增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
28. PHẨM THINH VĂN
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở
Taij Ca-lan-đà, trong vườn Trúc, thành La-duyệt, [T02n0125_p0647a01]
cùng năm trăm vị đại Tỳ-kheo.
Bấy giờ, bốn Đại Thinh văn, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-diếp, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Tân-đầu-lô,
cùng họp một chỗ, nói như vầy: Chúng ta cùng xem trong thành La-duyệt
này ai là người không tạo công đức cúng dường Phật, Pháp, Thánh chúng?
Do bởi không có tín, chúng ta hãy khuyến khích họ tin pháp của Như Lai.
Bấy giờ, có Trưởng giả tên Bạt-đề, nhiều của báu
không thể kể hết, vàng bạc, trân bảo, xa cừ, mã não, chân châu, hổ
phách, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, kẻ hầu người hạ đều đầy đủ; nhưng lại
xan tham không chịu bố thí. Đối với Phật, Pháp, chúng Tăng không có mảy
may điều thiện, không có chí tín; phước cũ đã hết, lại không tạo phước
mới. Thường ôm lòng tà kiến, rằng không có thí, không có phước, cũng
không người nhận, cũng không có báo của thiện ác đời này đời sau, cũng
không có cha mẹ, và người đắc A-la-hán, lại cũng không có người thủ
chứng.
“Nhà Trưởng giả kia có bảy lớp cửa. Cửa nào cũng
có người giữ không cho ăn xin đến. Lại cũng dùng lưới sắt phủ giữa sân,
vì sợ có chim bay vào trong sân.
Trưởng giả có người chị gái
tên là Nan-đà, cũng lại keo lẫn không chịu huệ thí, không trồng cội rễ
công đức; phước cũ đã hưởng hết, mà phước mới không được tạo thêm. Cũng
ôm lòng tà kiến, rằng không có thí, không có phước, cũng không người
nhận, cũng không có báo của thiện ác đời này đời sau, cũng không có cha
mẹ, và người đắc A-la-hán, lại cũng không có người thủ chứng.
Cửa nhà Nan-đà cũng có bảy lớp, cũng có người giữ
cửa, không cho những người ăn xin đến; cũng lại dùng lưới sắt phủ lên
không cho chim bay vào trong nhà.
“Hôm nay, chúng ta hãy làm cho Mẹ Nan-đà
chí tín Phật, Pháp, chúng Tăng.”
Sáng sớm hôm đó, Trưởng giả Bạt-đề ăn bánh. Tôn
giả A-na-luật, bấy giờ đã đến giờ, đắp y, cầm bát, rồi từ dưới đất trong
nhà trưởng giả vọt lên, đưa bát cho Trưởng giả. Lúc đó, Trưởng giả lòng
rất sầu ưu, trao cho A-na-luật một ít bánh. Khi A-na-luật được bánh rồi,
trở về chỗ mình. Bấy giờ, Trưởng giả liền nổi sân nhuế, nói với người
giữ cửa rằng:
«Ta đã
có lệnh, không được cho người vào trong cửa. Tại sao lại cho người vào?»
Người giữ cửa thưa:
«Cửa
nẻo kiên cố, không biết Đạo sĩ này từ đâu vào?»
Trưởng giả khi ấy im lặng không nói. [647b01]
Khi trưởng giả đã ăn bánh xong, tiếp ăn cá thịt. Tôn giả Đại Ca-diếp đắp
y, cầm bát, đến nhà trưởng giả, từ dưới đất vọt lên, đưa bát cho Trưởng
giả. Trưởng giả lòng rất sầu ưu, trao cho Ngài một tí cá thịt. Ca-diếp
được thịt, liền biến mất, trở về chỗ mình. Lúc này, Trưởng giả lại càng
sân nhuế, bảo người giữ cửa rằng:
«Trước
ta đã ra lệnh, không cho người vào trong nhà. Tại sao lại cho hai Sa-môn
vào nhà khất thực?»
Người giữ cửa thưa:
«Chúng
tôi chẳng thấy Sa-môn này, lại vào từ đâu?
»
Trưởng giả bảo:
«Sa-môn
đầu trọc này giỏi làm trò huyễn thuật, mê hoặc người đời. Không có chánh
hạnh gì!»
Bấy giờ, vợ Trưởng giả ngồi cách đó không xa.
Người vợ Trưởng giả này là em gái Trưởng giả Chất-đa,
cưới từ Ma-sư-san
về. Lúc đó, người vợ bảo Trưởng giả:
«Hãy giữ miệng mình, chớ nói những lời này, rằng
‘Sa-môn học huyễn thuật.’ Sở dĩ như vậy là vì các Sa-môn này có oai thần
lớn. Họ mà đến nhà Trưởng giả là có nhiều lợi ích. Trưởng giả có biết
Tỳ-kheo trước là ai không?»
Trưởng giả đáp:
«Tôi không biết.»
Người vợ nói:
«Trưởng giả có nghe con vua Hộc Tịnh, nước
Ca-tỳ-la-vệ, tên A-na-luật, lúc đang sinh mặt đất chấn động sáu cách.
Cách chung quanh nhà trong vòng một do tuần, mỏ quý tự nhiên xuất hiện
không?»
Trưởng giả đáp:
«Tôi có nghe A-na-luật, song chưa gặp ông ấy»
Người vợ bảo Trưởng giả:
«Vị con nhà hào tộc này lìa bỏ gia cư, đã xuất gia
học đạo, tu hành phạm hạnh, đắc đạo A-la-hán, là thiên nhãn đệ nhất
không có ai vượt qua. Chính Như Lai cũng nói: ‹Thiên nhãn đệ nhất trong
hàng đệ tử của Ta, chính là Tỳ-kheo A-na-luật.› Tiếp đến, Ông có biết vị
Tỳ-kheo thứ hai vào đây khất thực không?»
Trưởng giả đáp:
«Tôi không biết.»
Người vợ Trưởng giả bảo:
«Trưởng giả có nghe Đại Phạm chí tên Ca-tỳ-la
trong thành La-duyệt này, nhiều của báu không thể kể hết, có chím trăm
chín mươi chín con bò cày ruộng không?»
Trưởng giả đáp:
«Chính tôi đã thấy Phạm chí này.»
Người vợ Trưởng giả bảo:
«Trưởng giả, ông có nghe con của Phạm chí kia tên
là Tỷ-ba-la-da-đàn-na,
thân màu vàng, vợ tên là Bà-đà,
là người đặc biệt nhất trong phái nữ. Dù có đem vàng tử ma đến trước cô,
thì cũng giống như đen so với trắng không?»
Trưởng giả đáp:
«Tôi có [647c01]
nghe có con Phạm chí này, tên là Tỷ-ba-la-da-đàn-na, nhưng lại chưa
gặp.»
Người vợ Trưởng giả nói:
«Chính là vị Tỳ-kheo vừa đến sau đó. Bản thân ông
đã bỏ báu ngọc nữ này, xuất gia học đạo, nay đắc A-la-hán, thường hành
đầu đà. Người có đầy đủ các pháp hạnh đầu đà, không ai vượt hơn Tôn giả
Ca-diếp. Thế Tôn cũng nói: ‘Tỳ-kheo hạnh đầu đà đệ nhất trong hàng đệ tử
của Ta chính là Đại Ca-diếp.’ Hôm nay Trưởng giả được rất nhiều thiện
lợi, mới khiến các vị Hiền thánh đến nơi này khất thực. Tôi đã quán sát
ý nghĩa này, nên bảo ông khéo giữ miệng mình, chớ huỷ báng bậc Hiền
thánh cho rằng: ‹Làm trò huyễn hoá.› Các vị đệ tử đức Thích-ca này đều
có thần đức.”
Trong lúc đang nói lời này, Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên đắp y, cầm bát, bay qua hư không đến nhà Trưởng giả, làm
vỡ lồng lưới sắt, rồi ngồi kiết già ở giữa hư không. Trưởng giả Bạt-đề
lúc này thấy Mục-kiền-liên ngồi ở giữa hư không, liền sợ hãi mà nói:
«Ngài là trời chăng?»
Mục-liên đáp:
«Ta chẳng phải trời.»
Trưởng giả hỏi:
«Ngài là Càn-thát-bà chăng?»
Mục-liên đáp:
«Ta chẳng phải Càn-thát-bà.»
Trưởng giả hỏi:
«Ngươi là quỷ chăng?»
Mục-liên đáp:
«Ta chẳng phải quỷ.»
Trưởng giả hỏi:
«Ngươi là quỷ la-sát ăn thịt người chăng?»
Mục-liên đáp:
«Ta cũng chẳng phải là quỷ la-sát ăn thịt người.»
Bấy giờ, Trưởng giả Bạt-đề liền nói kệ này:
Là trời, càn-thát-bà,
La-sát, quỷ thần chăng?
Lại nói chẳng phải trời,
La-sát, hay quỷ thần;
Chẳng giống càn-thát-bà.
Chỗ đang sống là đâu?
Hiện ông tên là gì?
Nay tôi muốn được biết.
Bấy giờ, Mục-liện lại dùng kệ đáp:
Chẳng trời, càn-thát-bà,
Chẳng loài quỷ la-sát.
Ba đời được giải thoát;
Nay ta là thân người.
Thầy ta Thích-ca Văn,
Có thể hàng phục ma;
Thành tựu đạo vô thượng.
Ta tên Đại Mục-liên.
Trưởng giả Bạt-đề nói với Mục-liên rằng:
«Tỳ-kheo có dạy bảo điều gì không?»
Mục-liên đáp:
«Nay tôi muốn nói pháp cho ông nghe. Hãy khéo suy
niệm kỹ.»
Khi ấy [648a01]
Trưởng giả lại nghĩ: “Các Đạo sĩ này lúc nào cũng dính đến sự ăn uống.
Nay mà muốn luận bàn, chính là muốn luận bàn về ăn uống. Nếu đòi ăn nơi
ta, ta sẽ nói ‘không’.” Nhưng lại nghĩ thầm: “Ít nhiều gì nay ta cũng
nghe thử người này nói cái gì.”
Bấy giờ, Tôn giả Mục-liên biết những ý nghĩ trong
tâm Trưởng giả, liền nói kệ này:
Như Lai nói hai thí:
Pháp thí và tài thí.
Nay sẽ nói pháp thí
Chuyên tâm nhất ý nghe.
Khi Trưởng giả nghe, sẽ nói về pháp thí, tâm liền
hoan hỷ, nói với Mục-liên rằng:
«Mong Ngài diễn nói. Tôi nghe sẽ hiểu.»
Mục-liên đáp:
«Trưởng giả nên biết, Như Lai nói về năm sự đại
thí, suốt đời hãy niệm mà tu hành.»
Trưởng giả lại nghĩ: “Vừa rồi Mục-liên muốn nói về
hành pháp thí, nay lại nói có năm sự đại thí.”
Mục-liên biết những ý nghĩ trong tâm của Trưởng
giả, lại bảo Trưởng giả rằng:
«Như Lai nói có hai đại thí, là pháp thí và, tài
thí. Nay tôi sẽ nói về pháp thí, không nói tài thí.»
Trưởng giả nói:
«Cái gì là năm sự đại thí?»
Mục-liên đáp:
«Một là không được sát sinh, đây gọi là đại thí,
Trưởng giả nên tu hành suốt đời. Hai là không trộm cắp, gọi là đại thí,
nên tu hành suốt đời. Không dâm, không nói dối, không uống rượu, nên tu
hành suốt đời.
«Này Trưởng giả, đó gọi là có năm đại thí này nên
niệm mà tu hành.»
Trưởng giả Bạt-đề nghe những lời này xong, lòng
rất hoan hỷ mà tự nghĩ: “Những điều Phật Thích-ca Văn nói rất là vi
diệu. Nay những điều diễn nói, chẳng cần đến bảo vật. Như hôm nay, ta
không kham sát sinh. Điều này có thể phụng hành được. Hơn nữa, trong nhà
ta của báu thật nhiều, quyết không trộm cắp, và đây cũng là việc làm của
ta. Lại, trong nhà ta có đàn bà rất đẹp, quyết không dâm vợ người, đây
cũng là việc làm của ta. Vả lại, ta không phải là người thích nói dối,
huống chi tự mình nói dối, đây cũng là việc làm của ta. Như hôm nay, ý
ta không nghĩ đến rượu, huống chi tự mình uống, đây cũng là việc làm của
ta.” Rồi thì, Trưởng giả thưa Mục-liên rằng:
«Năm thí này, tôi có thể làm theo.»
Khi ấy, trong lòng trưởng giả suy nghĩ: “Nay ta có
thể mời Mục-liên này dùng cơm.” Trưởng giả ngước đầu lên thưa Mục-liên
rằng:
«Mời Ngài khuất thần hạ cố xuống đây ngồi!»
Mục-liên theo lời, ngồi xuống.
Trưởng giả Bạt-đề tự thân dọn các thứ đồ ăn thức
uống cho Mục-liên. Mục-liên ăn xong, uống nước
rửa. Trưởng giả nghĩ: “Ta có thể đem một tấm dạ dâng lên
Mục-liên.” Sau đó, ông vào trong kho lựa lấy thảm trắng; muốn lấy loại
xấu, nhưng lại gặp loại tốt. Tìm rồi lại bỏ, mà lựa lại thảm khác, lại
vẫn tốt như vậy, bỏ đó rồi lại lấy đó.
Mục-liên biết những ý nghĩ trong tâm Trưởng giả,
liền nói kệ này:
Thí cùng tâm tranh đấu,
Phước này Thánh hiền bỏ.
Khi thí thời chẳng tranh.
Đúng thời tuỳ tâm thí.
Bấy giờ, Trưởng giả liền nghĩ: “Nay Mục-liên biết
những ý nghĩ trong tâm ta.” Liền đem đệm trắng dâng lên Mục-liên.
Mục-liên liền chú nguyện:
Quán sát thí đệ nhất;
Biết có bậc Hiền thánh,
Là tối thượng trong thí.
Ruộng tốt sinh hạt chắc.
Khi Mục-liên chú nguyện xong, nhận đệm trắng ấy,
khiến Trưởng giả được phước vô cùng. Lúc này, Trưởng giả liền ngồi qua
một bên. Mục-liên từ từ vì ông nói pháp với các đề tài vi diệu. Các đề
tài ấy luận về bố thí, luận về trì giới, luận về sinh thiên, dục là
tưởng bất tịnh, giải thoát là an vui. Như pháp mà chư Phật Thế Tôn đã
nói, là khổ, tập, tận, đạo; Mục-liên bấy giờ cũng vì ông nói hết. Từ
trên chỗ ngồi ông được mắt pháp thanh tịnh. Như áo trắng tinh dễ nhuộm
màu. Ở đây, Trưởng giả Bạt-đề cũng lại như vậy, từ trên chỗ ngồi được
mắt pháp thanh tịnh. Ông đã đắc pháp, thấy pháp, không còn hồ nghi nữa.
Ông thọ trì năm giới, tự quay về Phật, Pháp, và Thánh chúng.
Mục-liên sau khi thấy Trưởng giả được mắt pháp
thanh tịnh, liền nói kệ này:
Kinh mà Như Lai thuyết,
Nguồn gốc tất đầy đủ.
Mắt tịnh, không tì vết,
Không nghi, không do dự.
Khi ấy, Trưởng giả thưa Mục-liên:
«Từ nay về sau, Ngài cùng chúng bốn bộ thường nhận
lời thỉnh cầu cung cấp y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc men,
trị bệnh không chút luyến tiếc của con.»
Mục-liên sau khi nói pháp cho Trưởng giả xong, từ
chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Còn các đại Thinh văn, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn
giả A-na-luật nói với Tôn giả Tân-đầu-lô rằng:
«Chúng tôi đã độ [648c01]
Trưởng giả Bạt-đề. Nay Thầy có thể đến hàng phục lão bà Nan-đà kia.»
Tân-đầu-lô đáp:
«Việc này thật hay.»
Bấy giờ, lão bà Nan-đà đang tự mình làm bánh sữa.
Đã đến giờ, Tôn giả Tân-đầu-lô đắp y, cầm bát, vào thành La-duyệt, khất
thực tuần tự đến nhà lão bà Nan-đà. Ngài từ trong lòng đất hiện ra, tay
cầm bát đưa đến lão bà Nan-đà xin ăn. Khi lão mẫu thấy Tân-đầu-lô, trong
lòng nổi giận, nói những lời hung dữ:
«Tỳ-kheo nên biết, dù mắt ông có lòi ra, tôi cũng
không bao giờ cho ông ăn.»
Tân-đầu-lô liền nhập định, khiến hai mắt lòi ra.
Khi đó lão bà Nan-đà lại càng nổi giận hơn, lại nói dữ:
«Dù Sa-môn có treo ngược giữa hư không, ta quyết
cũng không cho ông ăn!»
Tôn giả Tân-đầu-lô lại dùng định lực, treo ngược
giữa hư không. Khi đó lão bà Nan-đà lại càng nổi giận hơn lên, nói dữ:
«Dù toàn thân Sa-môn có bốc khói, ta quyết cũng
không cho ông ăn!»
Tôn giả Tân-đầu-lô, lại dùng định lực, khiến toàn thân bốc khói. Lão bà
thấy vậy lại càng thêm phẫn nộ hơn, nói:
«Dù toàn thân Sa-môn có bốc cháy, ta quyết cũng
không cho ông ăn!»
Tân-đầu-lô liền dùng tam-muội, khiến toàn thân thể bốc cháy. Lão bà thấy
vậy lại nói:
«Dù toàn thân Sa-môn có ra nước, ta quyết cũng
không cho ông ăn!»
Tân-đầu-lô lại dùng định lực, khiến toàn thân đều ra nước. Lão bà thấy
vậy, lại nói:
«Dù sa-môn chết ở trước ta, ta quyết cũng không
cho ông ăn!»
Tôn giả Tân-đầu-lô liền nhập diệt tận định không
còn hơi thở ra vào, chết trước mặt lão mẫu. Khi đó lão bà vì không thấy
hơi thở ra vào nữa nên đâm ra sợ hãi, lông áo dựng đứng, rồi tự nghĩ:
“Sa-môn con dòng họ Thích này, nhiều người biết đến, được Quốc vương
kính trọng. Nếu nghe biết ông chết tại nhà ta, chắc sẽ gặp quan sự, sợ
rằng không thoát khỏi.” Bà liền nói:
«Sa-môn sống trở lại đi! Ta sẽ cho Sa-môn ăn.»
Tân-đầu-lô tức thì ra khỏi tam-muội. Lúc đó, lão
bà Nan-đà tự nghĩ: “Cái bánh này lớn quá. Hãy làm lại cái nhỏ để cho
ông.” Lão bà lấy một ít bột gạo làm bánh, bánh bèn lớn hơn. Lão bà thấy
vậy, lại nghĩ: “Bánh này lớn quá! Phải làm nhỏ lại.” Nhưng bánh vẫn lớn.
“Thôi, [649a01]
lấy cái làm trước tiên đem cho.” Bà liền lấy cái làm trước tiên, nhưng
những cái bánh đó đều lại dính vào nhau. Lão bà lúc này nói với
Tân-đầu-lô rằng:
«Ông cần ăn thì tự lấy, cớ sao lại quấy nhiễu nhau
vậy?»
Tân-đầu-lô đáp:
«Đại tỷ nên biết, tôi không cần ăn. Chỉ cần muốn
nói với lão bà thôi!»
Lão bà Nan-đà nói:
«Tỳ-kheo, dạy bảo điều gì?»
Tân-đầu-lô nói:
«Lão bà nên biết, nay đem bánh này đến chỗ Thế
Tôn. Nếu Thế Tôn có dạy bảo điều chi, thì chúng ta sẽ cùng làm theo.»
Lão bà đáp:
«Việc này thật là thú vị!»
Lúc này, lão bà tự mình mang bánh này theo sau Tôn
giả Tân-đầu-lô đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi, đảnh lễ sát chân và đứng sang
một bên. Bấy giờ, Tân-đầu-lô bạch Thế Tôn:
«Lão bà Nan-đà này, là chị của Trưởng giả Nan-đề,
tham lam ăn một mình không chịu thí người. Cúi xin Thế Tôn vì bà mà nói
pháp để phát khởi chí tín, tâm được khai mở.»
Bấy giờ, Thế Tôn bảo lão bà Nan-đà:
«Nay bà đem bánh cúng cho Như Lai và Tăng
Tỳ-kheo.»
Lúc này, lão bà Nan-đà liền đem bánh dâng lên Như
Lai cùng Tăng Tỳ-kheo khác. Song, bánh vẫn còn dư. Lão bà Nan-đà bạch
Thế Tôn:
«Số bánh vẫn còn dư.»
Thế Tôn bảo:
«Cúng lần nữa cho Phật và, Tỳ-kheo Tăng.»
Lão bà Nan-đà vâng theo lời dạy của Phật, đem bánh
này cúng lần nữa cho Phật cùng Tỳ-kheo Tăng. Cuối cùng, bánh đó vẫn còn.
Phật bảo lão bà Nan-đà:
«Nay, lão bà nên đem bánh này cúng cho chúng
Tỳ-kheo-ni, chúng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-tư.
Nhưng số bánh đó vẫn còn. Thế Tôn bảo:
«Hãy đem số bánh này bố thí cho những người nghèo
khổ.
Song số bánh đó vẫn còn. Thế Tôn bảo:
«Hãy đem số bánh này bỏ nơi đất sạch, hay đặt vào
trong nước cực sạch. Sở đĩ như vậy là vì Ta chưa bao giờ thấy Sa-môn,
Bà-la-môn, trời cùng con người nào có thể tiêu được bánh này, trừ Như
Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác.»
Bà thưa:
«Thưa vâng, Thế Tôn.»
Lúc này, lão bà Nan-đà đem bánh này thả vào trong
nước sạch, tức thì lửa bùng lên. Lão bà Nan-đà thấy vậy, lòng đầy sợ
hãi. Bà đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ,
Thế Tôn thứ tự nói pháp cho bà nghe. Ngài nói về bố thí, về trì giới, về
sinh thiên, dục là tưởng bất tịnh, là hữu lậu, là ô uế, xuất gia là giải
thoát. Bấy giờ, Thế Tôn biết lão bà Nan-đà tâm ý đã khai [649b01]
mở. Như pháp mà chư Phật Thế Tôn thường nói, là khổ, tập, tận, đạo; bấy
giờ, Thế Tôn vì lão bà Nan-đà nói hết. Lão bà ngay trên chỗ ngồi được
mắt pháp thanh tịnh. Giống như tấm thảm trắng dễ được nhuộm màu, ở đây
lại cũng như vậy. Lão bà bấy giờ đã sạch hết trần cấu, được mắt pháp
thanh tịnh. Bà đã đắc pháp, thành tựu pháp, không còn hồ nghi, đã vượt
qua do dự, được vô sở uý, mà thừa sự Tam bảo, thọ trì năm giới.
Bấy giờ, Thế Tôn vì bà nói pháp lại, khiến bà phát
lòng hoan hỷ. Nan-đà bấy giờ bạch Thế Tôn:
«Từ nay về sau, chúng bốn bộ hãy đến nhà con nhận
cúng dường. Từ nay về sau con sẽ luôn luôn bố thí, tu các công đức,
phụng thờ Hiền thánh.»
Sau đó, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát
chân, rồi lui đi.
Trưởng giả Bạt-đề và lão mẫu Nan-đà có người em
tên Ưu-bà-ca-ni, lúc còn thơ ấu chơi thân với vua A-xà-thế, cả hai rất
thương mếm nhau. Bấy giờ, Trưởng giả Ưu-bà-ca-ni đang làm ruộng, nghe
anh Bạt-đề và chị Nan-đà đã được Như Lai giáo hóa. Nghe vậy, vui mừng
hớn hở không thể tự kiềm, trong cả bảy ngày không ngủ nghỉ và ăn uống
được. Sau khi công việc ruộng đồng đã làm xong, trở về thành La-duyệt.
Giữa đường, ông tự nghĩ: “Nay, trước tiên ta nên đến chỗ Thế Tôn, sau đó
mới về nhà.” Trưởng giả đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua
một bên. Bấy giờ, Trưởng giả bạch Thế Tôn:
«Anh Bạt-đề cùng chị Nan-đà con đã được Như Lai
giáo hóa rồi sao?»
Thế Tôn bảo:
«Đúng vậy, Trưởng giả! Nay Bạt-đề và Nan-đà đã
thấy bốn đế, tu các pháp thiện.»
Trưởng giả Ưu-bà-ca-ni bạch Thế Tôn:
«Gia đình chúng con rất được đại lợi.»
Thế Tôn bảo:
«Đúng vậy, Trưởng giả, như những lời ông nói, cha
mẹ ông nay rất được đại lợi, đã gieo phước đời sau.»
Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu cho Trưởng giả.
Trưởng giả nghe xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồi lui
ra. Ông đi về đến chỗ vua A-xà-thế, ngồi một bên.
Vua hỏi trưởng giả:
«Anh và chị ông đã được Như Lai giáo hóa rồi
chăng?»
Tâu:
«Đúng vậy, Đại vương.»
Vua nghe lời này vui mừng hớn hở không tự kiềm chế
được, liền gióng chuông trống ra lệnh trong thành: “Từ nay trở về sau,
những nhà thờ Phật khỏi phải bị nộp thuế. Những người phụng sự Phật [649c01]
đến thì được nghinh đón, đi thì được đưa tiễn. Sở dĩ như vậy là vì họ là
anh em đạo pháp của ta.”
Bấy giờ, vua A-xà-thế cho xuất các thứ đồ ăn thức
uống đem cho Trưởng giả. Trưởng giả liền nghĩ thầm: “Ta chưa bao giờ
nghe Thế Tôn dạy phàm pháp Ưu-bà-tắt là nên ăn những thứ đồ ăn nào? Nên
uống những thứ nước nào? Nay, trước ta nên đến chỗ Thế Tôn, hỏi nghĩa
này, sau đó mới ăn.” Trưởng giả bèn bảo một người thân cận:
«Ngươi đi đến chỗ Thế Tôn. Đến rồi đảnh lễ sát
chân, đem những lời của ta bạch lên Thế Tôn: Trưởng giả Ưu-bà-ni-ca bạch
Thế Tôn, phàm pháp của Hiền giả trì bao nhiêu giới? Lại phạm bao nhiêu
giới chẳng phải là Ưu-bà-tắc? Nên ăn thức ăn nào, uống nước uống nào?»
Người kia vâng lời Trưởng giả, đi đến chỗ Thế Tôn,
đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên. Rồi người kia đem tên Trưởng giả
bạch Thế Tôn:
«Phàm pháp Ưu-bà-tắc, nên giữ bao nhiêu giới? Phạm
bao nhiêu giới chẳng phải là Ưu-bà-tắc? Lại nên ăn thức ăn nào? Uống
nước uống nào?»
Thế Tôn bảo:
«Nay ông nên biết, ăn có hai loại, đáng thân cận,
và không đáng thân cận. Thế nào là hai? Nếu thân cận thức ăn mà pháp bất
thiện khởi lên làm pháp thiện tổn giảm, thức ăn này không thể thân cận.
Nếu lúc được thức ăn mà pháp thiện tăng ích, pháp bất thiện tổn giảm,
thức ăn này đáng thân cận.
«Nước cũng có hai loại. Nếu lúc được nước uống mà
pháp bất thiện khởi làm pháp thiện tổn giảm, đây chẳng thể thân cận. Nếu
lúc được nước uống mà pháp bất thiện bị tổn giảm, pháp thiện có tăng
ích, đây có thể thân cận.
«Phàm pháp Ưu-bà-tắc, giới cấm có năm. Trong đó có
thể giữ một giới, hai giới, ba giới, bốn giới cho đến năm giới; thảy đều
phải giữ. Nên hỏi lại ba lần, người có thể giữ thì khiến cho họ giữ. Nếu
Ưu-bà-tắc nào phạm vào một giới rồi, thân hoại mạng chung sẽ sinh vào
địa ngục. Nếu Ưu-bà-tắc nào vâng giữ chỉ một giới, sẽ được sinh về cõi
lành, trên trời, huống chi là giữ hai, ba, bốn, năm giới.»
Người kia sau khi nhận lãnh những lời dạy từ Phật
rồi, đảnh lễ sát chân Phật và lui đi. Người kia đi chưa xa, bấy giờ Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
«Từ nay về sau, cho phép trao năm giới và ba tự
quy cho Ưu-bà-tắc. Nếu Tỳ-kheo nào khi muốn trao giới cho Thanh tín nam
nữ, dạy họ để trống cánh tay, chấp tay, bảo xưng tên họ, nguyện quy y
Phật. Pháp, chúng Tăng ba lần. Sau khi bảo xưng tên họ quy y Phật, Pháp,
chúng Tăng rồi, lại tự xưng: ‘Nay con đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tỳ-kheo Tăng. Như Phật Thích-ca Văn lần đầu tiên đã cho năm trăm khách
buôn thọ ba tự quy, con nguyện suốt đời không giết, không trộm, không
dâm, không dối, không uống rượu.’ Nếu ai giữ một giới thì còn lại bốn
giới; nếu giữ hai giới thì còn lại ba giới; nếu giữ ba giới thì còn lại
hai giới; nếu giữ bốn giới thì còn lại một giới; nếu giữa năm giới, đó
là người giữ đầy đủ.»
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
«Mặt trời, mặt trăng, bị bốn sự che khuất
khiến không phóng ra được ánh sáng. Thế nào là bốn? Một là mây, hai là
bụi gió, ba là khói, bốn là A-tu-luân,
khiến mặt trời, mặt trăng bị che khuất, không phóng ánh sáng được. Này
Tỳ-kheo, đó gọi là mặt trời, mặt trăng bị bốn sự che khuất này, khiến
không phóng ánh sáng lớn được. Ở đây cũng vậy, Tỳ-kheo có bốn kết sử
che kín tâm người không khai mở được. Thế nào là bốn? Một là dục kết,
che lấp tâm người không khai mở được, hai là sân nhuế, ba là ngu si, bốn
|