36. PHẨM
THÍNH PHÁP
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tùy thời nghe pháp có năm công đức, tùy thời vâng
lãnh không mất thứ lớp. Sao gọi là năm? Điều chưa từng nghe, nay được
nghe; điều đã được nghe, tụng đọc lại; kiến giải không tà lệch; không có
hồ nghi; hiểu nghĩa sâu xa.
Tùy thời nghe Pháp có năm công đức, cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm
cầu phương tiện tùy thời nghe Pháp.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì [703a01]
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Làm nhà tắm có năm công đức. Năm công đức gì? Một
trừ gió, hai khỏi bệnh, ba trừ bụi nhơ, bốn thân thể nhẹ nhàng, năm được
mập trắng. Này Tỳ-kheo, đó gọi là làm nhà tắm có năm công đức. Cho nên,
các Tỳ-kheo, nếu có chúng bốn bộ muốn có năm công đức này, muốn cầu năm
công đức này, hãy tìm cầu phương tiện tạo lập nhà tắm.
“Các Tỳ-kheo hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí người tăm xỉa răng
có năm công đức. Sao gọi là năm? Một trừ gió, hai trừ nước dãi, ba sanh
tạng được tiêu, bốn trong miệng không hôi, năm mắt được trong sạch. Này
Tỳ-kheo, đó gọi là thí người tăm xỉa răng có năm công đức. Nếu thiện
nam, thiện nữ nào cầu năm công thì hãy nghĩ đến việc dùng tăm xỉa răng
bố thí.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các vị có thấy người mổ bò, do nghiệp tài lợi
này, sau đó được cưỡi xe, ngựa, voi lớn không?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa không, bạch Thế tôn.”
Thế tôn bảo:
“Lành thay, Tỳ-kheo, Ta cũng không thấy, không
nghe người mổ bò, sát hại bò, rồi được cưỡi xe, ngựa, voi lớn. Vì sao
vậy? Ta không thấy người mổ bò được cởi xe, ngựa, voi lớn, vì hẳn không
có lý này.
“Thế nào, Tỳ-kheo, các ngươi có thấy người mổ dê,
giết heo, săn bắt nai, sau đó được cởi xe, ngựa, voi lớn không?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Thưa không, bạch Thế tôn.”
Thế tôn bảo:
“Lành thay, các Tỳ-kheo, Ta cũng không thấy, không
nghe người nào mổ bò, hại chúng sanh rồi mà được cưỡi xe, ngựa, voi lớn.
Hoàn toàn không lý này. Tỳ-kheo, các ngươi nếu thấy người giết [703b01]
bò nào cưỡi xe, ngựa, voi lớn thì đó là đức đời trước chớ không phải
phước đời này, đều là do hành vi được làm đời trước mang lại. Nếu các
ngươi thấy người giết dê được cưỡi xe, ngựa, voi lớn thì nên biết người
này, đã gieo phước trong đời trước. Sở dĩ như vậy là vì do tâm giết hại
chưa trừ được. Tại sao vậy? Người gần gũi kẻ ác, ưa thích sát sanh, gieo
trồng tội địa ngục, nếu trở lại nhơn gian thì tuổi thọ rất ngắn. Người
ưa thích trộm cắp, gieo trồng tội địa ngục cũng như người mổ trâu kia.
Mua rẻ bán đắt, lừa dối người đời, không cầu Chánh pháp, cũng giống như
người mổ bò kia do tâm sát sanh nên đưa đến tội lỗi này, không được cưỡi
xe, ngựa, voi lớn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy khởi lòng từ đối với hết
thảy chúng sanh.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo ở trong
vườn cây Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá Vệ . Bấy giờ, Thích Đề-hoàn
Nhân, trong khoảng thời gian co duỗi cánh tay, đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ
sát chân, rồi ngồi qua một bên. Lúc này, Thích Đề-hoàn Nhân bạch Thế
tôn:
“Như lai cũng nói, phàm Như lai xuất thế tất sẽ vì
năm việc. Sao gọi là năm? Chuyển Pháp luân; độ cha mẹ; người không tin
dựng lòng tin; chưa phát tâm Bồ-tát khiến phát ý Bồ-tát; thọ ký thành
Phật trong khoảng thời gian đó. Như lai xuất hiện tất sẽ vì năm nhân
duyên này. Nay mẹ của Như lai tại trời Tam thập tam muốn được nghe Pháp.
Nay Như lai đang ở giữa chúng bốn bộ trong cõi Diêm-phù-lý,
vua và nhân dân đều tập hợp lại. Lành thay, Thế tôn, mong Ngài đến trời
Tam thập tam mà thuyết Pháp cho mẹ.”
Lúc ấy, Thế tôn im lặng nhận lời.
Bấy giờ, Long vương Nan-đà Ưu-bàn-nan-đà
có ý nghĩ như vầy: ‘Các Sa-môn trọc đầu này bay ở trên ta. Ta phải tìm
cách không cho bay qua.’
Rồi Long vương nổi giận phun lửa gió lớn khiến
suốt cả Diêm-phù-lý lửa đốt cháy.
A-nan bạch Phật:
“Trong Diêm-phù-đề này, vì sao có khói lửa này?”
Thế tôn bảo:
“Đây là hai rồng chúa có ý nghĩ nghĩ rằng ‘Các
Sa-môn trọc đầu thường bay trên ta, chúng ta [703c01]
phải chế ngự, không để cho vượt qua hư không.’ Rồi nổi giận phun khói
lửa này. Do nhân duyên này, nên đưa đến biến cố đây.”
Lúc ấy, tôn giả Ca-diếp từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch
Thế tôn:
“Nay con muốn đi chiến đấu với chúng.”
Thế tôn bảo:
“Hai rồng chúa này rất hung ác, khó có thể giáo
hóa. Ông hãy về chỗ ngồi đi.”
Tôn giả A-na-luật từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch Thế
tôn:
“Nay muốn đến phục rồng dữ kia.”
Thế tôn bảo:
“Hai rồng chúa này rất hung ác, khó có thể giáo
hóa. Ông hãy về chỗ ngồi đi.”
Các tôn giả Ly-việt, Ca-chiên-diên, Tu-bồ-đề,
Ưu-đà-di, Bà-kiệt đều từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch Thế tôn:
“Nay con muốn đến hàng phục rồng ác.”
Thế tôn bảo:
“Hai rồng chúa này rất hung ác, khó có thể giáo
hóa, ông hãy về chỗ ngồi đi.”
Lúc ấy, Tôn giả Đại-mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng
dậy, bày vai phải, quỳ gối chấp tay bạch Phật:
“Con muốn đến đó để hàng phục rồng dữ.”
Thế tôn đáp:
“Hai rồng chúa này rất hung ác, khó có thể hàng
phục giáo hóa. Nay thầy làm thế nào để giáo hóa rồng chúa kia?”
Mục-liên bạch Phật:
“Đến đó, trước tiên con hóa hình rất lớn làm rồng
kia sợ khiếp, sau đó lại hóa hình rất là nhỏ và, cuối cùng thì dùng phép
thường mà hàng phục nó.”
Thế tôn bảo:
“Lành thay, Mục-liên! Thầy có khả năng để hàng
phục rồng dữ. Nhưng nay Mục-liên phải giữ vững tâm ý chớ nổi loạn tưởng.
Vì sao vậy? Vì rồng hung ác kia sẵn sàng quấy nhiễu thầy.”
Mục-liên liền đảnh lễ sát chân Phật, rồi trong
khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, biến khỏi nơi ấy, đến trên núi Tu-di.
Lúc ấy, rồng chúa Nan-đà Ưu-bàn-nan-đà đang quấn quanh núi Tu-di bảy
vòng, nổi sân giận tột độ phun ra khói lửa lớn.
Khi ấy, Mục-liên tự ẩn thân mình, hóa làm rồng
chúa lớn có mười bốn đầu, quấn quanh núi Tu-di mười bốn vòng, phun ra
lửa khói lớn dữ dội, ở ngay trên hai rồng chúa.
Rồng chúa Nan-đà Ưu-bàn-nan-đà thấy rồng chúa có
mười bốn đầu, liền sinh lòng sợ hãi tự nói với nhau rằng:
“Hôm nay, chúng ta phải thử xem oai lực rồng chúa
kia xem có thắng được ta không?
Rồi rồng chúa Nan-đà Ưu-bàn-nan-đà quật đuôi vào
biển cả, lấy nước rưới lên đến trời Tam thập tam, nhưng vẫn không chạm
thân Mục-liên. Lúc này, Tôn giả Mục-liên [704a01]
lại thò đuôi vào trong nước biển, nước trào lên đến trời Phạm-ca-di và
lại rưới lên thân hai rồng chúa.”
Khi ấy, hai rồng chúa tự bảo với nhau:
“Chúng ta dùng hết sức lực lấy nước rưới đến trời
Tam thập tam, nhưng rồng chúa lớn này lại vượt lên ta quá nhiều. Chúng
ta chính có bảy đầu, nay rồng chúa này mười bốn đầu. Chúng ta quấn quanh
núi Tu-di bảy vòng, nay rồng chúa này quấn quanh núi Tu-di mười bốn
vòng. Nay, hai chúa rồng ta phải hợp sức cùng chiến đấu nhau.”
Rồi hai chúa rồng nổi cơn thịnh nộ, làm sấm chớp,
sét đánh, phun lửa ngọn lớn. Lúc ấy, Tôn giả đại Mục-liên suy nghĩ,
‘Phàm rồng mà chiến đấu thì nổi lửa, sấm sét. Nếu ta cũng đấu bằng lửa
và sấm sét, nhân dân trong Diêm-phù-lý và, trời Tam thập tam đều sẽ bị
hại. Nay ta hóa hình rất nhỏ để đấu.’
Mục-liên liền hóa ra hình rất nhỏ, chun vào miệng
rồng, rồi từ trong lỗ mũi ra; hoặc vào từ mũi ra từ tai; hoặc vào trong
tai, ra từ mắt; ra từ trong mắt rồi đi lại trên lông mi.
Bấy giờ, hai rồng chúa lòng rất lo sợ, nghĩ thầm:
‘Rồng chúa lớn này rất có oai lực rất lớn mới có thể vào trong miệng rồi
ra từ mũi; vào trong mũi, ra từ mắt. Hôm nay chúng ta thật sự thua. Loài
rồng chúng ta hiện có bốn chủng loại: sinh trứng, sinh thai, sanh nơi ẩm
thấp, hóa sanh; nhưng không ai vượt khỏi chúng ta. Nay rồng chúa này, có
oai lực như vậy thì chúng ta không thể đánh lại. Tánh mạng chúng ta chết
ngay trong chốc lát. Cả hai lòng sợ hãi, toàn thể lông đều dựng đứng.
Mục-liên khi thấy rồng chúa sợ hãi, liền hiện trở
lại nguyên hình và đi trên mi mắt rồng chúa.
Lúc ấy hai rồng chúa trông thấy đại Mục-liên, bèn
nói với nhau:
“Đây là Sa-môn Mục-liên chứ chẳng phải rồng chúa.
Ông này có oai lực thật là kỳ lạ mới có thể đấu với chúng ta.”
Rồi hai rồng chúa bạch Mục-liên:
“Vì sao tôn giả lại quấy nhiễu chúng tôi đến như
vậy? Muốn dạy bảo điều gì phải không?”
Mục-liên đáp:
“Hôm qua các ngươi nghĩ như vầy, ‘Vì sao các
Sa-môn trọc đầu lại thường bay ở trên chúng ta, nay phải chế ngự họ.’”
Rồng chúa đáp:
“Đúng vậy, Mục-liên!”
Mục-liên nói:
“Rồng chúa nên biết, núi Tu-di này là đường đi của
chư thiên, chẳng phải nơi ở của ngươi.”
Rồng chúa đáp:
“Cúi xin tha thứ, không [704b01]
trách phạt chúng tôi. Từ đây về sau chúng tôi sẽ không dám xúc nhiễu,
khởi loạn tưởng ác. Cúi xin ngài cho phép làm đệ tử.”
Mục-liên đáp:
“Các ông chớ tự quy y thân ta. Các ngươi hãy tự
quy y nơi mà ta quy y.”
Rồng chúa bạch Mục-liên:
“Hôm nay chúng con xin tự quy y Như lai.”
Mục-liên bảo:
“Các ngươi không thể ở tại núi Tu-di này mà tự quy
y Thế tôn. Nay hãy cùng ta đến thành Xá-vệ mới được tự quy y.”
Bấy giờ, Mục-liên dẫn hai rồng chúa, trong khoảnh
như co duỗi cánh tay, từ trên núi Tu-di đến thành Xá-vệ. Lúc ấy, Thế tôn
đang thuyết pháp cho vô số chúng. Mục-liên bảo hai rồng chúa:
“Các ngươi nên biết, nay Thế tôn đang thuyết pháp
cho vô số chúng. Các ngươi không thể để nguyên hình mà đến chỗ Thế tôn.”
Rồng chúa đáp:
“Đúng vậy, Mục-liên!”
Rồng chúa bèn hoàn ẩn hình rồng, hóa làm hình
người không cao, không thấp, tướng mạo xinh đẹp như màu hoa đào.
Lúc ấy, Mục-liên đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi qua một bên. Rồng chúa đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân,
ngồi qua một bên. Bấy giờ, Mục-liên bảo rồng chúa:
“Đã đúng lúc, hãy tiến tới trước!”
Rồng chúa nghe Mục-liên nói, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, quỳ xuống chấp tay, bạch Thế tôn:
“Hai dòng họ chúng con một tên là Nan-đà, hai tên
là Ưu-bàn-nan-đà xin quy y Như lai, thọ trì năm giới. Cúi xin Thế tôn
cho phép con làm Ưu-bà-tắc. Nguyện suốt đời không còn sát sanh nữa.”
Thế tôn liền búng ngón tay chấp nhận. Hai rồng
chúa liền trở về chỗ cũ ngồi, muốn được nghe Pháp.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc liền nghĩ như vầy: ‘Vì nhân
duyên gì khiến trong cõi Diêm-phù-đề này có khói lửa như vậy?’
Rồi vua Ba-tư-nặc đi xe bảo vũ ra khỏi thành
Xá-vệ, đến chỗ Thế tôn. Bấy giờ, nhơn dân từ xa thấy vua đến, mọi người
đều đứng dậy nghinh đón: “Khéo đến, Đại vương! Mời đến ngồi đây!”
Lúc ấy, hai rồng chúa im lặng không đứng dậy. Vua
Ba-tư-nặc đảnh lễ sát chân Phật, ngồi qua một bên. Đại vương bạch Thế
tôn:
“Nay, con có việc muốn hỏi, cúi xin Thế tôn diễn
giải từng việc cho.”
Thế tôn bảo:
“Có điều gì, cứ hỏi. Nay là lúc thích hợp.”
Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
“ Nay, vì nhân duyên gì trong Diêm-phù-đề này, có
ánh khói lửa như vậy?”
Thế tôn bảo:
“Do Rồng chúa Nan-đà và Ưu-bàn-nan-đà gây ra.
Nhưng nay Đại vương chớ có [704c01]
kinh sợ. Từ nay không còn biến họa khói lửa nữa.”
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc liền nghĩ thầm: ‘Nay, ta là
Đại vương của một nước, nhơn dân tôn kính, danh tiếng vang khắp bốn
phương. Còn hai người này từ đâu đến, thấy ta đến đây, cũng không đứng
dậy nghinh đón? Nếu ở trong nước ta, ta sẽ bắt nhốt. Nếu ở nơi khác đến,
sẽ bắt giết chúng nó.’
Rồng chúa biết được những ý nghĩ trong tâm vua,
liền nổi giận. Rồng chúa nghĩ như vầy: ‘Chúng ta không có lỗi gì đối với
vua này, mà ông trở lại muốn sát hại ta. Ta phải bắt quốc vương này và
dân chúng nước Ca-di giết hết.’
Rồng chúa liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát
chân Thế tôn rồi ra đi. Rời khỏi Kỳ-hoàn không xa, chúng liền biến mất.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc thấy hai người này đi chưa
lâu, liền bạch Thế tôn:
“Việc nước rất bận rộn, con xin trở về cung.”
Thế tôn bảo:
“Nên biết đúng thời!”
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy
lui đi; bảo quần thần:
“Hai người vừa rồi đi đường nào? Mau bắt chúng!”
Theo lệnh vua, các quần thần liền đuổi theo tìm
kiếm, mà không biết ở đâu, liền trở về trong cung.
Lúc ấy, rồng chúa Nan-đà và Ưu-bàn-nan-đà đều tự
nghĩ như vầy: ‘Chúng ta không lỗi đối với vua kia mà vừa rồi muốn bắt
giết chúng ta. Chúng ta sẽ hại nhân dân của ông ấy, khiến không còn ai
sống sót.’ Nhưng rồng chúa lại tự nghĩ: ‘Nhân dân trong nước có lỗi lầm
gì? Chỉ cần bắt nhân dân trong thành Xá-vệ hại hết.’ Lại nghĩ lại:
‘Người nước Xá-vệ có lỗi lầm gì đối chúng ta? Cần bắt quan lại và quyến
thuộc trong cung vua giết hết.’
Bấy giờ, Thế tôn biết được những ý nghĩ trong tâm
rồng chúa, liền bảo Mục-liên:
“Nay Thầy hãy cứu vua Ba-tư-nặc, đừng để vua bị
rồng chúa Nan-đà và Ưu-bàn-nan-đà làm hại.”
Mục-liên đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn!”
Mục-liên vâng lời Phật dạy, đảnh lễ sát chân Thế
tôn lui đi. Ở trên cung vua, Ngài ẩn thân ngồi kiết già. Lúc ấy, hai
rồng chúa tạo ra sấm vang, sét đánh, mưa to, gió lớn bên trên cung vua,
hoặc mưa gạch đá, hoặc mưa đao kiếm. Chúng chưa kịp rơi xuống đất liền
biến thành hoa sen xanh ở giữa hư không. Rồng chúa lúc này lại càng nổi
giận, mưa núi cao ở trên cung điện. Mục-liên lúc này lại biến chúng [705a01]
thành các loại đồ ăn thức uống. Rồng chúa lúc này lại càng thêm tức giận
bừng bừng, mưa các loại đao kiếm. Mục-liên lúc đó lại biến thành áo quần
rất đẹp. Rồng chúa lúc ấy, lại càng thêm tức giận, lại mưa cát, sỏi, đá,
trên cung vua Ba-tư-nặc, chưa rơi xuống đất đã hóa thành bảy báu. Lúc
này, vua Ba-tư-nặc thấy trong cung điện mưa các thứ bảy báu, vui mừng
hớn hở không tự kiền chế được, liền nghĩ: ‘Người có đức trong
Diêm-phù-đề này không ai lại hơn ta, chỉ trừ Như lai. Vì sao vậy? Vì
trong nhà ta trồng cứ trên một gốc lúa thu hoạch được một đấu gạo, cơm
dùng nước mía nấu, rất là thơm ngon. Nay ở trên cung điện lại có mưa bảy
báu. Ta có thể được làm Chuyển luân thánh vương ư?’ Lúc ấy, vua
Ba-tư-nặc dẫn các cung nữ đi nhặt bảy báu. Hai rồng chúa lúc này, nói
với nhau:
“Điều này có ý nghĩa gì? Chúng ta đến đây để hại
vua Ba-tư-nặc, nhưng sao lại biến hóa đến như thế này? Có bao nhiêu thế
lực, hôm nay đã đem ra tận dụng hết, mà vẫn không thể động đến phần mảy
may nào vua Ba-tư-nặc!”
Ngay khi ấy, rồng chúa trông thấy Mục-liên ngồi
kiết già trên cung điện, chánh thân chánh ý, thân không nghiêng ngã.
Thấy vậy, nghĩ thầm: ‘Đây chắc là do Mục-liên làm ra!’ Lúc ấy, hai rồng
chúa vì thấy Mục-liên nên liền lui đi.
Khi Mục-liên thấy rồng chúa đã đi, liền xả thần
túc, đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên.
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc suy nghĩ: ‘Những lọai đồ ăn
thức uống này không nên dùng trước. Phải đem dâng Như lai trước, sau đó
tự mình dùng.’ Vua Ba-tư-nặc liền cho xe chở châu báu và các loại đồ ăn
uống đến chỗ Thế tôn, bạch:
“Hôm qua, trời mưa bảy báu và thức ăn uống này.
Cúi xin thọ nhận.”
Lúc ấy, đại Mục-liên cách Như lai không xa. Phật
bảo vua:
“Nay Vua hãy đem bảy báu và đồ ăn uống cho đại
Mục-liên. Vì sao vậy? Vì nhờ ân của Mục-liên mà Vua được sanh trở lại
trên đất Thánh hiền.”
Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Vì lý do gì mà nói con sanh trở lại?”
Thế tôn bảo:
“Sáng hôm qua Vua có đến gặp Ta để nghe pháp phải
không? Lúc ấy, có hai người cũng đến nghe pháp. Vua đã nghĩ như vầy: ‘Ta
ở đất nước này là hào quí tối tôn, được mọi người kính trọng, nhưng hai
[705b01]
người này từ đâu đến, thấy ta không đứng dậy nghênh đón?’”
Lúc ấy, vua bạch Phật:
“Đúng vậy, Thế tôn!”
Thế tôn bảo:
“Đó chẳng phải là người, mà chính là rồng chúa
Nan-đà và Ưu-bàn-nan-đà. Biết được ý vua, chúng bảo nhau: ‘Chúng ta
không có lỗi đối với ông vua người này, sao ông lại muốn hại chúng ta?
Ta phải tiêu diệt đất nước này.’ Ta biết được những ý nghĩ trong tâm của
rồng chúa, liền sai Mục-liên: ‘Nay phải cứu vua Ba-tư-nặc, không để cho
rồng chúa làm hại.’ Mục-liên vâng lệnh ta, ẩn hình bên trên cung điện và
tạo ra sự biến hóa này. Rồng chúa lúc ấy, đã nổi giận mưa cát, sỏi, đá,
ở trên cung điện; khi chưa rơi xuống đất, lập tức biến thành bảy báu, y
phục, đồ ăn uống. Vì nhân duyên này, ngày hôm nay Đại vương được sanh
trở lại.”
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc lo sợ đến y lông đều dựng
đứng, liền quỳ gối đi đến trước Như lai bạch:
“Nhờ ơn sâu dày của Thế tôn mà con được cứu mạng
sống!”
Lại lạy sát chân Mục-liên và nói:
“Nhờ ơn Tôn giả mà con được cứu sống.”
Lúc ấy, quốc vương liền nói kệ này:
Nguyện Thế tôn sống mãi.
Mãi mãi hộ mạng con;
Độ thoát khổ, khốn cùng;
Nhờ Thế tôn thoát nạn.
Vua Ba-tư-nặc dùng hương hoa cõi trời rải lên mình
Như lai và nói: “Nay con đem bảy báu này dâng lên ba ngôi báu. Cúi xin
nạp thọ. Nói xong, vua đảnh lễ sát chân, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi
lui đi.”
Lúc ấy, Thế tôn nghĩ: ‘Chúng bốn bộ này, phần lớn
lười biếng, không chịu nghe pháp, cũng không tìm cầu phương tiện để tự
thân tác chứng, cũng không mong đạt những gì chưa đạt, đắc những gì chưa
đắc. Nay Ta làm cho chúng bốn bộ này phải khát ngưỡng giáo pháp .’
Bấy giờ, Thế tôn không bảo cho chúng bốn bộ, cũng
không dẫn theo thị giả; trong khoảnh khắc co duỗi cánh tay biến khỏi
Kỳ-hoàn, lên đến trời Tam thập tam.
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân trông thấy Thế tôn
đến, liền dẫn thiên chúng ra trước nghinh đón Thế tôn, đảnh lễ sát chân,
thỉnh Phật ngồi, rồi thưa:
“Thế tôn khéo đến! xa cách lâu mới được thăm hầu.”
Lúc ấy, Thế tôn nghĩ: ‘Nay ta phải dùng thần túc
thông ẩn thân để mọi người không biết ta ở đâu.’
Thế tôn lại nghĩ: ‘Nay Ta ở trời Tam thập tam, nên
hóa thân to lớn.’
Lúc ấy, tại giảng đường [705c01]
Thiện pháp ở trên trời có phiến đá vàng vuông vức một do tuần. Thế tôn
ngồi kiết già trên phiến đá, vừa trọn cả mặt đá.
Bấy giờ, thân mẫu của Như lai Ma-da, dẫn các thiên
nữ đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân ngồi qua một bên rồi bạch:
“Cách biệt lâu lắm mới được phụng hầu! Nay Thế tôn
đến đây thật là đại hạnh. Tôi hằng mong mỏi, nhớ tưởng gặp Phật, hôm nay
Thế tôn mới đến.” Sau khi Thánh mẫu Ma-da đảnh lễ sát chân, ngồi qua một
bên. Lúc ấy, Thích Đề-hoàn Nhân cũng đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một
bên. Chư thiên trời Tam thập tam cũng đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một
bên. Khi chúng chư thiên thấy Như lai, thì ở đó thiên chúng tăng ích,
A-tu-luân tổn giảm.
Bấy giờ, Thế tôn lần lượt thuyết cho chúng chư
thiên kia các đề tài vi diệu, là luận về bố thí, luận về trì giới, luận
về sanh thiên; dục là tưởng bất tịnh, dâm là sự nhơ xấu, giải thoát là
an lạc. Bấy giờ, Thế tôn khi thấy tâm ý chúng chư thiên khai mở; như
pháp mà chư Phật Thế tôn thường thuyết, là khổ, tập, tận, đạo, Ngài cũng
khắp vì chư thiên mà nói hết. Mọi người ngay trên chỗ ngồi dứt sạch bụi
nhơ, được mắt pháp trong sạch. Lại có mười tám ức thiên nữ thấy được dấu
đạo; ba vạn sáu ngàn thiên chúng được mắt pháp trong sạch. Khi ấy, Mẹ
Như lai từ chỗ ngồi đứng dậy ,đảnh lễ sát chân rồi trở vào trong cung.
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:
“Nay, con phải dùng loại thức ăn gì cúng bữa ăn
Như lai? Là dùng thức ăn cõi người hay thức ăn tự nhiên của cõi trời?”
Thế tôn bảo:
“Hãy dùng thức ăn cõi người mà dọn bữa cho Như
lai. Vì sao vậy? Vì thân Ta sanh ở nhân gian, lớn lên ở nhân gian, thành
Phật ở nhân gian.”
Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn.”
Thích Đề-hoàn Nhân lại bạch Phật:
“Theo thời tiết trên trời hay thời tiết nhân
gian?”
Thế tôn bảo:
“Theo thời tiết nhân gian.”
Đáp:
“Thưa vâng, bạch Thế tôn.”
Lúc ấy, Thích Đề-hoàn Nhân dùng thức ăn cõi người
và lại y theo thời tiết cõi người, dọn bữa ăn cho Như lai.
Bấy giờ, các trời Tam thập tam nói với nhau:
“Nay chúng ta mới thấy Như lai ăn cơm suốt cả
ngày.”
Lúc ấy, Thế tôn bèn nghĩ: ‘Nay Ta phải nhập
tam-muội như vậy, muốn cho chư thiên tiến thì tiến, muốn cho chư thiên
lui thì lui. Rồi Thế tôn liền nhập tam-muội này khiến chư thiên tiến lui
tùy theo thời thích hợp.
Bấy giờ, bốn bộ chúng ở nhơn gian, lâu lắm không
thấy Như lai, liền đến chỗ A-nan, bạch [706a01]
A-nan:
“Nay Như lai đang ở đâu? Chúng con mong mỏi muốn
được gặp.”
A-nan đáp:
“Chúng tôi lại cũng không biết Như lai đang ở
đâu!”
Lúc ấy, vua Ba-tư-nặc, vua Ưu-điền, cùng đến chỗ
A-nan, hỏi A-nan:
“Hôm nay Như lai đang ở đâu?”
A-nan đáp:
“Đại vương, tôi cũng không biết Như lai đang ở
đâu.”
Lúc ấy, vì hai vua nhớ, muốn gặp Như lai, nên sinh
ra bịnh khổ. Bấy giờ quần thần chỗ vua Ưu-điền, tâu vua:
“Đại vương nay mắc bệnh gì?”
Vua bảo:
“Ta vì ưu sầu thành bệnh.”
Quần thần tâu vua:
“Đại vương ưu sầu chuyện gì mà thành bệnh vậy?”
Vua này đáp:
“Vì không thấy Như lai. Nếu không gặp lại Như lai,
chắc ta chết mất.”
Lúc này, quần thần suy nghĩ:
“Phải tìm phương tiện gì để vua Ưu-điền không
chết. Chúng ta nên làm hình tượng Như lai.”
Bấy giờ, quần thần tâu vua:
“Chúng tôi muốn làm hình tượng Phật, để có thể
cung kính, thừa sự, đảnh lễ.”