增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
27. PHẨM ĐẲNG THÚ BỐN ĐẾ
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Các Tỳ-kheo, pháp mà Ta thường nói, đó là bốn đế;
bằng vô số phương tiện mà quán sát pháp này, phân biệt ý nghĩa, quảng
diễn cho mọi người. Những gì là bốn? Đây là pháp khổ [643b01]
đế. Ta bằng vô số phương tiện mà quán sát pháp này, phân biệt ý nghĩa,
quảng diễn cho mọi người. Bằng vô số phương tiện diễn nói Tập, Tận, Đạo
đế mà quán sát pháp này, phân biệt ý nghĩa, quảng diễn cho mọi người.
«Tỳ-kheo các ngươi, hãy thân cận Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất, và thừa sự cúng dường. Sở dĩ như vậy là vì Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất kia dùng vô số phương tiện nói mà
thuyết đế, quảng diễn cho mọi người. Khi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất phân
biệt ý nghĩa, quảng diễn cho mọi người, cho các chúng sanh và chúng bốn
bộ, khi ấy có nhiều chúng sanh không thể kể đã sạch hết mọi trần cấu,
được mắt pháp thanh tịnh.
«Tỳ-kheo các ngươi, hãy thân cận Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, và thừa sự cúng dường. Sở dĩ như vậy là vì
Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là cha mẹ sinh ra chúng sanh. Đã được sanh, rồi
người dưỡng cho lớn khôn là Tỳ-kheo Mục-kiền-liên. Sở dĩ như vậy là vì
Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã vì mọi người nói pháp yếu, thành tựu tứ đế;
Tỳ-kheo Mục-kiền-liên đã vì mọi người nói pháp yếu, thành tựu đệ nhất
nghĩa, và thành tựu hành vô lậu. Vì vậy các ngưoi hãy thân cận Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên.»
Thế Tôn, sau khi nói những lời này, trở về tịnh
thất. Sau khi Thế Tôn đi chưa lâu, Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
«Ở đây, có ai đắc pháp bốn đế, người đó nhanh
chóng được lợi thiện. Những gì là bốn? Đây là khổ đế, mà ý nghĩa được
quảng diễn bằng nhiều phương tiện.
«Thế nào là khổ đế? Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ,
chết khổ, buồn lo thương xót khổ, oán gặp nhau khổ, ân ái chia lìa khổ,
cầu mà không đạt được là khổ. Nói tóm, năm thạnh ẩm là khổ. Đó gọi là
khổ đế.
«Thế nào là khổ tập đế? Đó là ái kết.
«Thế nào là tận đế? Tận đế là ái dục kết diệt tận
không còn dư tàn. Đó gọi là tận đế.
«Thế nào là đạo đế? Đó là tám đạo phẩm Hiền thánh:
Chánh kiến, chánh trị, chánh ngữ, chánh
phương tiện, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là
đạo đế. Chúng sanh này vì có được lợi thiện nên mới được nghe pháp bốn
đế này.»
Trong lúc Tôn giả Xá-lợi-phất đang nói pháp này,
vô lượng chúng sanh không thể kể hết, khi nghe pháp này, sạch hết mọi
trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh.
“Chúng ta cũng vì được lợi thiện, nên Thế Tôn nói
pháp cho chúng ta, đặt chúng ta vào chỗ phúc địa. Cho nên chúng bốn bộ
hãy tìm cầu phương tiện hành bốn đế này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các [643c01]
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, số đông các Tỳ-kheo vào thành Xá-vệ. Khi
ấy, số đông các Tỳ-kheo này suy nghĩ: ‹Chúng ta đi khất thực, trời còn
sớm quá. Chúng ta hãy đi đến thôn dị học ngoại đạo để cùng luận nghị.›
Lúc này, các Tỳ-kheo liền đi đến trong thôn ngoại đạo; đến nơi cùng nhau
hỏi thăm, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, các dị học hỏi đạo nhơn rằng:
«Sa-môn Cù-đàm nói pháp này cho đệ tử: ‹Tỳ-kheo
các ngươi, tất cả phải học pháp này, tất cả phải hiểu rõ. Đã hiểu rõ
rồi, nên cùng nhau phụng hành.› Chúng tôi cũng vậy, nói pháp này cho đệ
tử: ‹Các ngươi tất cả phải học pháp này, tất cả phải hiểu rõ. Đã hiểu rõ
rồi, nên cùng nhau phụng hành.› Sa-môn Cù-đàm cùng chúng tôi có những gì
sai khác, có gì hơn kém nào? Nghĩa là Sa-môn nói pháp, ta cũng nói pháp.
Sa-môn dạy bảo ta cũng dạy bảo!»
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những lời này, không nói đúng, cũng không nói
sai, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Rồi các Tỳ-kheo tự bảo nhau rằng:
‹Chúng ta hãy đem nghĩa này đến bạch Thế Tôn.›
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vào thành Xá-vệ khất thực, ăn
xong thu cất y bát, lấy Ni-sư-đàn đặt lên vai trái, đi đến chỗ Thế Tôn,
đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Khi ấy, các Tỳ-kheo đem nhân
duyên này bạch hết lên Thế Tôn. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Nếu ngoại đạo kia hỏi vậy, các ngươi nên đem lời
này đáp họ: ‹Có một cứu cánh, hay có nhiều cứu cánh?›
Hoặc phạm chí kia mà nói một cách bình đẳng,
họ phải nói: ‹Một cứu cánh, chứ không phải nhiều cứu cánh.›
«Cứu cánh ấy
là cứu cánh liên hệ dục, hay là cứu cánh không dục?
Cứu cánh kia, phải nói
là cứu cánh vô dục.
«Lại hỏi, cứu cánh của ấy, là cứu cánh liên hệ sân
hay là cứu cánh không sân? Phải nói cứu cánh là cứu cánh không sân; chứ
không phải cứu cánh liên hệ sân.
«Thế nào, cứu cánh ấy liên hệ si, hay cứu cánh
không si? Phải nói, cứu cánh ấy là cứu cánh không si.
«Thế nào, cứu cánh ấy là gì, là cứu cánh liên hệ
ái, hay cứu cánh không ái?
Cứu cánh ấy, phải nói là cứu cánh không ái.
«Thế nào, cứu cánh ấy là cứu cánh có thọ hay cứu
cánh không có thọ?
Cứu cánh của họ là cứu cánh không thọ.
«Thế nào, cứu cánh ấy là cho người trí hay là
người chẳng phải trí? Đó là cứu cánh của người trí.
«Cứu cánh ấy là cứu cánh của người phẫn nộ, hay
cứu cánh của người không phẫn nộ?
Cứu cánh ấy, họ phải nói là cứu cánh của người không phẫn nộ.
«Này Tỳ-kheo, có hai loại kiến này. Hai loại kiến
ấy là gì? Kiến chấp hữu và kiến chấp vô.
Những Sa-môn, Bà-la-môn nào do không biết gốc ngọn của hai kiến này nên
có tâm dục, có tâm sân nhuế, có tâm ngu si, có tâm ái, có tâm thọ.
Họ là những kẻ vô tri. Họ có tâm phẫn nộ,
không tương ưng với hành.
Người kia không thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu ưu, khổ não, chua,
cay, muôn mối khổ không thoát được.
«Những Sa-môn, Bà-la-môn nào biết điều đó như
thật, họ không có tâm sân nhuế, ngu si, hằng tương ưng với hành, nên
thoát khỏi được sanh, già, bệnh, chết. Nay nói về nguồn gốc của khổ như
vậy.
«Tỳ-kheo, có diệu pháp này, đó gọi là pháp bình
đẳng. Những ai không hành pháp bình đẳng thì đọa vào năm kiến.
«Nay sẽ nói về bốn thọ.
Bốn thọ ấy? Dục thọ, kiến thọ, giới thọ, ngã thọ. Đó gọi là bốn thọ. Nếu
có Sa-môn, Bà-la-môn nào biết hết tên của dục thọ; tuy họ biết tên của
dục thọ, nhưng lại không phải người tương ưng.
Họ biết phân biệt hết tên của các thọ, nhưng chỉ phân biệt được tên của
dục thọ trước, mà không phận biệt được tên của kiến thọ, giới thọ, ngã
thọ. Sở dĩ như vậy là vì những Sa-môn, Bà-la-môn kia không có khả năng
phân biệt được tên của ba thọ này.
«Cho nên, hoặc có Sa-môn, phân biệt được hết các
thọ, nhưng họ chỉ phân biệt được dục thọ và kiến thọ, chứ không phân
biệt được giới thọ và ngã thọ. Sở dĩ như vậy là vì những Sa-môn,
Bà-la-môn kia không thể phân biệt được hai thọ này.
«Hoặc khiến Sa-môn, Bà-la-môn có thể phân biệt hết
các thọ, nhưng lại cũng không đầy đủ. Họ có thể phân biệt được dục thọ,
kiến thọ và giới thọ còn không phân biệt được ngã thọ. Sở dĩ như vậy là
vì những Sa-môn, Bà-la-môn kia không thể phân biệt được ngã thọ.
«Cho nên, có những Sa-môn, Bà-la-môn tuy phân biệt
hết các thọ, nhưng lại không đầy đủ. Đây gọi là bốn thọ. Chúng có những
nghĩa gì? Làm sao phân biệt? Bốn thọ là do ái sinh. Như [644b01]
vậy, Tỳ-kheo có diệu pháp này cần được phân biệt. Nếu ai không hành các
thọ này, ở đây không được gọi là bình đẳng. Sở dĩ như vậy là vì nghĩa
của các pháp khó tỏ, khó bày. Nghĩa phi pháp như vậy không phải là những
lời dạy của Tam-da-tam-Phật.
«Tỳ-kheo, nên biết, Như Lai hay phân biệt hết tất
cả các thọ. Vì hay phân biệt tất cả các thọ nên cùng tương ưng, và hay
phân biệt dục thọ, kiến thọ, ngã thọ, giới thọ. Cho nên khi Như Lai phân
biệt tất cả các thọ, thì cùng tương ưng với pháp không chống trái nhau.
«Bốn thọ này do gì sinh? Bốn thọ này do ái mà
sinh, do ái mà lớn, và thành tựu thọ này. Đối với ai mà các thọ không
khởi, vì các thọ không khởi, nên người ấy không có sự sợ hãi. Do không
có sự sợ hãi nên Bát-niết-bàn, biết rõ như thật rằng, sinh tử đã hết,
phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau.
«Như vậy, Tỳ-kheo, có diệu pháp này, như thật mà
biết, thành tựu đầy đủ các pháp, căn cản của pháp hành. Sở dĩ như vậy là
vì pháp kia thật là vi diệu, được chư Phật tuyên thuyết, cho nên đối với
các hành không có sự thiếu sót.
«Tỳ-kheo, ở trong đây
có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn, không có
Sa-môn nào nữa vượt khỏi trên đây, thù thắng hơn đây.
Hãy rống tiếng rống sư tử như vậy»
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, trưởng giả A-na-bân-để
đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ, Thế
Tôn hỏi Trưởng giả:
«Thế nào, Trưởng giả, nhà Ông thường hay bố thí
phải không?»
Trưởng giả bạch Phật:
«Nhà con nghèo
mà thường hành bố thí. Nhưng đồ ăn thô dở, không đồng như thường.»
Thế Tôn bảo:
«Nếu khi bố thí, dù ngon hay dở, dù nhiều hay ít,
mà không dụng tâm ý, lại không phát nguyện, và không có tín tâm; do hành
báo này mà sinh nơi nào nơi ấy không có được thức ăn ngon, không có được
ý ham cầu lạc, cũng không có được ý ham cầu mặc y phục đẹp, cũng không
có được ham cầu nghiệp nông tốt đẹp, tâm cũng không có được ham cầu
trong ngũ dục. Giả sử, có được tôi tớ, kẻ chạy tin, chúng cũng không
chịu vâng lời. Sở dĩ như vậy là vì do trong lúc bố thí không dụng tâm,
nên thọ nhận [644c01]
báo này.
“Này Trưởng giả, nếu khi bố thí, dù ngon hay dở,
dù nhiều hay ít, hãy chí thành dụng tâm, chớ có thêm bớt,
phá bỏ cầu đò đời sau, mà sinh nơi nào,
nơi ấy có đồ ăn thức uống tự nhiên, bảy loại tài sản đầy đủ, tâm hằng có
được ham cầu trong ngũ dục. Giả sử có tôi tớ, kẻ chạy tin, chúng hằng
vâng lời. Sở dĩ như vậy là vì trong lúc bố thí mà phát tâm hoan hỉ.
«Trưởng giả nên biết, thời quá khứ xa xưa có phạm
chí tên Tỳ-la-ma
nhiều của báu, trân châu, hổ phách, xa cừ, mã não, thuỷ tinh, lưu li,
lòng ham thích bố thí. Khi bố thí, ông đem tám vạn bốn nghìn bát bạc
đựng đầy vàng vụn, lại đem tám vạn bốn nghìn bát vàng đựng đầy bạc vụn,
để bố thí như vậy.
«Lại đem tám vạn bốn nghìn cái bình rửa bằng vàng
bạc ra bố thí. Lại đem tám vạn bốn nghìn con bò đều dùng vàng bạc bịt
sừng, để bố thí như vậy. Lại đem tám vạn bốn nghìn ngọc nữ bố thí với y
phục được mặc. Lại đem tám vạn bốn nghìn ngoạ cụ đều được phủ lên bằng
thảm đệm có thêu thùa văn vẻ mà bố thí. Lại đem tám vạn bốn ngàn áo xiêm
mà bố thí. Lại đem tám vạn bốn ngàn voi lớn,
thảy đều được trang sức bằng các thứ vàng bạc, mà bố thí. Lại đem tám
vạn bốn ngàn con ngựa, thảy đều được đóng yên cương bằng vàng bạc, mà bố
thí. Lại đem tám vạn bốn ngàn cỗ xe mà bố thí. Ông bố thí lớn như vậy.
“Lại bố thí tám vạn bốn ngàn phòng xá. Ông lại bố
thí ở trong bốn cỗng thành; những ai cần thức ăn thì cho thức ăn; cần áo
thì cho áo; cần chăn, màn, ẩm thực, giường chõng,
ngọa cụ, thuốc trị bịnh các thứ. Thảy
đều cung cấp hết.
«Trưởng giả nên biết, tuy Tỳ-la-ma này làm việc bố
thí như vậy, nhưng không bằng dựng một phòng xá đem bố thí Chiêu-đề
Tăng.
Phước này không thể kể hết. Giả sử người ấy bố thí như vậy, cùng lập
phòng xá để bố thí Chiêu-đề Tăng, cũng không bằng tự thân thọ ba quy y
Phật, Pháp, Thánh chúng. Phước này không thể kể hết. Giả sử người ấy bố
thí như vậy, cùng tạo phòng xá, lại thọ tam tự quy, dù có phước này, vẫn
không bằng thọ trì năm giới. Giả sử người ấy bố thí, cùng tạo phòng xá,
thọ tam tự quy và, thọ trì năm giới, dù có phước này, nhưng vẫn không
bằng chỉ trong khoảnh khắc khảy móng tay mà có từ tâm đối với chúng
sanh. Phước này, công đức không thể kể hết. Giả sử người ấy bố thí như
vậy, tạo phòng xá, thọ tam tự quy, [645a01]
vâng giữ năm giới, cùng khoảnh khắc khảy móng tay mà có từ tâm đối với
chúng sanh, dù có phước này, vẫn không bằng trong chốc lát mà khởi tưởng
thế gian không khả lạc. Phước này, công đức không thể lường được. Song,
những công đức người kia đã làm, Ta chứng minh hết. Tạo dựng Tăng phòng,
Ta cũng biết phước này. Thọ ba tự quy, Ta cũng biết phước này. Thọ trì
năm giới, Ta cũng biết phước này. Trong khoảnh khắc bằng khảy móng tay
mà có từ tâm đối với chúng sanh, Ta cũng biết phước này. Trong chốc lát
mà khởi tưởng thế gian không khả lạc, Ta cũng biết phước này.»
«Bấy giờ, Bà-la-môn kia, đã tạo đại thí như vậy,
há phải là ai khác ư? Chớ tưởng như vậy.
Sở dĩ như vậy là vì, người chủ thí bấy giờ chính là thân Ta vậy.
«Trưởng giả nên biết, quá khứ lâu xa Ta đã tạo ra công đức, tín tâm
không dứt, không khởi tưởng đắm trước. Cho nên, này Trưởng giả, nếu khi
muốn bố thí dù nhiều hay ít, dù ngon hay dở, nên hoan hỷ bố thí, chớ có
khởi tưởng đắm trước. Hãy tự tay bố thí, chớ sai người khác. Phát nguyện
cầu báo, sau cầu thọ phước. Trưởng giả nên biết, được phước vô cùng.
«Này Trưởng giả, hãy học điều này như vậy.»
Trưởng giả sau khi nghe những gì đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Khi mặt trời vừa lên, mọi người cùng nhau làm
ruộng, trăm chim hót vang, trẻ thơ la khóc. Tỳ-kheo nên biết, nay Ta lấy
đây làm thí dụ, hãy hiểu nghĩa của nó. Nghĩa này phải hiểu làm sao? Khi
mặt trời mới mọc, đây dụ Như Lai ra đời. Người dân khắp nơi cùng làm
ruộng, đây dụ cho đàn-việt thí chủ tùy thời cung cấp y phục, đồ ăn thức
uống, giường nằm, ngoạ cụ, thuốc men trị bệnh. Trăm chim hót vang, đây
dụ cho Pháp sư cao đức, có thể vì chúng bốn bộ mà thuyết pháp vi diệu.
Trẻ thơ khóc la, đây dụ cho tệ ma Ba tuần.
“Cho nên, các Tỳ-kheo, như mặt trời mới mọc, Như
Lai ra đời trừ bỏ bóng tối, không nơi nào là không chiếu sáng.
“Các Tỳ-kheo, hãy học những điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Bồ-tát Di-lặc đến chỗ Như Lai, đảnh lễ
sát chân, rồi [645b01]
ngồi qua một bên. Bấy giờ, Bồ-tát Di-lặc bạch Thê tôn:
“Bồ-tát Ma-ha-tát thành tựu bao nhiêu pháp để hành
đàn ba-la-mật, đầy đủ sáu ba-la-mật, nhanh chóng thành Vô thượng đạo
Chánh chơn?”
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
“Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát nào
hành bốn pháp bổn, đầy đủ sáu
ba-la-mật, sẽ nhanh chóng thành Vô Thượng Chánh Chơn Đẳng Chánh Giác.
Sao gọi là bốn? Ở đây Bồ-tát huệ thí từ Phật, Bích-chi Phật xuống cho
đến người phàm thảy đều bình đẳng không lựa chọn người, thường nghĩ vầy:
‘Tất cả do ăn mà tồn tại, không ăn thì mất.’ Đó gọi là Bồ-tát thành tựu
pháp thứ nhất này, đầy đủ sáu độ.
“Lại nữa, Bồ-tát khi bố thí đầu, mắt, tủy não,
nước, của, vợ con, vui vẻ bố thí không sinh tưởng đắm trước. Như người
đáng chết, đến khi chết thì sống lại, vui mừng hớn hở không tự kềm chế
được. Bấy giờ, Bồ-tát phát tâm vui thích cũng lại như vậy; bố thí thệ
nguyện không sinh tưởng đắm trước.
“Lại nữa, Di-lặc, Bồ-tát lúc bố thí khắp đến tất
cả, không tự vì mình, mà vì để thành đạo Vô thượng Chánh chơn. Đó gọi là
thành tựu ba pháp này đầy đủ sáu độ.
“Lại nữa, Di-lặc, Bồ-tát Ma-ha-tát lúc bố thí tự
tư duy, ‘Trong các loài chúng sanh, Bồ-tát là đứng đầu trên hết, đầy đủ
sáu độ liễu đạt gốc của các pháp. Vì sao vậy? Vì các căn tịch tĩnh, tư
duy cấm giới, không khởi sân nhuế, tu hành tâm từ, dõng mãnh tinh tấn,
tăng trưởng pháp thiện, trừ pháp bất thiện, thường hằng nhất tâm, ý
không tán lọan, đầy đủ pháp môn biện tài, hoàn toàn không vượt thứ lớp,
khiến cho các thí này đầy đủ sáu độ, thành tựu đàn ba-la-mật. Nếu Bồ-tát
Ma-ha-tát nào hành bốn pháp này, nhanh chóng thành tựu Vô thượng Chánh
chơn Đẳng chánh giác. Cho nên, này Di-lặc, nếu Bồ-tát Ma-ha-tát nào lúc
muốn bố thí, nên phát thệ nguyện đầy đủ các hạnh này.
“Này Di-lặc, hãy học điều này như vậy.”
Di-lặc sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như Lai ra đời có bốn vô sở úy.
Như Lai được bốn vô sở úy này, nên không bị dính trước bất cứ điều gì
trên thế gian, ở trong đại chúng rống tiếng rống sư tử, chuyển Phạm luân.
Sao gọi là bốn? Nay Ta đã thành biện pháp này, cho dù ở trong đại chúng
hoặc Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma thiên cho đến loài bọ bay, cựa quậy,
nói rằng Ta không thành tựu pháp này, điều này không đúng. Ở trong đó Ta
đắc vô sở úy. Đó là vô sở úy thứ nhất.
“Như hôm nay, Ta các lậu đã diệt tận, không còn
tái sinh nữa. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, chúng sanh nào, ở trong đại
chúng nói rằng Ta các lậu chưa diệt tận, điều này không đúng. Đó gọi là
vô sở úy thứ hai.
“Nay Ta đã lìa pháp si ám, mà muốn khiến trở lại
pháp si ám,
hoàn toàn không có việc này. Nếu lại có Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma
thiên, chúng sinh nào, ở trong đại chúng nói Ta đã trở lại pháp si ám,
việc này không đúng. Đó gọi là vô sở úy thứ ba của Như Lai.
“Pháp xuất yếu của các bậc Hiền thánh để sạch hết
bờ khổ mà muốn nói đó không là xuất yếu, hoàn toàn không có việc này.
Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma thiên, chúng sanh nào, ở trong đại
chúng nói, Như Lai chưa tận cùng biên tế khổ, việc này không đúng. Đó
gọi là vô sở úy thứ tư của Như Lai.
“Như vậy, này Tỳ-kheo, với bốn vô sở úy, Như Lai ở
trong đại chúng có thể rống tiếng rống sư tử, chuyển bánh Phạm luân. Cho
nên, này Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu bốn vô sở úy.
“Các Tỳ-kheo, hãy học những điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay có có bốn hạng người thông minh, dũng mạnh,
thông suốt xưa nay, thành tựu pháp pháp.
Sao gọi là bốn? Tỳ-kheo đa văn thông suốt xưa nay, ở trong đại chúng
thật là đệ nhất. Tỳ-kheo-ni đa văn, thông suốt xưa nay, ở trong đại
chúng thật là tối đệ nhất*.
Ưu-bà-tắc đa văn, thông suốt xưa nay, ở trong đại chúng thật là đệ
nhất*. Ưu-bà-tư đa văn, thông suốt xưa nay, ở trong đại chúng thật là đệ
nhất*.
“Này Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn hạng người ở trong
đại chúng thật là đệ nhất.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Dũng mạnh, không sợ hãi,
Đa văn, hay thuyết pháp,
Trong chúng là sư tử
Hay trừ pháp khiếp nhược.
Tỳ-kheo, thành tựu giới;
Tỳ-kheo-ni đa văn;
[646a01]Ưu-bà-tắc
có tín;
Ưu-bà-tư cũng vậy;
Trong chúng là đệ nhất*.
Hoặc hay hòa thuận chúng.
Muốn biết được nghĩa này,
Như lúc trời mới mọc.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy học thông suốt việc
xưa nay, thành tựu pháp pháp.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH SỐ 8
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn loại chim cánh vàng.
Những gì là bốn? Có chim cánh vàng sinh bằng trứng, có chim cánh vàng
sinh bằng thai, có chim cánh vàng sinh do ẩm thấp, có chim cánh vàng
sinh do biến hóa. Đó là bốn loại chim cánh vàng.
“Cũng vậy, Tỳ-kheo, có bốn loài rồng. Sao gọi là
bốn? Có rồng sinh bằng trứng, có rồng sinh bằng thai, có rồng sinh do ẩm
thấp, có rồng sinh do biến hóa. Này Tỳ-kheo! Đó gọi là bốn loài rồng.
“Tỳ-kheo nên biết, khi chim cánh vàng sinh bằng
trứng kia muốn ăn rồng, nó phải lên trên cây thiết xoa
tự lao mình xuống biển. Nhưng nước biển kia ngang dọc hai mươi tám vạn
dặm, dưới có bốn loại cung rồng. Có rồng loại trứng, có rồng loại thai,
có rồng loại ẩm thấp, có rồng loại biến hóa. Khi ấy loài chim cánh vàng
loại trứng dùng cánh lớn quạt nước rẽ hai bên, bắt loại rồng trứng ăn,
nếu gặp phải loài rồng bằng thai, thân chim cánh vàng sẽ bị chết ngay.
Bấy giờ, chim cánh vàng quạt nước bắt rồng, nước còn chưa hoàn lại, nó
đã trở lên trên cây thiết xoa.
“Tỳ-kheo nên biết, khi chim cánh vàng sinh bằng
thai muốn ăn rồng, nó phải lên trên cây thiết xoa, tự lao mình xuống
biển. Nhưng nước biển kia ngang dọc hai mươi tám vạn dặm. Nó quạt nước,
xuống đến gặp loài rồng thai, nếu gặp loài rồng trứng cũng có thể bắt
chúng, ngậm đem ra khỏi nước biển. Nếu gặp loài rồng sinh ẩm thấp,
thân chim chết ngay.
“Tỳ-kheo nên biết, khi chim cánh vàng sinh do ẩm
thấp muốn ăn rồng, nó lên trên cây thiết xoa, tự lao mình xuống biển.
Nếu nó gặp loài rồng sinh bằng trứng, rồng sinh bằng thai, rồng sinh do
ẩm thấp, đều có thể bắt chúng. Nếu gặp phải rồng hóa sinh, thân chim
chết ngay.
“Này Tỳ-kheo, khi chim cánh vàng do hóa sinh muốn
ăn rồng, nó lên trên cây thiết xoa, tự lao mình xuống biển. Nhưng nước
biển kia ngang dọc hai mươi tám vạn dặm. Nó quạt nước xuống, đến gặp
phải rồng trứng, rồng thai, [646b01]
rồng ẩm thấp, rồng hóa sinh, đều có thể bắt chúng. Khi nước biển chưa
hoàn lại, đã trở lên trên cây thiết xoa.
“Tỳ-kheo nên biết, khi Long vương đang thừa sự
Phật, chim cánh vàng không thể ăn thịt được. Vì sao vậy? Như Lai thường
hành bốn đẳng tâm, vì vậy cho nên chim không thể ăn rồng. Sao gọi là bốn
đẳng tâm? Là Như Lai thường hành tâm từ, thường hành tâm bi, thường hành
tâm hỷ, thường hành tâm xả.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là Như Lai thường có bốn đẳng tâm này; có gân sức
mạnh, dõng mãnh lớn, không thể ngăn và hoại được. Vì vậy, nên chim cánh
vàng không thể ăn rồng. Cho nên các Tỳ-kheo phải hành tâm tứ đẳng.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu lúc thiện tri thức bố thí, có bốn sự công
đức. Sao gọi là bốn? Biết thời mà bố thí chứ không phải không biết thời.
Tự tay huệ thí không sai người khác. Bố thí thường trong sạch, chẳng
phải không trong sạch. Bố thí thật vi diệu, không có vẩn đục. Thiện tri
thức khi bố thí có bốn công đức này. Cho nên, này các Tỳ-kheo, thiện nam
tử, thiện nữ nhơn nào lúc bố thí nên đủ bốn công đức này. Do đủ công đức
này, được phước nghiệp lớn, được sự tịch diệt của cam lồ.
Nhưng phước đức này không thể đo lường, nên nói sẽ có ngần phước nghiệp
như vậy mà hư không không thể dung chứa hết. Giống như nước biển không
thể đong để nói là một hộc, nửa hộc, một lẻ,
nửa lẻ. Nhưng phước nghiệp này không thể trần thuật đầy đủ. Như vậy,
thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào đã tạo ra những công đức không thể kể,
được phước nghiệp lớn, được cam lồ tịch diệt, nên nói sẽ có ngần ấy
phước đức như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, thiện nam tử, thiện nữ nhơn nên
đủ bốn công đức này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Sau khi các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay có bốn hạng người đáng kính, đáng |