增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
25. PHẨM
TỨ ĐẾ
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
“Nên tu
tập pháp bốn đế. Những gì là tứ? Thứ nhất là Khổ đế, mà nghĩa không thể
tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô tận. Thứ hai là Khổ tập đế, mà
nghĩa không thể tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô tận. Thứ ba là
Khổ tận đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩa không thể cùng, thuyết pháp vô
tận. Thứ tư là Khổ xuất yếu đế, mà nghĩa không thể tận, nghĩa không thể
cùng, thuyết pháp vô tận.
“Thế
nào là Khổ đế? Khổ đế, là khổ bởi sanh, khổ bởi già, khổ bởi bệnh, khổ
bởi chết, khổ bởi buồn lo phiền não, khổ bởi oán ghét gặp nhau, khổ bởi
ân ái bị chia lìa, khổ bởi những gì cầu mà không được, nói tóm lại là
khổ bởi năm thạnh ấm.
Đó gọi là sự thật về khổ.
“Thế
nào là Khổ tập đế? Tập đế, là ái tương ưng với dục, tâm thường nhiễm
đắm. Đó gọi là khổ tập đế.
“Thế
nào là Khổ tận đế? Tận đế, là dục ái bị diệt tận không còn tàn dư, không
tái sanh khởi. Đó gọi là Khổ tận đế.
“Thế
nào là Khổ xuất yếu đế? Khổ xuất yếu, là tám phẩm đạo Hiền thánh. Nghĩa
là chánh kiến, chánh trị, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh
phương tiện, chánh niệm, chánh tam-muội. Đó gọi là Khổ xuất yếu đế.
“Đó gọi
là, này Tỳ-kheo, có bốn đế này là thật hữu, không hư dối, là điều mà Thế
tôn nói, cho nên gọi là đế. Trong các loài chúng sanh hai chân, bốn chân
ở cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, Như Lai là tối
thượng, đã thành tựu bốn đế này, nên gọi là bốn đế.
“Đó gọi là, này các Tỳ-kheo, có bốn đế mà do không
giác tri nên sống chết xoay vần mãi trong năm nẻo. Nay Ta do đạt được
bốn đế này, từ bờ này đến bờ kia, thành tựu [631b01]
nghĩa này, đoạn trừ cội gốc sinh tử, như thực biết rằng không còn tái
sinh nữa.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Nay có pháp bốn đế,
Nếu không như thật biết,
Luân hồi trong sinh tử,
Quyết không được giải thoát.
Như nay có tứ đế,
Đã giác, đã hiểu rõ,
Nên đoạn gốc sinh tử,
Cũng không còn tái sinh.
“Nếu có chúng bốn bộ nào không được đế này, không
giác, không tri, sẽ đọa vào năm nẻo. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm
cầu phương tiện thành tựu bốn đế này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như
vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
“Có bốn pháp này, lợi ích nhiều cho mọi người.
Những gì là bốn? Pháp thứ nhất là nên gần gũi thiện tri thức. Thứ hai là
nên nghe pháp. Thứ ba là nên biết pháp. Thứ tư là nên phân minh pháp và
pháp tướng. Đó gọi là, này Tỳ-kheo có bốn pháp này, lợi ích nhiều cho
mọi người.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện
thành tựu bốn pháp này. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ
3
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan:
“Nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, khi ấy có bốn
pháp vị tằng hữu
xuất hiện ở đời. Những gì là bốn? Các loài chúng sanh này bị nhiều đắm
nhiễm. Nếu khi nói pháp không đắm nhiễm, chúng cũng vâng lãnh, niệm
tưởng tu hành, tâm không xa lìa. Đó là pháp vị tằng hữu thứ nhất xuất
hiện ở đời, nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, có bốn pháp vị tằng hữu này
xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này luôn luân chuyển
không dừng trong năm nẻo. Giả sử Ta muốn nói pháp, chúng cũng vâng lãnh,
tâm không xa lìa. Nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, có pháp vị tằng hữu
thứ hai này xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này thường ôm lòng
kiêu mạn, không rời đầu mối tâm. Giả sử Ta nói pháp, chúng cũng vâng
lãnh, tâm không xa [631c01]
lìa. Này A-nan, chúng sanh này thường ôm lòng kiêu mạn, không bỏ chốc
lát nào. Giả sử khi Ta nói pháp, chúng cũng vâng lãnh. Đó gọi là pháp
chưa từng có thứ ba xuất hiện ở đời.
“Lại nữa, A-nan, chúng sanh này bị vô minh che
kín. Giả sử khi Ta nói pháp minh, chúng cũng vâng lãnh mà không quên
mất. Lại nữa, này A-nan, nếu khi Ta nói pháp minh, vô minh này, mà tâm ý
chúng nhu hòa luôn thích tu hành; đó gọi là, này A-nan, khi Như Lai xuất
ở đời, có pháp vị tằng hữu thứ tư này xuất hiện ở đời.
“Nếu lúc Như Lai
đang hiện tại, khi ấy có bốn pháp vị tằng hữu này xuất hiện ở đời. Cho
nên, này A-nan, hãy phát tâm hoan hỷ hướng về Như Lai. A-nan, hãy học
điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói về gánh nặng, cũng sẽ nói về người
mang gánh nặng, cũng sẽ nói về nhân duyên của gánh nặng, và cũng sẽ nói
về sự buông gánh nặng.
Các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ. Nay Ta sẽ nói.”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Kính vâng, Thế Tôn!”
Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy như vậy. Thế Tôn
bảo:
“Thế nào là gánh nặng? Đó là năm thạnh ấm. Thế nào
là năm? Sắc, thọ*, tưởng, hành, thức ấm. Đó gọi là gánh nặng.
“Thế nào là người mang gánh? Người mang gánh, đó
là thân người, tự gì, tên gì, sinh như vậy, thức ăn như vậy, thọ khổ lạc
như vậy, tuổi thọ ngắn dài như vậy. Đó gọi là người mang gánh.
“Thế nào là nhân duyên của gánh nặng?
Nhân duyên của gánh nặng, đó là nhân duyên bởi ái trước câu hữu với dục,
tâm không xa lìa.
Đó gọi là nhân duyên gánh.
“Thế nào là buông gánh nặng? Ái kia đã khiến bị
diệt tận không còn tàn dư, đã trừ, đã nhổ ra. Đó gọi là buông gánh nặng.
“Như vậy, Tỳ-kheo, nay Ta đã nói về gánh nặng, đã
nói về nhân duyên của gánh nặng, đã nói về người mang gánh nặng, đã nói
về buông gánh nặng. Những gì Như Lai cần làm, nay Ta đã làm xong. Hãy ở
dưới cây, chỗ nhàn tịnh, ngồi ngoài trời, hằng niệm tọa thiền, chớ có
buông lung.”
Bấy giờ Thế Tôn liền nói bài kệ:
Hãy niệm bỏ gánh nặng,
Chớ tạo gánh mới nữa.
[631c29] Gánh
là bệnh thế gian,
Buông gánh, lạc đệ nhất.
Ái kết cũng đã trừ,
Phi pháp hành cũng xả;
Vĩnh viễn xa ly đây,
Không còn tái sinh nữa.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện
buông xả gánh nặng. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại sinh. Những là bốn? Sinh từ trứng,
sinh từ thai, sinh từ ẩm, sinh từ hóa.
“Thế nào là sinh từ trứng? Sinh ra từ trứng, các
loại như gà, chim, quạ, bồ câu, khổng tước, rắn, cá, kiến; thảy đều là
sinh trứng. Đó gọi là sinh trứng.
“Thế nào là sinh từ thai? Người cùng súc sinh, đến
loài vật hai chân. Đó gọi là sinh từ thai.
“Thế nào là sinh từ nhân duyên?
Những con trùng được sinh từ trong thịt rữa, trùng trong nhà xí, trùng
trong thây chết; thảy đều được gọi là sinh từ nhân duyên.
“Thế nào là sinh từ hóa? Đó là các loại trời, địa
ngục, ngạ quỉ, hoặc người, hoặc súc sanh. Đó gọi là sinh từ hóa.
“Đó gọi là, này Tỳ-kheo, có bốn loại sinh này. Các
Tỳ-kheo lìa bỏ bốn loại sinh này, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu pháp
bốn đế. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả
Mục-kiền-liên ở Ca-lan-đa, trong vườn Trúc, thành La-duyệt.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Thế gian có bốn hạng người này. Những gì là bốn?
Thứ nhất, người có kết tiềm phục; bên trong có kết mà không biết như
thật có.
Hoặc người có kết tiềm phục; bên trong có kết mà biết như thật có. Hay
người không có kết sử tiềm phục; bên trong không có kết mà không biết
như thật là không có. Hoặc người không có kết sử tiềm phục; bên trong
không kết mà biết như thật là không có.
“Các Hiền giả nên biết, hạng người thứ nhất có kết
tiềm phục; bên trong có kết mà không biết; trong hai người có kết này,
người này rất thấp hèn. Người thứ hai có kết tiềm phục; bên trong có kết
mà biết như thật [632b01]
có, người này thật là tối ưu. Người thứ ba không có kết tiềm phục; bên
trong không có kết mà không biết như thật; trong hai người không có kết,
người này rất là thấp hèn. Người thứ tư không có kết sử tiềm phục; bên
trong không kết mà biết như thật; trong người không có kết, thì người
này là thật là đệ nhất.
«Các
Hiền giả, nên biết, thế gian có bốn hạng người này.»
Bấy giờ Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi Xá-lợi-phất:
«Vì lý
do gì người cùng có kết tiềm phục, mà một người thì thấp hèn, một người
thì tối ưu? Lại vì lý do gì, hai người không kết tiềm phục này, một
người thì thấp hèn, một người thì tối ưu?»
Xá-lợi-phất đáp:
«Người
có kết tiềm phục, không biết như thật bên trong có kết, người kia tự
nghĩ, ‘ta đang có tưởng tịnh.’ Người ấy tư duy có tưởng tịnh. Lúc đang
có tưởng tịnh, tâm dục khởi. Khi tâm dục khởi, người ấy mạng chung với
tâm tham dục, sân nhuế, ngu si. Người ấy đã không tìm cầu phương tiện
diệt tâm dục này, mà mạng chung với tâm sân nhuế, ngu si.
“Mục-liên nên biết, giống như có người đến chợ mua
được đồ đồng, bụi bặm bám bẩn, rất là bất tịnh. Người kia không tùy thời
chịu lau chùi, không tùy thời rửa sạch, đồ đồng kia càng ngày càng thêm
ố bẩn, rất là bất tịnh. Người thứ nhất này cũng như vậy, cáu bẩn bám
theo, bên trong có kết mà không biết như thật. Người kia tự nghĩ: ‘Ta sẽ
tư duy tưởng tịnh.’
Khi tư duy tưởng tịnh, tâm dục sinh. Khi tâm dục sinh, không tìm cầu
phương tiện diệt tâm dục này, người ấy mạng chung với tâm tham dục, sân
nhuế, ngu si.
“Người thứ hai kia có kết tiềm phục, mà biết như
thật bên trong có kết. Người ấy nghĩ: ‘Nay ta sẽ xả bỏ tưởng tịnh, tư
duy tưởng bất tịnh.’ Người kia xả bỏ tưởng tịnh, tư duy tưởng bất tịnh.
Khi tư duy tưởng bất tịnh, tâm dục không sinh, tìm cầu phương tiện chứng
đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, thành tựu
những gì chưa thành tựu, bèn không còn tham dục, sân nhuế, ngu si. Người
ấy mạng chung mà không có kết.
“Giống như có người từ trong chợ mua được đồ đồng
dính bám bụi bẩn. Người kia tùy thời lau chùi, tẩy rửa sạch sẽ. Người
này cũng như vậy, có kết tiềm phục, mà biết như thật bên trong có kết.
Người này liền bỏ tưởng tịnh, tư duy tưởng bất tịnh. Khi tư duy tưởng
bất tịnh, người ấy tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng
đắc, đạt được những gì chưa đạt được, [632b29]
tác chứng những gì chưa tác chứng. Người này mạng chung với tâm không
dục, không sân nhuế, không ngu si. Này Mục-liên, đó gọi là có hai hạng
người có kết tiềm phục này, một người hèn hạ, một người tối ưu.”
Mục-liên nói:
“Lại vì lý do gì khiến hai hạng người không có kết
tiềm phục này, một người hèn hạ, một người lại tối ưu?”
Xá-lợi-phất nói:
“Hạng người thứ ba không có kết tiềm phục kia, mà
không biết như thật bên trong không có kết. Người ấy không tự tư duy
rằng: ‘Ta tìm cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt
được những gì chưa đạt được, tác chứng những gì chưa tác chứng.’ Người
kia mạng cung với tâm bị trói buộc bởi dục, sân nhuế, ngu si.
“Giống như có người đến chợ mua đồ đồng không
bị dính bụi bẩn, nhưng không tùy thời lau chùi, cũng không tùy thời tẩy
rửa. Người thứ ba này cũng như vậy, không có kết tiềm phục, mà không
biết như thật bên trong không kết, cũng không học điều này: ‘Ta nên tìm
cầu phương tiện diệt trừ các kết này.’ Người ấy mạng chung với tâm tham
dục, sân nhuế, ngu si.
“Hạng người thứ tư không câu hữu với kết, mà biết
như thật bên trong không kết. Người kia tự tư duy tìm cầu phương tiện
chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì chưa đạt được, tác
chứng những gì chưa tác chứng. Người kia mạng chung mà không có kết này.
“Giống như có người đến chợ mua được đồ đồng tốt,
rất là tinh sạch, lại thêm tùy thời chăm sóc lau rửa đồ này. Bấy giờ, đồ
kia lại càng sạch đẹp. Người thứ tư này lại cũng như vậy, không có kết
tiềm phục, biết như thật bên trong không kết. Người kia tự tư duy tìm
cầu phương tiện chứng đắc những gì chưa chứng đắc, đạt được những gì
chưa đạt được, tác chứng những gì chưa tác chứng. Người kia thân hoại
mạng chung không có kết sử tham dục, sân nhuế, ngu si. Này Mục-liên, đó
gọi là có hai hạng người này, không có kết tiềm phục, (mà biết nó như
thật bên trong không kết,)
nhưng một người thì cao quí, một người thì hèn hạ.”
Bấy giờ, Tôn giả Mục-liên hỏi Xá-lợi-phất:
“Vì sao gọi là kết?”
Xá-lợi-phất nói:
“Mục-liên, nên biết, pháp ác bất thiện, khởi các
tà kiến, đó gọi là kết.
“Hoặc lại có người nghĩ như vầy, ‘Mong Như Lai hỏi
nghĩa ta trước, sau đó mới nói pháp cho các Tỳ-kheo. Chứ Như Lai không
hỏi nghĩa Tỳ-kheo khác, mà nói pháp cho các Tỳ-kheo.’ Nhưng lại có lúc
Thế Tôn nói với Tỳ-kheo khác mà thuyết pháp, chứ không nói với Tỳ-kheo
kia. (Người ấy bèn nghĩ)
[633a01]
‘Như Lai thuyết pháp. Nhưng Như Lai không nói với ta mà lại thuyết pháp
cho các Tỳ-kheo.’ Do vậy, hoặc có bất thiện, hoặc có tham dục. Đã có bất
thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Mong khi
vào thôn khất thực ta thường đi phía trước các Tỳ-kheo. Chớ để Tỳ-kheo
khác đi phía trước các Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực.’ Nhưng có lúc
Tỳ-kheo khác đi phía trước khi vào thôn khất thực, không để Tỳ-kheo kia
đi phía trước các Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực. (Tỳ-kheo ấy bèn nghĩ:)
‘Ta không đi phía trước Tỳ-kheo khi vào thôn khất thực.’ Đã có bất
thiện, lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Mục-liên, nên biết, hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như
vầy: ‘Mong ta ngồi phía trước Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn
trước; chớ để Tỳ-kheo khác ngồi trước Tỳ-kheo, nhận nước trước, được
thức ăn trước.’ Nhưng lại có Tỳ-kheo khác ngồi phía trước Tỳ-kheo, nhận
nước trước, được thức ăn trước, không để Tỳ-kheo kia ngồi trước các
Tỳ-kheo, nhận nước trước, được thức ăn trước. (Tỳ kheo ấy bèn nghĩ:) ‘Ta
không ngồi phía trước Tỳ-kheo; không nhận nước trước, không được thức ăn
trước.’ Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Mong khi
ăn xong, ta nói pháp cho đàn việt. Chớ để Tỳ-kheo khác nói pháp cho đàn
việt sau khi ăn xong.’ Nhưng có lúc Tỳ-kheo khác nói pháp cho đàn việt
sau khi ăn xong, chứ không để cho Tỳ-kheo kia nói pháp cho đàn việt sau
khi ăn xong. (Tỳ-kheo ấy bèn nghĩ:) “Ta không được thuyết pháp cho đàn
việt sau khi ăn xong.’ Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất
thiện.
“Hoặc lại có lúc, Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Mong ta
đến nói pháp cho Trưởng giả, Bà-la-môn ở trong vườn.
Chớ để cho Tỳ-kheo khác đến nói pháp cho Trưởng giả, Bà-la-môn ở trong
vườn. Nhưng có lúc Tỳ-kheo khác đến trong vườn nói pháp cho Trưởng giả,
Bà-la-môn, không để Tỳ-kheo ấy đến trong vườn nói pháp cho Trưởng giả,
Bà-la-môn. (Tỳ kheo ấy bèn nghĩ:) ‘Ta không đến trong vườn nói pháp cho
Trưởng giả, Bà-la-môn.’ Đã có bất thiện, lại có tham dục, cả hai đều bất
thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Nay ta phạm
giới. Cầu mong các Tỳ-kheo không biết ta phạm giới.’ Nhưng lại có lúc
Tỳ-kheo kia phạm giới, mà các Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo này phạm giới. Đã có
bất thiện lại có tham dục, cả hai đều [633b01]
bất thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Nay ta phạm
giới. Chớ để Tỳ-kheo khác nói rằng ta phạm giới.’ Nhưng lại có lúc,
Tỳ-kheo ấy phạm giới, Tỳ-kheo khác nói Tỳ kheo ấy phạm giới. (Tỳ-kheo ấy
nghĩ rằng:) ‘Các Tỳ-kheo khác nói ta phạm giới.’ Đã có bất thiện lại có
tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc lại có lúc Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: ‘Nay ta
phạm giới. Mong Tỳ-kheo thanh tịnh nói với ta; không để Tỳ-kheo không
thanh tịnh nói với ta.’
Nhưng lại có lúc Tỳ-kheo không thanh tịnh nói Tỳ-kheo kia rằng Tỳ-kheo
kia phạm giới. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả hai đều bất thiện.
“Hoặc có lúc Tỳ-kheo nghĩ như vầy: ‘Nay ta phạm
giới, nếu có Tỳ-kheo nào nói với ta, nên ở nơi khuất kín, không ở giữa
đại chúng.’ Nhưng lại có lúc, Tỳ-kheo kia phạm giới, bị nói tội ở giữa
đại chúng, không ở nơi khuất kín. Đã có bất thiện lại có tham dục, cả
hai đều bất thiện.
«Mục-liên,
nên biết, gốc của các pháp này khởi dậy các hành vi này, gọi là kết sử.
“Mục-liên, lại nên biết, những ai trong chúng bốn
bộ mà phạm các hành vi, mọi người đều nghe, đều biết phạm, tuy người đó
có nói rằng tôi hành A-lan-nhã, sống ở nơi nhàn tịnh, và ngay dù có
khoác y năm mảnh, thường hành khất thực không lựa giàu nghèo, đi không
thô tháo, qua lại, đi dừng, nằm ngồi, động tịnh, nói năng, im lặng.
Nhưng Tỳ-kheo ấy lại nghĩ như vầy:
‹Mong Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tư, các vị phạm hạnh luôn đến cung kính cúng dường ta.›
Tỳ-kheo ấy tuy có nghĩ vậy, song cũng không được chúng bốn bộ tùy thời
cung kính cúng dường. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia có ác, bất thiện hành chưa
được trừ, mà mọi người đều thấy, đều nghe, đều niệm, đều biết.
Giống như người có đồ đồng thật sạch sẽ; lại đựng
đầy đồ bất tịnh trong bình đồng, rồi dùng đồ khác phủ lên rồi mang đi
vào quốc giới. Mọi người thấy hỏi người kia rằng:
‹Anh
mang vật gì vậy? Chúng tôi muốn được thấy qua.›
Khi ấy mọi người vốn đã đói kém, kêu lên
rằng: ‹Ồ! Đây là đồ ăn thức
uống ngon.› Rồi họ mở nắp đậy ra, mọi người đều trông thấy đồ bất tịnh.
Ở đây, Tỳ-kheo cũng lại như vậy. Tuy có hành A-lan-nhã, tùy thời khất
thực, mặc y năm mảnh, chánh thân chánh ý, buộc niệm ở trước. Người ấy
tuy có ý nghĩ này: ‹Mong sao các vị phạm hạnh tùy thời đến cung kính
cúng dường.’ Nhưng [633c01]
các vị phạm hạnh lại không tùy thời cung kính cúng dường. Vì sao? Vì
Tỳ-kheo kia có pháp ác, bất thiện, kết sử, mà chưa diệt tận.
«Mục-liên, nên biết, những Tỳ-kheo nào không có
pháp ác, bất thiện; kết sử đã diệt tận, mà mọi người đều thấy, đều nghe,
đều niệm, đều biết; vị ấy dù sống bên thành ấp cũng vẫn là người trì
pháp. Hoặc được người thỉnh mời, hoặc nhận được sự cúng dương của các
Trưởng giả. Nhưng Tỳ-kheo ấy không có tưởng tham dục này. Khi ấy chúng
bốn bộ và các người phạm hạnh đều đến cúng dường. Vì sao? Vì hành vi của
Tỳ-kheo kia thanh tịnh, mà mọi người đều thấy, đều nghe, đều niệm, đều
biết.
“Giống như người có bình đồng tốt, đựng đầy đồ ăn
thức uống, mùi vị rất thơm, lại lấy nắp đậy lên, rồi mang đi vào quốc
giới. Mọi người thấy, hỏi người kia rằng: ‹Đây là vật gì? Chúng tôi muốn
được xem qua.’ Rồi sau đó mở ra xem, thấy đồ ăn thức uống, cùng lấy ăn.
Ở đây cũng như vậy, Tỳ-kheo được thấy, được nghe, được niệm, được biết,
tuy đi ở bên thành ấp nhận sự cúng dường của Trưởng giả, nhưng không
nghĩ: ‹Mong sao các vị phạm hạnh đến cúng dường.’ Tuy vậy, các vị phạm
hạnh đều đến cung kính cúng dường. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia có ác bất
thiện hành đã được tận trừ. Cho nên, Mục-liên do các hành này, nên gọi
là kết sử.”
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên khen:
“Lành thay, lành thay, Xá-lợi-phất! Sự việc như
vầy. Xưa kia tôi trú tại Ca-lan-đà, trong Trúc Lâm, thành La-duyệt này;
đến giờ, đắp y ôm bát vào thành La-duyệt khất thực, đến nhà thợ làm xe
kia, đứng im lặng ở ngoài cửa. Lúc ấy, người thợ kia tay cầm búa đẽo gỗ.
Bấy giờ lại có người thợ già, có chút việc đến nhà người thợ này. Khi
người thợ kia đang sửa bản gỗ thì người thợ già này nảy sinh ý nghĩ:
‹Người thợ trẻ đẽo gỗ này như ý ta chăng?› Nay ta phải xem qua. Lúc ấy,
những chỗ không vừa ý người thợ kia đã được người thợ này đẽo hết. Người
thợ già kia rất lấy làm hoan hỷ, nghĩ rằng: ‹Hay thay, hay thay! Bạn đẽo
gỗ thật là vừa ý ta.› Ở đây cũng như vậy, các Tỳ-kheo mà tâm không nhu
hòa, bỏ hạnh Sa-môn, ôm lòng gian ngụy, không theo pháp Sa-môn, tánh
hạnh thô tháo, không biết tàm quý, mặt trơ chịu nhục mà làm hành vi thấp
hèn, không có dũng mãnh, hoặc hay quên lãng nhiều, không nhớ những gì đã
làm, tâm ý không định, hành động [634a01]
nhầm lẫn, các căn không định; nhưng vị ấy nay được Tôn giả Xá-lợi-phất
quán sát tánh hạnh mà sửa chữa.
«Có nhiều vị thiện gia nam tử, do lòng tin kiên
cố, xuất gia học đạo, rất cung kính giới, không bỏ pháp Sa-môn hiền
thánh, không có huyễn ngụy, không hành thô tháo, tâm ý nhu hòa, nói luôn
nở nụ cười, không tổn thương ý người, tâm thường nhất định, không có thị
phi, các căn không loạn; những vị ấy nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói xong,
liền tự vâng lãnh, cũng không để quên sót.
“Giống như, hoặc có người nam hay người nữ nào
xinh đẹp vô song, tự tắm gội, mặc y phục mới, dùng hương thoa người. Lại
có người đem hoa ưu-bát đến tặng cho. Người kia được hoa, liền đội lên
đầu, vui mừng hớn hở không tự kiềm chế được. Ở đây cũng lại như vậy, nếu
có vị thiện gia nam tử nào, do lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo, đối
với giới cung kính, không để mất pháp Sa-môn, không có huyễn ngụy, không
hành thô tháo, tâm ý nhu hòa, nói luôn nở nụ cười, không tổn thương ý
người, tâm thường nhất định, không có thị phi, các căn không loạn. Người
ấy nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói những lời này rồi, lòng thật vui mừng
không tự kiềm chế được, mà vâng lãnh lời dạy này. Như vậy, Ngài nói giáo
pháp này cho các vị thiện gia nam tử.»
Các Hiền giả mỗi người sau khi nghe những gì đã
được nói, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Có bốn
loại trái này.
Những gì là bốn? Hoặc có trái sống mà tựa chín, hoặc có trái chín mà tựa
sống, hoặc có trái chín mà tựa chín, hoặc có trái sống mà tựa sống. Đó
là, này Tỳ-kheo thế gian có bốn loại trái này. Cũng lại như vậy, thế
gian có bốn hạng người này. Thế nào là bốn? Hoặc có người sống mà giống
chín, hoặc có người chín mà giống sống, hoặc có người chín mà giống
chín, hoặc có người sống mà giống sống.
«Thế
nào là người sống mà giống chín? Hoặc có người qua lại, đi bước không
hành thô tháo. Mắt nhìn ngó phải thuận theo pháp giáo. Đắp y, mang bát
cũng lại theo pháp. Bước đi, nhìn xuống đất, không liếc nhìn hai bên.
Nhưng lại phạm giới, không theo chánh hạnh; thật chẳng phải Sa-môn mà
giống sa-nôm; không hành phạm hạnh mà tự nói hành phạm hạnh; bại hoại
Chánh pháp; là loại mà rễ đã mục. Người này [634b01]
gọi là sống mà giống chín.
«Thế
nào là người chín mà giống sống? Hoặc có Tỳ-kheo tánh hạnh có vẻ quê
mùa, nhìn ngó không ngay, cũng không đi đúng theo pháp, hay liếc ngó hai
bên. Nhưng lại tinh tấn nghe nhiều, tu hành pháp thiện, thường giữ giới
luật, không mất oai nghi, thấy điều phi pháp tí ti liền ôm lòng sợ hãi.
Người này gọi là chín mà giống sống.
«Thế
nào là người sống mà giống sống? Hoặc có Tỳ-kheo không giữ giới cấm,
không biết lễ tiết bước đi, cũng lại không biết ra vào đi lại, cũng lại
không biết đắp y, mang bát, các căn thác loạn, tâm đắm trước sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Người ấy phạm giới cấm, không hành Chánh pháp,
không là Sa-môn mà giống Sa-môn, không hành phạm hạnh mà giống phạm
hạnh; là người mà rễ đã mục không thể cứu chữa. Người này gọi là sống mà
giống sống.
«Thế
nào là người chín mà giống chín? Hoặc có Tỳ-kheo giữ gìn giới cấm, ra
vào, đi bước, không mất thời tiết, nhìn ngó không mất oai nghi, lại rất
tinh tấn tu hành pháp thiện, mọi oai nghi lễ tiết đều thành tựu, thấy
điều phi pháp tí ti liền ôm lòng sợ hãi huống chi là to lớn. Người này
gọi là chín mà giống chín.
«Này
Tỳ-kheo, đó gọi là thế gian có (bốn) hạng người như bốn loại trái này.
Hãy học người quả chín. Này các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.»
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Hôm nay, không trung có gió lốc xoáy. Nếu như có
chim nào lại bay đến đó, như ô thước, hồng hộc, gặp gió này thì đầu,
não, lông cánh, mỗi thứ mỗi nơi. Ở đây, một Tỳ-kheo cũng lại như vậy, bỏ
giới cấm rồi sống đời bạch y. Khi ấy, sáu vật tùy thân như ba y, bình
bát, ống đựng kim, v.v.., thuộc mỗi thứ ở mỗi nơi, giống như gió lốc
xoáy thổi chết chim kia. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tu hành phạm
hạnh. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.»
Sau khi nghe những gì đức Phật dạy, các Tỳ-kheo
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo nên biết, có bốn loại chim này. Những gì
là bốn? Hoặc có chim tiếng hót hay mà hình thì xấu. Hoặc có chim hình [634c01]
đẹp, mà tiếng hót thì dở. Hoặc có chim tiếng hót dở mà hình cũng xấu.
Hoặc có chim hình đẹp, tiếng hót cũng hay.
«Thế nào là chim có tiếng hót hay mà hình thì xấu?
Đó là chim Câu-sí-la.
Chim này tiếng hay mà hình thì xấu.
«Thế nào là chim hình đẹp mà tiếng hót dở? Đó là
chim chí.Chim
này có hình đẹp mà tiếng hót dở.
«Thế nào là chim có tiếng hót dở mà hình thì đẹp?
Đó là chim cú. Chim này có tiếng hót dở hình cũng xấu.
«Lại có chim gì tiếng hót hay hình cũng đẹp? Đó là
chim công. Chim này có tiếng hót hay hình cũng đẹp.
«Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn loại chim này, mà mọi
người đều biết. Ở đây cũng vậy, thế gian cũng có bốn hạng người như
chim, mà mọi người đều biết.
«Những gì là bốn? Ở đây, hoặc có Tỳ-kheo nhan sắc
đoan chánh, ra vào đi lại, đắp y mang bát, co duỗi, cúi ngước, oai nghi
thành tựu, nhưng lại không thể đọc tụng được những pháp mà khoảng đầu
thiện, giữa thiện, cuối thiện; không thể vâng lãnh giáo pháp, cũng lại
không thể khéo đọc tụng. Đó là người này có hình đẹp mà tiếng không hay.
|