35: PHẨM
TÀ TỤ
KINH SỐ 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có người ở trong tụ tà kiến, người ấy có hình
dáng như thế nào? Mặt mũi như thế nào?
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch Thế tôn:
“Như Lai là vua các pháp, là chí tôn các pháp.
Lành thay, Thế tôn, hãy vì các Tỳ-kheo mà nói nghĩa này. Chúng con sau
khi nghe xong sẽ phụng hành.”
Thế tôn bảo:
“Các ngươi hãy suy nghĩ kỹ. Ta sẽ vì các Ngươi
phân biệt nghĩa này.”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn.” Bấy giờ, các Tỳ-kheo
vâng lời Phật dạy.
Thế tôn bảo:
“Người ở trong tụ tà cần được nhận biết bằng năm
sự. Do thấy năm sự mà biết người này sống trong tụ tà. Sao gọi là năm?
Nên cười mà không cười, lúc nên hoan hỷ mà không hoan hỷ, nên khởi lòng
từ mà không khởi lòng từ, làm ác mà không hỗ, nghe lời thiện của người
mà không để ý. Nên biết người này ắt ở trong nhóm tà. Nếu chúng sanh nào
ở trong nhóm tà, người ấy cần được nhận biết bằng năm sự này biết.
“Lại nữa, nếu chúng sanh nào ở trong nhóm chánh,
người ấy có tướng mạo như thế nào? Có nhân duyên gì?”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Như lai là vua các pháp, là chí tôn các pháp. Cúi
xin Thế tôn hãy vì các Tỳ-kheo mà nói nghĩa này. Chúng con sau khi nghe
xong sẽ phụng hành.”
Thế tôn bảo:
“Các ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì các ngươi
phân biệt nghĩa này.”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng theo lời Phật dạy.
Thế tôn bảo:
“Người ở trong tụ chánh cần được nhận biết bằng
năm sự. Do thấy năm sự mà biết người này đang ở trong tụ chánh. Sao gọi
là năm? Nên cười thì cười, nên hoan hỷ thì hoan hỷ, nên khởi lòng từ thì
khởi lòng từ, đáng hỗ thì hỗ, nghe lời thiện liền chú ý. Nên biết người
này đã ở trong tụ chánh. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy nên bỏ tụ tà, ở trong
tụ chánh.
[699a01]
“Các Tỳ-kheo. hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như Lai xuất hiện ở đời tất sẽ vì năm việc. Sao
gọi là năm? Một sẽ chuyển Pháp luân, hai sẽ độ cha mẹ, ba người không
tin kiến lập lòng tin, bốn chưa phát ý Bồ-tát khiến phát tâm Bồ-tát, năm
sẽ thọ ký cho Phật tương lai. Nếu Như lai xuất hiện ở đời thì sẽ làm năm
việc này. Cho nên, các Tỳ-kheo phải khởi tâm từ đối với Như lai.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm sự vật mà huệ thí không được phước kia.
Sao gọi là năm? Một lấy đao thí cho người, hai lấy độc thí cho người, ba
đem bò hoang thí cho người, bốn dâm nữ thí cho người, năm tạo miếu thờ
thần. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là có năm sự bố thí này không có phước.
“Các Tỳ-kheo nên biết! lại có năm sự vật mà huệ
thí được phước lớn. Sao gọi là năm? Một tạo lập công viên, hai trồng
rừng cây, ba bắc cầu đò, bốn tạo làm thuyền lớn, tạo lập dựng nhà cửa,
nơi ở cho quá khứ và tương lai. Này các tỳ kheo, đó gọi là có năm sự vật
khiến được phước đức kia.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Vườn cảnh cho mát mẻ;
Và xây dựng cầu đò
Giúp người vượt qua sông;
Còn xây phòng ốc tốt:
Người kia trong đêm ngày
Sẽ thường hưởng phước ấy.
Giới, định đã thành tựu,
Người này ắt sanh thiên.
“Cho nên, các Tỳ-kheo hãy niệm tu hành năm sự huệ
thí này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người nữ có năm sức mạnh xem thường chồng. Sao
gọi là năm? Một sức mạnh của sắc đẹp, hai sức mạnh của dòng họ, ba sức
mạnh của ruộng vườn, bốn sức mạnh của con cái, năm sức mạnh của tiết
hạnh. Đó là năm sức mạnh của người nữ.
“Tỳ-kheo nên biết, người nữ dựa vào năm sức mạnh
này mà xem thường chồng. Nếu chồng lại có một sức mạnh thì sẽ phủ lấp
hết người nữ kia. Một sức mạnh ấy là gì? Đó là sức mạnh của giàu sang.
Phàm là người giàu sang thì sức mạnh của sắc không sánh bằng; dòng họ,
ruộng vườn, con cái, tiết hạnh cũng không bằng. Do một sức lực mà thắng
ngần ấy sức mạnh.
“Nay
tệ ma
Ba tuần cũng có năm sức mạnh. Sao gọi là năm? Đó là sức mạnh sắc, sức
mạnh thanh, sức mạnh hương, sức mạnh vị, sức mạnh xúc.
Phàm người ngu si đắm các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc nên không thể
vượt qua cảnh giới ma Ba tuần. Nếu Thánh đệ tử nào thành tựu một sức
mạnh thì có thể thắng ngần ấy sức mạnh. Một sức mạnh ấy là gì? Đó là sức
mạnh không phóng dật. Nếu Hiền Thánh đệ tử thành tựu không phóng dật,
không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc câu thúc. Do không bị năm dục trói
buộc nên có khả năng phân biệt pháp sanh, già, bệnh, chết, thắng được
năm sức mạnh của ma, không rơi vào cảnh giới ma, vượt khỏi các nạn sợ
hãi, đến chỗ vô vi.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Giới, đường đến cam lồ,
Phóng dật, dẫn lối chết.
Không tham thì không chết
Mất đường là tự mất.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nên nhớ tu hành không phóng dật.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người nữ có năm tưởng dục. Sao gọi là năm? Một
sanh trong nhà hào quý, hai được gả vào nhà giàu sang, ba chồng của ta
làm theo lời, bốn là có nhiều con cái, năm là độc quyền trong nhà do
mình. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là người nữ có năm sự đáng tưởng muốn này.
“Cũng vậy, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo của Ta cũng có năm sự
đáng tưởng muốn. Sao gọi là năm? Đó là cấm giới, đa văn, thành tựu
tam-muội, trí huệ, trí huệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là có [699c01]
năm sự này là pháp đáng muốn.
Bấy giờ, Thế tôn liền nó kệ này:
Nguyện sanh dòng hào tộc;
Cũng gặp nhà giàu sang;
Có thể sai khiến chồng;
Chẳng phước không khắc được.
Khiến ta nhiều con cái;
Hương hoa tự trang sức;
Tuy có tưởng niệm này,
Chẳng phước không khắc được.
Tín giới mà thành tựu;
Tam-muội không lay động,
Trí huệ cũng thành tựu:
Biếng nhác, không đạt được.
Muốn chứng đắc đạo quả.
Không dạo vực sanh tử;
Mong muốn đến Niết-bàn;
Biếng nhác, không đạt được.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện
hành nơi pháp thiện, trừ bỏ pháp bất thiện, dần dần tiến về trước, không
có thối ý nữa chừng.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 6
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm trường hợp không nên lễ người. Sao gọi là
năm? Người ở trong tháp, không nên lễ. Người ở trong đại chúng, không
nên lễ. Người ở giữa đường, không nên lễ. Người đang ốm đau nằm trên
giường, không nên lễ. Người đang ăn, không nên lễ. Này Tỳ-kheo, đó gọi
là có năm trường hợp này không lễ người.
“Lại có năm trường hợp biết đúng thời nên lễ. Sao
gọi là năm? Đó là không ở trong tháp, không ở trong đại chúng, không ở
giữa đường, không đau bịnh, lại chẳng phải đang ăn uống, đây nên hướng
về lễ. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện đúng thời mà
hành.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 7
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở tại
Ca-lan-đà trong vườn Trúc, thành La-duyệt. Bấy giờ, Thế tôn bảo
Ưu-đầu-bàn:
“Nay Ông hãy vào thành La-duyệt xin cho Ta một ít
nước nóng. Vì sao vậy? Vì như Ta hôm nay đang trúng gió
đau cột sống.”
Ưu-đầu-bàn bạch Phật:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn.”
Lúc ấy, Ưu-đầu-bàn vâng lời Phật dạy, đến giờ khất
thực, đắp y, mang bát, vào thành La-duyệt xin nước nóng. Bấy giờ, Tôn
giả Ưu-đầu-bàn [700a01]
nghĩ như vầy: ‘Thế tôn có nhân duyên gì sai ta xin nước nóng? Như lai đã
dứt sạch các kết sử, tập hợp các điều lành, vậy mà Như lai lại nói rằng:
Nay Ta bị trúng gió. Hơn nữa, Thế tôn lại không cho biết danh tánh nên
đến nhà ai.’
Rồi Tôn giả Ưu-đầu-bàn dùng thiên nhãn quán sát
các người nam ở thành La-duyệt, thấy tất cả đều đáng được độ. Lúc ấy,
thấy trong thành La-duyệt có trưởng giả Tỳ-xá-la
trước đây không trồng căn lành, không có giới, không có tín, tà kiến đối
với Phật, Pháp, Tăng, và biên kiến cùng tương ưng. Ông thấy như vầy:
‘Không có bố thí, không có cho, không có người nhận, lại cũng không có
quả báo thiện ác; không có đời này, không đời sau, không có cha, không
có mẹ; đời không có Sa-môn, Bà-la-môn thành tựu, ở đời này, đời sau, tự
thân tác chứng, mà tự du hóa.’ Tuổi thọ rất ngắn; sau năm ngày nữa ông
sẽ chết. Ông lại đang thờ Ngũ đạo đại thần.
Lúc ấy, Ưu-đầu-bàn liền tự nghĩ: ‘Chắc là Như Lai
muốn độ trưởng giả này. Vì sao vậy? Vì trưởng giả này sau khi qua đời sẽ
sanh vào trong địa ngục Đề khốc.’
Lúc ấy, Ưu-đầu-bàn liền mỉm cười. Ngũ đạo đại thần từ xa nhìn thấy tôn
giả mỉm cười, liền ẩn hình mình, hóa ra hình người, đi đến chỗ
Ưu-đầu-bàn để Ngài sai khiến. Lúc ấy, Tôn giả Ưu-đầu-bàn liền dẫn sứ giả
này đến đứng ngoài cửa nhà trưởng giả, đứng im lặng không nói gì cả.
Lúc ấy, trưởng giả từ xa nhìn thấy có đạo nhơn
đứng ở ngoài cửa, lập tức nói kệ này:
Nay người đứng im lặng,
Cạo đầu đắp cà sa
Vì muốn xin những gì?
Do nhân gì đến đây?
Ưu-đầu-bàn liền nói kệ này đáp:
Như lai bậc Vô trước,
Hôm nay sanh bệnh phong.
Nếu ngài có nước nóng,
Như Lai muốn tắm rửa.
Khi ấy, trưởng giả im lặng không đáp. Lúc này, đại
thần Ngũ đạo bảo với Tỳ-xá-la:
“Trưởng giả nên đem nước sôi cúng dường, tất sẽ
được phước vô lượng, sẽ được báo cam lộ.”
Trưởng giả đáp:
“Ta tự có đại thần Ngũ đạo, cần gì đến Sa-môn này?
Ông thêm được việc gì?”
Lúc ấy, đại thần Ngũ đạo liền nói kệ này:
Như Lai đang ở đời
Thiên Đế cũng xuống hầu.
[700b01]
Còn ai vượt lên trên?
Ai có thể ngang hàng?
Thần Ngũ đại làm gì?
Không giúp được gì cả.
Nên cúng dường Thế tôn,
Để được quả báo lớn.
Lúc ấy, đại thần Ngũ đậi lại nói lần nữa trưởng
giả:
“Ông hãy khéo tự thủ hộ các hành vi của thân,
miệng, ý hành. Ông không biết oai lực của đại thần Ngũ đạo sao?”
Lúc ấy, đại thần Ngũ đạo liền hóa ra hình quỷ thần
lớn, tay phải cầm kiếm, nói với trưởng giả:
“Nay ta chính là đại thần Ngũ đạo. Hãy chóng cho
cho Sa-môn này nước nóng. Chớ có chần chờ.”
Lúc ấy, trưởng giả nghĩ thầm: ‘Thật là kỳ lạ! đại
thần Ngũ đạo còn cúng dường Sa-môn này.’ Lập tức ông đem nước nóng thơm
trao cho đạo nhơn. Lại lấy mật mía trao cho Sa-môn.
Lúc ấy, đại thần Ngũ đạo tự tay cầm nước nóng thơm
này, cùng Ưu-đầu-bàn đến chỗ Thế tôn rồi dâng nước nóng thơm này lên Như
lai. Bấy giờ, Như lai dùng nước nóng thơm này tắm gội thân thể, bệnh
phong lập tức thuyên giảm không còn tăng thêm nữa.
Lúc đó, trưởng giả, sau năm ngày qua đời, sanh lên
cõi trời Tứ thiên vương. Khi Tôn giả Ưu-đầu-bàn nghe trưởng giả qua đời,
liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Ưu-đầu-bàn
bạch Như lai:
“Trưởng giả này chết sanh về chốn nào?”
Thế tôn bảo:
“Trưởng giả này chết sanh lên trời Tứ thiên
vương.”
Ưu-đầu-bàn bạch Phật:
“Trưởng giả này, mạng chung ở đó, sẽ sanh về đâu?”
Thế tôn đáp:
“Ở đó mạng chung, sẽ sanh cõi trời Tứ thiên vương,
trời Tam thập tam, cho đến trời Tha hóa tự tại. Ở đó mạng chung, lại
sanh vào cõi trời Tứ thiên vương. Trưởng giả này thân trong sáu mươi
kiếp, không đọa vào đường ác, cuối cùng được làm người, cạo bỏ râu tóc,
đắp ba pháp y, xuất gia học đạo, thành Bích-chi-phật. Vì sao vậy? Vì nhờ
đức cúng dường nước nóng thơm mà phước kia mới như vậy. Cho nên,
Ưu-đầu-bàn, hãy thường niệm việc tắm chúng tăng, nghe thuyết đạo giáo.
“Ưu-đầu-bàn, hãy học điều như vậy.”
Tôn giả Ưu-đầu-bàn sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, có Tỳ-kheo không thích tu Phạm hạnh, muốn
xả giới cấm, trở về làm bạch y. Khi ấy, Tỳ-kheo kia đến chỗ Thế tôn, [700c01]
đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ, Tỳ-kheo kia bạch Thế tôn:
“Nay con không thích tu hành trong phạm hạnh này.
Con muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y.”
Thế tôn bảo:
“Nay ngươi vì sao ông không thích tu phạm hạnh,
muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y?”
Tỳ-kheo đáp:
“Nay tâm ý con hừng hực, trong thân bừng lửa. Nếu
khi con thấy người nữ xinh đẹp vô song, bấy giờ con nghĩ thầm: ‘Mong sao
người nữ này cùng ta giao hội nhau.’ Rồi con lại nghĩ: ‘Đây chẳng phải
Chánh pháp. Nếu ta theo tâm này thì chẳng phải chánh lý.’ Bấy giờ, con
lại tự nghĩ: ‘Đây là lợi ác, chẳng phải là lợi thiện. Đây là pháp ác
chẳng phải là pháp thiện.’ Nay con muốn xả giới cấm, trở lại làm bạch y.
Giới cấm của Sa-môn thật sự không thể phạm. Ở trong thế tục, con có thể
bố thí vật thực.”
Thế tôn bảo:
“Phàm người nữ có năm điều bất thiện. Sao gọi là
năm? Một là bất thiện bởi ô uế, hai là nói hai lưỡi, ba là ganh ghét,
bốn là sân nhuế, năm là không biết báo đáp.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Buồn vui vì của cải,
Ngoài thiện trong lòng ác;
Phá nẻo thiện của người;
Chim ưng bỏ đầm nhơ.
“Cho nên, Tỳ-kheo hãy từ bỏ tưởng tịnh, tư duy
quán bất tịnh.
Sau khi tư duy quán bất tịnh rồi, Tỳ-kheo sẽ đoạn tận dục ái, sắc ái và
vô sắc ái; đoạn tận vô minh, kiêu mạn. Nay, Tỳ-kheo, dục của ngươi từ
đâu sanh? Từ tóc sanh? Nhưng tóc hiện nhơ không sạch, đều do huyễn hóa,
lừa gạt người đời. móng tay, răng … thuộc về thân thể đều là không sạch.
Cái gì là chân, cái nào là thật? Từ đầu đến chân, thảy đều như vậy.
Những vật hữu hình như gan, mật, năm tạng, không một vật đáng ham. Cái
gì là chân? Nay, Tỳ-kheo, dục của ngươi từ đâu sanh? Nay ngươi khéo tu
phạm hạnh, Chánh pháp của Như lai, tất sẽ hết khổ. Mạng người rất ngắn,
không lâu ở đời. Tuy có rất thọ, không qua trăm tuổi.
“Tỳ-kheo nên biết, Như lai xuất thế, rất là khó.
Được gặp, nghe pháp cũng khó. Thọ nhận thân hình tứ đại cũng lại việc
khó được. Các căn đầy đủ cũng lại khó được. Được sanh vào chốn trung
ương, cũng lại khó gặp. Gặp gỡ thiện tri thức, cũng lại khó được. Nghe
pháp cũng khó, phân biệt nghĩa lý cũng lại khó được. Thành tựu các pháp,
việc này cũng khó. Nay, Tỳ-kheo, ngươi nếu [701a01]
thân cận thiện tri thức, thì có thể phân biệt các pháp, cũng có thể
giảng rộng nghĩa này cho người khác. Nếu đã nghe pháp thì có thể phân
biệt. Đã phân biệt pháp rồi thì có thể giảng nói nghĩa của nó. Không có
tưởng dục, tưởng sân nhuế, tưởng ngu si; đã lìa ba độc nên thoát khỏi
sanh, già, bệnh, chết. Nay ta đã nói sơ nghĩa ấy.”
Bấy giờ, Tỳ-kheo kia nhận lãnh lời dạy từ Phật, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Thế tôn rồi lui ra.
Lúc ấy, Tỳ-kheo kia ở nơi vắng vẻ, tư duy về pháp
này, sở dĩ mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, là muốn
tu Phạm hạnh vô thượng, cho đến, như thật biết rằng, Sinh tử đã dứt,
phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau
nữa, biết như thật. Lúc ấy, Tỳ-kheo kia thành A-la-hán.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở tại Ca-lan-đà, trong vườn
Trúc, thành La-duyệt, cùng với đại chúng năm trăm tỳ kheo. Bấy giờ,
A-nan và Đa-kỳ-xa,
đúng giờ, đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. Lúc ấy, Đa-kỳ-xa ở trong
một ngõ hẻm, thấy một người nữ hết sức xinh đẹp hiếm có kỳ đặc ở đời.
Thấy rồi, tâm ý tán lọan, không còn bình thường.
Lúc ấy, Đa-kỳ-xa liền dùng kệ này nói cho A-nan:
Bị lửa dục thiêu đốt,
Tâm ý thật cháy bừng.
Xin nói nghĩa diệt nó,
Để được nhiều lợi ích.
Lúc ấy, A-nan liền nói kệ này đáp:
Biết dục, pháp điên đảo;
Tâm ý thật cháy bừng.
Hãy trừ niệm hình tướng,
Ý dục liền tự dừng.
Lúc ấy, Đa-kỳ-xa lại nói kệ đáp:
Tâm là gốc của thân;
Mắt là nguồn thấy đẹp.
Nằm ngủ thấy đỡ nâng,
Thân như cỏ rối úa.
Lúc ấy, Tôn giả A-nan liền tiến đến, dùng tay phải
xoa đầu Đa-kỳ-xa mà nói kệ này:
Niệm Phật, không tham dục.