dễ nhuộm ra màu. Tám vạn bốn
ngàn người dân này cũng vậy, rũ sạch bụi trần, được mắt pháp trong sạch,
được pháp, thấy pháp, phân biệt các pháp, không có nghi ngờ, đạt không
chỗ sợ, tự quy y tam tôn: Phật, Pháp, Thánh chúng và thọ năm giới.
Bấy giờ, trưởng giả cha của
Na-ưu-la bạch Thế tôn:
“Cúi xin đức Thế tôn nhận lời
thỉnh của con.”
Đức Thế tôn im lặng nhận lời.
Sau khi trưởng giả đó thấy Thế tôn
đã im lặng nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, lui
trở về nhà. Sắp đặt các thứ đồ ăn thức uống, ngần ấy hương vị. Sáng sớm
tự báo đến giờ.
Khi ấy đến giờ, Thế tôn khoác y,
cầm bát, vào thành Bạt-kỳ, đi đến nhà trưởng giả, chỗ trên ngồi dọn sẵn.
[617a1]
Khi trưởng giả thấy Thế tôn đã
ngồi an vị, bèn tự tay rót nước, châm sớt vô số đồ ăn thức uống. Sau khi
thấy Thế tôn ăn xong, dùng nước rửa, ông lấy một chiếc ghế ngồi trước
Như lai, bạch Thế tôn:
“Lành thay, Thế tôn! Nếu chúng bốn
bộ cần y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, ngọa cụ, thuốc men trị bệnh,
đều đến nhà con lấy.”
Thế tôn bảo:
“Được, Trưởng giả. Như lời ông
nói.”
Thế tôn liền nói pháp vi diệu cho
trưởng giả. Thuyết pháp xong, Ngài rời chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
Bấy giờ, trong khoảng như lực sĩ
co duỗi cánh tay, Thế tôn biến khỏi Bạt-kỳ trở về lại đến tinh xá
Kỳ-hoàn tại Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
“Nếu chúng bốn bộ cần y phục, đồ
ăn thức uống, giường nằm, ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, đến nhà trưởng
giả cha Na-ưu-la lấy.”
Bấy giờ, Thế tôn lại bảo các
tỳ-kheo:
“Hiện nay, như Ta, đệ tử đứng đầu
trong hàng ưu-bà-tắc không gì lẫn tiếc đó chính là cha của Na-ưu-la.”
Các tỳ-kheo sau khi nghe những gì
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn
Ni-câu-lưu, giữa những người họ Thích,
cùng với năm trăm đại tỳ-kheo.
Bấy giờ, có hàng ngàn người thuộc
hào tộc của họ Thích đến chỗ Thế tôn. Đến nơi, đảnh lễ sát chân Phật,
rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ những người họ Thích bạch
Phật:
“Nay Ngài nên làm vua cai trị đất
nước này, để dòng họ chúng ta không bị mục nát, không để ngôi Chuyển
Luân Thánh vương đến Ngài thì đoạn tuyệt. Nếu Thế tôn không xuất gia,
Ngài sẽ là Chuyển Luân Thánh vương ở trong thiên hạ, thống lãnh bốn
thiên hạ, có đủ ngàn người con. Dòng họ của chúng ta nổi danh khắp nơi,
rằng Chuyển Luân Thánh vương xuất hiện trong dòng họ Thích. Vì vậy, Thế
tôn, Ngài hãy làm vua cai trị, đừng để dòng vua dứt mất.”
Thế tôn bảo:
“Nay Ta chính là thân vua, gọi là
Pháp vương. Vì sao vậy? Nay Ta hỏi các ngươi. Thế nào, các vị họ Thích,
nói rằng Chuyển Luân Thánh vương là có đầy đủ thất bảo, ngàn người con
trai dõng mãnh. Nay Ta, ở trong ba ngàn đại thiên sát-độ, là tối tôn
thượng, không ai có thể sánh bằng, thành tựu bảo bảy giác ý, có vô số
hàng ngàn người con là các Thanh văn hầu quanh.”
Bấy giờ đức Thế tôn liền nói kệ
này:
Ngôi vị kia làm gì?
Được rồi, sau lại mất.
[617b1]
Ngôi này tối tôn
thắng,
Không tận cùng, khởi thủy.
Chiến thắng không thể đọat:
Chiến thắng này ltối thắng.
Phật có vô lượng hành,
Không dấu; ai thấy dấu?”
“Cho nên, các vị Thích chủng hãy
tìm phương tiện cai trị bằng chánh pháp. “Các vị Thích chủng phải học
những điều này như vậy.”
Các vị Thích chủng sau khi nghe
những gỉ Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Khi đó có một tỳ-kheo đến chỗ Thế
tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ tỳ-kheo kia bạch
Phật:
“Có sắc nào mà thường còn, không
biến dịch, còn mãi ở thế gian, cũng không di động? Có thọ*, tưởng, hành,
thức mà thường còn, không biến dịch, còn mãi ở thế gian, cũng không di
động?”
Thế tôn bảo:
“Này Tỳ-kheo, không có sắc nào mà
thường còn, không biến dịch, còn mãi ở thế gian, cũng không di động.
Cũng không có thọ*, tưởng, hành, thức nào mà thường còn, không biến
dịch, còn mãi ở thế gian, cũng không di động.
“Tỳ-kheo, nếu có sắc này, thường
còn, không biến dịch, còn mãi ở thế gian; người phạm hạnh không được
phân biệt.
Hoặc thọ, tưởng, hành, thức tồn tại mãi ở thế gian không biến dịch;
người phạm hạnh không được phân biệt. Cho nên, Tỳ-kheo, vì sắc (không
thể phân biệt),
không còn mãi ở thế gian, cho nên người phạm hạnh mới được phân biệt để
diệt tận gốc khổ. Cũng không có thọ*, tưởng, hành, thức nào mà còn mãi ở
thế gian, cho nên phạm hạnh mới được phân biệt để diệt tận gốc khổ.”
Bấy giờ đức Thế tôn lấy một ít đất
bỏ lên móng tay, rồi nói với tỳ-kheo kia:
“Sao, Tỳ-kheo, có thấy đất trên
móng tay này không?”
Tỳ-kheo đáp:
“Dạ vâng, Thế tôn, con đã thấy.”
Phật bảo tỳ-kheo:
“Nếu có sắc chỉ nhiều ngần ấy mà
thường hằng tồn tại ở thế gian; người phạm hạnh không được phân biệt
được diệt tận khổ. Cho nên, Tỳ-kheo, vì không có sắc ngần ấy mà thường
tại nên có hành phạm hạnh để diệt tận gốc khổ.
“Sở dĩ như vậy, Tỳ-kheo nên biết,
xưa ta từng làm Đại vương, thống lãnh bốn thiên hạ, dùng pháp để trị
hóa, thống lãnh nhân dân, bảy báu đầy đủ. Bảy báu là bánh xe báu, voi
báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu, điển binh báu.
“Tỳ-kheo nên biết, vào lúc bấy
giờ, khi Ta làm
[617c1]
Chuyển Luân Thánh Vương này, thống lãnh bốn thiên hạ, có tám vạn bốn
ngàn voi thần, voi tên bồ-hô. Lại có tám vạn bốn ngàn xe có gắn lông
chim,
có xe dùng da sư tử phủ, có xe dùng da chó sói phủ, thảy đều treo tràng
phan, lọng cao. Lại có tám vạn bốn ngàn đài cao rộng, giống như chỗ ở
của Thiên Đế. Lại có tám vạn bốn ngàn giảng đường, giống như Pháp giảng
đường.
Lại có tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, giống như thiên nữ. Lại có tám vạn bốn
ngàn tòa rộng lớn, thảy đều được cân bằng vàng, bạc, bảy báu. Lại có tám
vạn bốn ngàn y phục, trang sức, đều là màu sắc đẹp mềm mại. Lại có tám
vạn bốn ngàn đồ đựng thức ăn uống, bao nhiêu là hương vị khác nhau.
“Tỳ-kheo nên biết, bấy giờ ta cỡi
một con voi lớn, màu trắng tinh, miệng đẹp có sáu ngà, được trang sức
bằng vàng, bạc, có thể bay đi, cũng có thể ẩn hình hoặc lớn hoặc nhỏ,
voi tên Bồ-hô.
Ta bấy giờ cỡi một con ngựa thần, lông đuôi màu son đỏ, khi đi thân
không lắc, thân trang sức vàng bạc, có thể bay đi, cũng có thể ẩm hình,
hay có thể biến lớn biến nhỏ. Ngựa tên mao vương.
Lúc bấy giờ, Ta sống tại một lâu đài trong số tám vạn bốn ngàn tòa lâu
đài cao rộng. Lâu đài này tên là Tu-ni-ma,
hoàn toàn làm bằng vàng. Bấy giờ Ta nghỉ đêm trong một giảng đường.
Giảng đường tên là Pháp thuyết, hoàn toàn làm bằng vàng. Bấy giờ Ta đi
trên một chiếc xe có gắn lông chim.* Xe tên là Tối thắng,
được làm toàn bằng vàng. Bấy giờ Ta dẫn một ngọc nữ theo bên mình sai
khiến cũng giống như chị em. Bấy giờ Ta ngồi trên một tòa trong số tám
vạn bốn ngàn tòa cao rộng, vàng bạc anh lạc không thể kể xiết. Bấy giờ
Ta mặc một bộ y phục mềm dịu giống như Thiên y. Những thức Ta ăn có vị
như cam lồ.
“Vào lúc Ta đang làm Chuyển Luân
Thánh Vương, có tám vạn bốn ngàn voi thần, sáng nào cũng kéo tới ngoài
cửa thành, gây hại rất nhiều, không thể kể xiết. Lúc đó Ta nghĩ thế này:
‘Tám vạn bốn ngàn voi thần này, sáng nào cũng đi tới ngoài cửa thành gây
hại rất nhiều, không thể kể xiết. Nay trong ý ta muốn chia làm hai phần.
Bốn vạn hai ngàn sáng nào cũng đến nghinh giá.’
“Các tỳ-kheo, bấy giờ Ta nghĩ thế
này: ‘Xưa, Ta đã tạo phước gì, mà nay được oai lực này?’ Cho đến, Ta lại
nghĩ: ‘Do ba nguyên nhân khiến ta được phước lành này. Những gì là ba?
Đó là huệ thí, nhơn từ và, tự
[618a1]
thủ hộ.
“Tỳ-kheo, hãy quán sát, các hành
bấy giờ hoàn toàn bị diệt tận không còn tàn dư. Sống vui thú trong với
dục ý bấy giờ không nhàm chán. Nhưng lại nhàm chán giới luật Hiền thánh.
“Sao, tỳ-kheo, sắc này thường hay
vô thường?”
Tỳ-kheo đáp:
“Vô thường, bạch Thế tôn!”
“Nếu vô thường, là pháp biến đổi,
ngươi có nên sanh tâm này: ‘Cái này là của ta; ta là của cái này’
không?”
Đáp:
“Không, bạch Thế tôn!”
“Thọ, tưởng, hành, thức là thường
hay vô thường?”
Tỳ-kheo đáp:
“Vô thường, bạch Thế tôn!”
“Nếu là vô thường thì là pháp biến
đổi, ngươi có nên sanh tâm này: ‘Cái này là của ta; ta là của cái này’
không?”
Đáp:
“Không, bạch Thế tôn!”
“Cho nên, này Tỳ-kheo, những gì là
sắc, hoặc quá khứ, tương lai, hiện tại, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc tốt hoặc
xấu, hoặc xa hoặc gần; sắc nầy chẳng phải của ta, ta không phải của sắc
này. Như vậy được giác tri
bởi người trí.
Những gì là thọ hoặc quá khứ, tương lai, hiện tại, hoặc xa hoặc gần; thọ
này cũng chẳng phải của ta, ta không phải của thọ này. Như vậy được giác
tri bởi người trí.
“Tỳ-kheo, hãy quán như vầy: hàng
Thanh văn nhàm tởm mắt, nhàm tởm sắc, nhàm tởm thức con mắt, cũng nhàm
tởm khổ lạc phát sanh do duyên thức con mắt; cũng nhàm tởm tai, nhàm tởm
thanh, nhàm tởm thức của tai, cũng nhàm tởm khổ lạc phát sanh do duyên
thức của tai; cũng nhàm tởm mũi, lưỡi, thân, ý và pháp, cũng nhàm tởm
khổ lạc phát sanh do duyên bởi ý. Đã nhàm tởm, được giải thoát. Đã giải
thoát, được trí giải thoát, biết như thực rằng, sanh tử đã dứt, phạm
hạnh đã lập, việc cần làm đã xong, không còn tái sinh nữa.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia được Thế tôn
chỉ dạy như vậy, ở nơi vắng vẻ, tự tu, tư duy, vì mục đích mà thiện gia
nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, lìa bỏ gia đình, tu vô thượng phạm
hạnh, cho đến, như thực biết rằng, sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập,
việc cần làm đã xong, không còn tái sinh nữa, biết như thật. Tỳ-kheo kia
đã thành A-la-hán.
Tỳ-kheo kia sau khi nghe Phật
thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở dưới bóng cây
đạo tràng, nước Ma-kiệt, lúc mới thành Phật.
Bấy giờ Thế tôn nghĩ như vầy: “Nay
Ta đã được pháp thật sâu xa này, khó rõ, khó tường, khó hiểu, khó biết,
rất là vi diệu,
[618b1]
được giác tri bởi bực trí. Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước nhất, để
người đó rõ được pháp của Ta?”
Rồi Thế tôn lại nghĩ:
“La-lặc-ca-lam,
với các căn đã thuần thục, đáng được độ trước. Vả lại, ông ấy đang trông
đợi Ta có Pháp.” Vừa nghĩ như vậy, tức thì giữa hư không có vị trời bạch
Thế tôn rằng:
“La-lặc Ca-lam đã chết bảy ngày
rồi.”
Bấy giờ, Thế tôn lại nghĩ: “Khổ
thay, sao người ấy chưa nghe được Pháp của Ta mà đã chết rồi! Giả sử
người ấy nếu nghe được pháp |