增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
38
. PHẨM SỨC LỰC
KINH SỐ 1
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật
ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bầy giờ, Thế tôn
bảo các Tỳ-kheo:
“Có sáu loại sức
mạnh phàm thường. Sao gọi là sáu? Trẻ con dùng tiếng khóc làm sức mạnh, muốn nói
điều gì cốt trước phải khóc. Người nữ dùng sân hận làm sức mạnh, nổi sân hận rồi
sau đó mới nói. Sa-môn, Bà-la-môn dùng nhẫn nhục làm sức mạnh, thường nghĩ tự hạ
mình và, hạ mình đối với người sau đó mới trình bày. Quốc vương dùng kiêu ngạo
làm sức mạnh, dùng thế lực cường hào để nói chuyện. Song A-la-hán dùng sự tinh
chuyên làm sức mạnh để nói chuyện. Chư Phật Thế tôn thành tựu đại từ bi, dùng
đại bi làm sức mạnh để làm lợi khắp chúng sanh.
“Này các Tỳ-kheo,
đó gọi là có sáu sức mạnh đời thường này. Cho nên, các Tỳ-kheo hãy học điều này
như vậy.
Bấy giờ các
Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Nghe
như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy tư duy về tưởng vô thường, [717c] phát triển tưởng vô thường, đọan hết
ái Dục giới, ái Sắc giới, ái Vô sắc giới, cũng đọan vô minh, kiêu mạn. Giống như
lấy lửa đốt cây cỏ, cháy sạch hết không còn lưu dấu vết nào. Ở đây cũng như vậy,
nếu tu tưởng vô thường, dứt sạch Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái, vô minh, kiêu
ngạo, vĩnh viễn không còn tàn dư. Vì sao vậy? Vì khi Tỳ-kheo tu tưởng vô thường
thì không có tâm dục. Do không có tâm dục nên có thể phân biệt Pháp, tư duy
nghĩa của nó, không có sầu lo khổ não. Do tư duy nghĩa pháp thì tu hành không
còn ngu si, sai lầm. Nếu thấy có ai tranh cãi, vị ấy liền tự nghĩ: ‘Các hiền sĩ
này không tu tưởng vô thường, không phát triển tưởng vô thường cho nên đưa đến
tranh cãi này. Vị ấy do tranh cãi, không quán nghĩa của nó. Do không quán nghĩa
của nó nên tâm mê lầm. Vị ấy đã chấp vào sai lầm này nên khi chết rơi vào trong
ba đường dữ là ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu tưởng
vô thường và phát triển tưởng vô thường, liền không còn tưởng sân hận, ngu si,
cũng có thể quán pháp và quán nghĩa của nó, sau khi chết sẽ sanh về ba đường
lành trời, người và dẫn đến Niết-bàn.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe
như vầy:
Một
thời Phật ở tại bên bờ sông Ưu-ca-chi.
Bấy giờ, Thế tôn đến dưới một gốc cây, tự trải toạ cụ mà ngồi, chánh thân, chánh
ý, buộc niệm trước mặt.
Lúc
ấy, có một phạm chí
đến chỗ kia. Thấy dấu chân của Thế tôn rất kỳ diệu, phạm chí liền tự nghĩ: ‘Đây
là dấu chân của người nào, là trời, rồng, quỷ thần, càn-đạp-hòa, a-tu-luân,
người hay phi nhân hay là Phạm thiên tổ tiên của ta?’ Lúc ấy, Phạm chí liền theo
dấu chân mà đi tới, từ xa trông thấy Thế tôn ngồi dưới một gốc cây chánh thân,
chánh ý, buộc niệm trước mặt. Thấy vậy, bèn hỏi:
“Ông
là vị trời chăng?”
Thế tôn bảo:
“Ta chẳng phải là trời.”
“Là càn-đạp-hòa chăng?”
Thế tôn đáp:
“Ta cũng chẳng phải là càn-đạp-hòa.”
“Là rồng chăng?”
Đáp:
“Ta chẳng phải là rồng.”
“Là dược-xoa chăng?”
Phật bảo Phạm chí:
“Ta chẳng phải là dược-xoa.”
“Là Tổ phụ chăng?”
“Ta chẳng phải là Tổ [718a] phụ.”
Lúc ấy, Bà-la-môn hỏi Thế tôn:
“Nay Ngài là ai?”
Thế tôn nói:
“Người có ái thì có thủ,
có thủ thì có tham ái, nhân duyên hội hợp sau đó từng cái sanh ra nhau như vậy,
như vậy, năm khổ thạnh ấm không bao giờ chấm dứt. Vì đã biết ái rồi, thì biết
năm dục, cũng biết sáu trần ngoài và sáu nhập trong, tức biết gốc ngọn thạnh ấm
này.”
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Thế gian có ngũ dục;
Ý là vua[6]
thứ sáu.
Biết sáu pháp trong ngoài.
Nên niệm diệt gốc khổ.
“Cho nên phải tìm phương tiện diệt trừ sáu sự trong ngoài.
Phạm chí, hãy học điều như vậy.”
Phạm chí nghe Phật dạy như vậy, tư duy nghiền ngẫm, ôm ấp
trong tâm không rời, liền từ trên chỗ ngồi dứt sạch trần cấu, được mắt pháp
trong sạch.
Bấy giờ Phạm chí nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Xưa, trong lúc Ta còn là Bồ tát, chưa thành Phật đạo, có
nghĩ như vầy: ‘Thế gian này rất là cần khổ, có sanh, có già, có bệnh, có chết,
mà năm thạnh ấm này không hết được nguồn gốc.’ Lúc ấy, Ta lại tự nghĩ: ‘Vì nhân
duyên gì mà có sanh, già, bệnh, chết, lại vì nhân duyên gì đưa đến tai hoạn
này?’ Trong khi đang tư duy, lại sanh nghĩ như vầy: ‘Có sanh thì có già, bệnh,
chết.’
“Trong lúc đang tư duy, bấy giờ lại tự nghĩ: ‘Vì nhân duyên
gì có sanh?’ Ở đây, do hữu mà có sinh. Lại tự nghĩ như vầy: ‘Hữu do đâu mà có?’
Trong khi đang tư duy, lại tự nghĩ như vầy: ‘Hữu này do thủ* mà có.’ Lại tự
nghĩ: ‘Thủ này do đâu mà có?’ Bấy giờ, Ta dùng trí quán sát: ‘Do ái mà có thủ.’
Lại tư duy nữa: ‘Ái này do đâu mà sinh?’ Lại quán sát nữa: ‘Do thọ mà có ái.’
Lại tư duy nữa: ‘Thọ này do đâu mà sinh?” Trong khi đang quán sát: ‘Do xúc mà có
thọ này,’ lại tự nghĩ tiếp: ‘Xúc này do đâu mà có?’ Lúc Ta khởi niệm này:
‘Duyên sáu nhập mà có sự xúc này,’ thời Ta lại tư duy: ‘Sáu nhập này do đâu mà
có?’ Lúc quán sát: ‘Do danh sắc mà có sáu nhập,’ Ta lại tự nghĩ: ‘Danh sắc do
đâu mà có?’ Khi quán sát: ‘Do thức mà có danh sắc,’ thì Ta lại tự nghĩ: ‘Thức do
[718b] đâu mà có?” Khi quán sát: ‘Do hành sinh thức,’ thì Ta lại tự nghĩ: ‘Hành
do đâu mà sinh?’ Khi quán sát, lại thấy: ‘Hành do si mà sinh.’
“Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc,
danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái
duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên chết, chết duyên buồn rầu
khổ não không thể nói hết. Đó gọi là sự tập khởi của khổ thạnh ấm.
“Bấy giờ, Ta lại tự nghĩ: ‘Do nhân duyên gì già, bệnh, chết
diệt?’ Khi Ta quan sát, thấy rằng: ‘Sanh diệt thì già, bệnh, chết diệt.’ Ta lại
tự nghĩ như vầy: ‘Do đâu mà không sinh?’ Quán sát gốc của sinh thì thấy: ‘Hữu
diệt thì sanh diệt.’ Ta lại nghĩ: ‘ Do đâu không có hữu?’ Lại tự nghĩ như vầy:
‘Không thủ thì không hữu.’ Ta lại nghĩ: ‘Do đâu mà thủ diệt?’ Khi Ta quan sát,
thây rằng: ‘Ái diệt thì thủ diệt.’ Lại tự nghĩ như vầy: ‘Do gì mà diệt ái?’ Ta
lại quan sát thấy: ‘Thọ diệt thì ái diệt.’ Lại tư duy: ‘Do gì mà thọ diệt?’ Khi
quan sát thấy: ‘Xúc diệt thì thọ diệt.’ Lại tư duy: ‘Do gì mà xúc diệt?’ Lúc
quan sát thấy: ‘Sáu nhập diệt thì xúc diệt.’ Lại quán sát: ‘Sáu nhập này do gì
mà diệt?’ Lúc đang quan sát thấy: ‘Danh sắc diệt thì sáu nhập diệt.’ Lại quán
sát: ‘Do gì danh sắc diệt? Thức diệt thì danh sắc diệt.’ Lại quán: ‘Thức này do
gì mà diệt?’ Hành diệt thì thức diệt.’ Lại quán: ‘Hành này do gì mà diệt?’ Si
diệt thì hành diệt. Hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh
sắc diệt thì sáu nhập diệt, sáu nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt,
thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì
sinh diệt, sinh diệt thì già, bệnh, diệt; già bệnh diệt thì tử diệt. Đó gọi là
năm thạnh ấm diệt.
“Bấy giờ, Ta lại tự nghĩ như vầy: ‘Thức này là đầu mối tối
sơ đưa con người đến sanh, già, bịnh, chết này, nhưng lại không thể biết nguồn
gốc của sinh, già, bệnh, chết này. Giống như có người ở trong rừng đi theo con
đường nhỏ, đi tới trước một chút thì gặp một con đường lớn cũ, là nơi ngày xưa
mọi người đi trên đó. Lúc này, người ấy liền đi theo con đường đó, đi tới trước
một chút nữa lại thấy thành quách xưa, vườn cảnh ao tắm thảy đều rất tốt tươi.
Nhưng trong thành kia không có người ở. Người này thấy [718c] rồi, quay trở về
bổn quốc, đến trước tâu vua:
“Hôm qua dạo chơi núi rừng, tôi gặp thành quách tốt, cây
cối sum suê tươi tốt, nhưng trong thành ấy không có người dân. Đại vương hãy cho
nhân dân đến cư trú ở thành kia.”
“Nghe người ấy nói xong, bấy giờ quốc vương liền cho nhân
dân ở. Nhờ vậy thành quách này trở lại như xưa, nhân dân đông đúc, vui vẻ vô
cùng.
“Các Tỳ-kheo, nên biết, khi xưa lúc Ta chưa thành Bồ-tát,
học đạo ở trong núi, thấy nơi chốn du hành của chư Phật xa xưa, liền theo con
đường này, liền biết được nguồn gốc sinh khởi của sanh, già, bệnh, chết. Có sinh
thì có diệt, thảy đều phân biệt, biết sinh khổ, sinh tập, sinh diệt, và sinh
đạo, thảy đều biết rõ ràng. Hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập, danh sắc, thức,
hành, si cũng lại như vậy. Vô minh khởi thì hành khởi, những gì được hành tạo
lại do thức. Nay Ta đã biết rõ thức, nên nay vì chúng bốn bộ mà nói về gốc này;
tất cả đều phải biết chỗ phát sanh nguồn gốc này: biết khổ, biết tập, biết diệt,
biết đạo, hãy suy niệm cho rõ ràng. Đã biết lục nhập thì biết sanh, già, bệnh,
chết; lục nhập diệt thì sanh, già, bệnh, chết diệt. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy
tìm cầu phương tiện diệt trừ lục nhập.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn đang thuyết Pháp cho vô số, trăm ngàn vạn
chúng. Khi ấy, A-na-luật ở trên chỗ ngồi kia. A-na-luật ở giữa đại chúng mà ngủ
gục. Khi Phật thấy A-na-luật ngồi ngủ, liền nói kệ này:
Nghe Pháp ưa ngủ nghỉ;
Ý không có thác loạn.
Những pháp Hiền thánh nói
Là điều kẻ trí ưa.
Giống như hồ nước sâu,
Lắng trong không bợn dơ.
Người nghe Pháp như vậy,
Hưởng vui, tâm thanh tịnh.
Cũng như tảng đá lớn,
Gió lay không thể động.
Như vậy, được khen chê,
Tâm không có dao động.
Lúc ấy, Thế tôn bảo A-na-luật:
“Ông sợ pháp vua và sợ giặc cướp mà hành đạo sao?”
A-na-luật đáp:
“Thưa không, Thế tôn!”
Phật hỏi A-na-luật [719a]:
“Vì sao ông xuất gia học đạo?”
A-na-luật bạch Phật:
“Vì ghê tởm già, bệnh, chết, buồn rầu, khổ não này. Vì bị
khổ bức bách, muốn dứt bỏ, cho nên xuất gia học đạo.”
Thế tôn bảo:
“Nay ông là thiện gia nam tử với lòng tin kiên cố xuất gia
học đạo. Hôm nay chính Thế tôn đang thuyết pháp, vì sao ở trong đây ngủ gục?”
Lúc ấy, tôn giả A-na-luật liền rời chỗ ngồi đứng dậy, vén
áo bày vai phải, quỳ gối, chấp tay bạch Phật:
“Từ nay về sau, thân thể tan nát, con quyết cũng không ngồi
trước Thế tôn mà ngủ gục.”
Lúc ấy, tôn giả A-na-luật suốt đêm đến sáng không ngủ,
nhưng không thể trừ được mê ngủ, nhãn căn dần dần tổn thương.
Bấy giờ, Thế tôn bảo A-na-luật:
“Sự nổ lực tinh tấn của ngươi tương ưng với trạo cử. Nếu
lại biếng nhác, thì nó tương ưng với kết. Hành trì của ngươi hiện nay là nên ở
giữa.”
A-na-luật bạch Phật:
“Ở trước Như lai con đã thề, nay không thể làm ngược lại
bổn nguyện.”
Sau đó, Thế tôn bảo Kỳ-vực:
“Hãy chữa trị mắt cho A-na-luật.”
Kỳ-vực đáp:
“Nếu A-na-luật chịu ngủ nghỉ chút ít thì con mới chữa mắt
được.”
Thế tôn bảo A-na-luật:
“Ngươi nên ngủ. Vì sao vậy? Tất cả pháp do ăn mà tồn tại,
không ăn thì không tồn tại. Mắt lấy ngủ nghỉ làm thức ăn. Tai lấy âm thanh làm
thức ăn. Mũi lấy mùi thơm làm thức ăn. Lưỡi lấy vị làm thức ăn. Thân lấy sự trơn
láng làm thức ăn. Ý lấy pháp làm thức ăn. Nay Ta nói: Niết-bàn cũng có thức ăn.”
A-na-luật bạch Phật:
“Niết-bàn lấy gì làm thức ăn?
Phật bảo A-na-luật:
“Niết-bàn lấy sự không phóng dật làm thức ăn. Nương vào
không phóng dật đến được vô vi.”
A-na-luật bạch Phật:
“Tuy nói mắt lấy ngủ nghỉ làm thức ăn, nhưng con không kham
ngủ nghỉ.”
Bấy giờ, A-na-luật đang vá y phục cũ thì mắt từ từ bị hư
hoại, nhưng được thiên nhãn không có tỳ vết. Lúc ấy, A-na-luật dùng pháp thường
để vá y phục, nhưng không thể xỏ chỉ qua lỗ kim. A-na-luật liền tự nghĩ: “Các vị
đắc đạo A-la-hán trên thế gian hãy xỏ kim cho tôi.”
Lúc ấy, Thế tôn, bằng thiên nhãn thanh tịnh, nghe âm thanh
này: “Các vị đắc đạo A-la-hán trên thế gian hãy xỏ kim cho tôi.” Thế tôn liền
đến chỗ A-na-luật bảo rằng:
“Ông đưa kim [719b] lại đây Ta xỏ cho.”
A-na-luật bạch Phật:
“Vừa rồi con có kêu gọi những ai ở thế gian muốn cầu phước
kia, thì hãy xỏ kim cho con.”
Thế tôn đáp:
“Người cầu phước thế gian không có ai hơn Ta. Như Lai đối
với sáu Pháp không bao giờ nhàm chán. Sao gọi là sáu? Một là bố thí, hai là giáo
giới, ba là nhẫn nhục, bốn là thuyết pháp thuyết nghĩa, năm là giúp đỡ chúng
sanh, sáu là cầu đạo Vô Thượng Chánh Chơn. Này A-na-luật, đó gọi là Như Lai đối
với sáu Pháp này không bao giờ nhàm chán.”
A-na-luật bạch:
“Thân Như Lai là Pháp thân chân thật, còn muốn cầu Pháp gì
nữa? Như Lai đã vượt qua biển sanh tử, lại thoát ái trước, mà nay vẫn đứng đầu
trong những người cầu phước!”
Thế tôn bảo:
“Đúng vậy, A-na-luật! Như lời ông nói: ‘Như Lai cũng biết
sáu pháp này mà không bao giờ nhàm chán. Nếu chúng sanh nào biết những việc làm
nơi thân, miệng, ý là nguồn gốc của tội ác, sẽ không bao giờ rơi vào ba đường
dữ. Do chúng sanh kia không biết nguồn gốc tội ác nên đoạ vào trong ba đường
dữ.”
Lúc ấy, Thế tôn liền nói kệ này:
Lực mà thế gian có,
Tồn tại trong trời người;
Lực phước là hơn hết.
Do phước được thành Phật.
“Cho nên, A-na-luật, hãy tìm cầu phương tiện được sáu Pháp
này.
“Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH SỐ 6
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Lúc ấy, một số các Tỳ-kheo vào thành Xá-vệ khất thực, nghe thấy bên
ngoài cửa cung vua Ba-tư-nặc có đám đông người dân giơ tay kêu gào, tỏ vẻ oán
trách: ‘Trong nước có giặc cướp tên Ương-quật-ma
hết sức hung bạo, giết hại người vô số, không từ bi đối với hết thảy chúng sanh.
Nhân dân trong nước không ai là không kinh tởm lo sợ. Mỗi ngày, nó giết một
người, lấy một ngón tay xâu thành chuổi, cho nên gọi là nó là “Chuổi Ngón Tay.”.
Cúi xin Đại vương hãy đi đánh bắt.’
Các Tỳ-kheo sau hi khất thực xong, trở về tinh xá Kỳ-hoàn,
thâu cất y bát, lấy toạ cụ vắt lên vai, đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi
qua một bên. Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch Thế tôn:
[719c] “Chúng con một số đông vào thành Xá-vệ khất thực
nghe thấy bên ngoài cung vua có nhiều người dân kêu than oán trách: ‘Nay trong
nước có giặt cướp tên Ương-quật-ma là người hung bạo, không có tâm từ, giết hại
hết thảy chúng sanh. Người chết, đất nước trống không, đều do kẻ ấy. Nó lại lấy
ngón tay người xâu làm tràng hoa.”
Thế tôn nghe các Tỳ-kheo kia nói xong, liền rời chỗ ngồi
đứng dậy, im lặng ra đi.
Thế tôn ngay sau đó đi đến chỗ tên giặc kia. Những người
kiếm củi, nhặt cỏ, người đi cày, người chăn bò, dê, thấy Thế tôn đi vào con
đường ấy, đều bạch với Phật:
“Sa-môn, chớ có đi theo con đường này. Vì sao vậy? Vì cạnh
đường này có giặc cướp tên Ương-quật-ma đang ở đó. Người dân muốn đi vào đường
này thì phải tập họp mười người, hoặc hai mươi người, hoặc ba mươi, bốn mươi,
năm mươi người, mà vẫn không qua được, bị Ương-quật-ma bắt giết hết. Nếu Sa-môn
Cù-đàm đi một mình không có bạn sẽ bị Ương-quật-ma quấy nhiễu, chuyện này phải
cảnh giác.”
Tuy nghe những lời này nhưng Thế tôn vẫn đi tới, không dừng
lại.
Trong lúc đó, mẹ Ương-quật-ma đem thức ăn đến chỗ
Ương-quật-ma. Lúc này, Ương-quật-ma tự nghĩ: ‘Chuỗi ngón tay của ta đã đủ số
chưa?’ Nó bèn đếm, số ngón tay vẫn chưa đủ. Lại đếm trở lại, chỉ thiếu một ngón
tay người. Ương-quật-ma nhìn quanh quất hai bên, tìm một người lạ để bắt giết,
nhưng nhìn khắp bốn phía đều không thấy người. Nó liền tự nghĩ: ‘Người ta có
dạy, nếu giết hại mẹ thì tất sẽ sanh thiên. Nay mẹ ta đã tự đến đây, ta hãy bắt
giết, được đủ số ngón tay là được sanh lên trời.’
Rồi Ương-quật-ma dùng tay trái nắm đầu mẹ, tay phải rút
kiếm nói với mẹ: ‘Mẹ ơi, hãy đứng lại một lát.’
Lúc ấy, Thế tôn liền nghĩ: ‘Ương-quật-ma này đang tạo ngũ
nghịch.’ Ngài lập tức phóng ánh sáng từ giữa chặng mày chiếu khắp núi rừng ấy.
Lúc ấy, Ương-quật-ma thấy ánh sáng này, liền nói với mẹ: ‘Đây là ánh sáng gì mà
chiếu khắp núi rừng này? Chẳng phải nhà vua tập hợp binh chúng đem công phạt ta
ư?’
Lúc ấy, người mẹ bảo:
“Này con, nên biết, đây chẳng phải ánh sáng của mặt trời,
mặt trăng hay lửa, cũng chẳng phải ánh sáng của Đế Thích, Phạm Thiên vương.”
Bấy giờ, người mẹ liền nói kệ này:
Chẳng phải ánh sáng lửa.
Trời, trăng, hay Thích, Phạm.
[720a] Chim thú không kinh sợ,
Vẫn ca hót như thường.
Ánh sáng rất thanh tịnh,
Khiến người vui vô lượng.
Ắt là đấng Tối thắng,
Thập lực, đến chốn này.
Trong cõi trời và người,
Thiên nhãn nhìn thế giới;
Vì muốn độ cho con
Thế tôn đến nơi này.
Bấy giờ, Ương-quật-ma nghe đến tiếng Phật, vui mừng hớn hở,
không tự dừng được, liền nói:
“Sư phụ con bảo con: ‘Nếu con có thể giết mẹ, hay Sa-môn
Cù-đàm, thì có thể sanh lên trời Phạm thiên.’”
Lúc ấy, Ương-quật-ma bảo mẹ:
“Nay Mẹ đứng đây! Trước hết con bắt Sa-môn Cù-đàm giết, sau
đó hãy ăn.”
Ương-quật-ma liền bỏ mẹ ra mà chạy đuổi theo Thế tôn. Từ xa
trông thấy Thế tôn đến, giống như khối vàng, chiếu khắp mọi nơi. Nó cười mà
nói rằng: ‘Nay Sa-môn này nhất định ở trong tay ta, tất sẽ giết không nghi ngại.
Nhân dân muốn đi vào đường này, họ đều tập họp đông người, mà đi đường này. Vậy
mà Sa-môn này đơn độc không bạn bè. Nay ta sẽ bắt giết ông ta.”
Rồi Ương-quật-ma liền rút kiếm ra, đi ngược về phía Thế
tôn. Trong lúc đó, Thế tôn liền quay ngược đường lại, từ từ mà đi nhưng
Ương-quật-ma chạy rượt theo cũng không thể nào kịp. Khi ấy, Ương-quật-ma bạch
Thế tôn:
“Sa-môn, dừng lại! dừng lại!”
Thế tôn bảo:
“Ta đã tự dừng rồi. Chính ngươi không dừng!”
Ương-quật-ma vừa chạy, vừa từ xa nói kệ này:
Đi, mà lại nói dừng.
Lại bảo ta không dừng.
Nói nghĩa này cho tôi:
Ông dừng, tôi không dừng?
Lúc ấy, Thế tôn liền dùng kệ đáp:
Thế tôn nói đã dừng,
Vì không hại hết thảy.
Nay ngươi có tâm giết,
Không lìa xa nguồn ác.
Ta dừng nơi tâm từ;
Thương giúp cả mọi người.
Ngươi gieo nhân địa ngục,
Không lìa xa nguồn ác.
Ương-quật-ma nghe bài kệ này, liền tự nghĩ: “Ta đã làm việc
ác thật sao? Còn Ngươi bảo ta: ‘Đó là đại tế đàn, được quả báo lớn, [720b] nếu
có thể bắt giết một ngàn người, lấy ngón tay xâu thành chuổi, thì được quả như
sở nguyện mình. Người như vậy, sau khi chết vào chỗ lành, sanh lên trời. Nếu bắt
giết mẹ ruột và Sa-môn Cù-đàm thì sẽ sanh lên Phạm thiên.” Lúc ấy, Phật liền
dùng oai thần, khiến thần thức của nó chợt sáng: “Các sách vở của phạm chí cũng
có nói rằng Như Lai ra đời rất là khó gặp, thật lâu, ức kiếp mới xuất hiện một
lần. Khi vị ấy ra đời, độ người chưa độ, giải thoát người chưa giải thoát. Vị ấy
nói Pháp diệt trừ sáu kiến chấp. Sao gọi là sáu? Người nói có ngã kiến, liền nói
pháp diệt trừ ngã kiến; người nói không có ngã kiền thì cũng vì họ nói pháp diệt
trừ không có ngã kiến; người nói vừa có ngã kiến, vừa không có ngã kiến thì,
cũng vì họ nói pháp diệt trừ vừa có ngã vừa không có ngã. Lại tự quán sát, nói
pháp đã được quán sát, tự nói pháp vô ngã, cũng chẳng phải pháp Ta nói, cũng
chẳng phải pháp Ta chẳng nói. Nếu Như Lai xuất thế sẽ nói pháp diệt trừ sáu kiến
chấp này. Lại nữa, khi ta chạy đi thì có thể đuổi kịp voi, ngựa, xe cộ và nhân
dân, nhưng Sa-môn này đi không nhanh vội, song hôm nay ta không thể theo kịp
người này. Đây chắc phải là Như Lai.”
Lúc ấy, Ương-quật-ma liền nói kệ này:
Tôn giả đã vì
tôi
Mà nói kệ vi
diệu.
Người ác nay
biết chân,
Đều nhờ oai thần
Ngài.
Lập tức bỏ kiếm
bén,
Ném vào trong
hang sâu.
Nay lễ chân
Sa-môn
Liền cầu làm
Sa-môn.
Lúc này, Ương-quật-ma liền đến trước bạch Phật:
“Cúi xin, Thế tôn! Cho phép con làm Sa-môn.”
Thế tôn bảo:
“Hãy đến đây, Tỳ-kheo!” Lập tức Ương-quật-ma liền thành
Sa-môn, mặc ba pháp y.
Bấy giờ, Thế tôn liền nói kệ này:
Nay ông đã cạo
đầu;
Trừ kết sử cũng
vậy.
Diệt kết, đắc
quả lớn;
Không còn sầu,
khổ não.
Ương-quật-ma sau khi nghe những lời này, dứt sạch bụi trần,
được mắt pháp trong sạch.
Bấy giờ, Thế tôn dẫn Tỳ-kheo Ương-quật-ma trở về tinh xá
Kỳ-hoàn, thành Xá-vệ. Trong lúc đó, vua Ba-tư-nặc tập hợp bốn bộ binh, định đánh
dẹp Ương-quật-ma. Khi ấy, vua liền tự nghĩ: ‘Nay ta hãy đến chỗ Thế tôn, đem
nhân duyên này thưa đầy đủ lên Thế tôn. Nếu Thế tôn [720c] có dạy điều gì thì sẽ
phụng hành.’
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc liền tập họp binh bốn bộ, đến chỗ
Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Thế tôn hỏi vua:
“Đại vương, hôm nay sắp đến đâu, mà thân thể đầy bụi bậm
đến như vậy?”
Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Nay trong nước con có giặc cướp tên Ương-quật-ma hết sức
hung bạo, không có lòng từ đối với hết thảy chúng sanh. Đất nước hoang vắng,
nhân dân lưu tán, đều do tên tặc này. Nay nó bắt người giết đi, lấy ngón tay xâu
thành chuổi. Đó là quỷ dữ, chẳng phải là người. Nay con muốn bắt người này mà
giết đi.”
Thế tôn bảo:
“Nếu Đại vương thấy Ương-quật-ma với lòng tin kiên cố đã
xuất gia học đạo, thì sẽ làm sao?”
Vua bạch Phật rằng:
“Còn biết làm gì hơn, là cung kính, cúng dường, tuỳ thời lễ
bái! Nhưng, bạch Thế tôn, nó lại là người ác, không có một mảy may thiện, thường
giết hại, thì có thể có tâm xuất gia học đạo này chăng? Hoàn toàn không thể có
việc ấy!”
Lúc ấy, Ương-quật-ma đang ngồi kiết già cách Thế tôn không
xa, chánh thân, chánh ý, buộc niệm trước mặt. Bấy giờ, Thế tôn đưa tay phải chỉ
và nói với vua:
“Đó là tên cướp Ương-quật-ma.”
Vua nghe những lời này, trong lòng kinh sợ, lông tóc đều
dựng đứng.
Thế tôn bảo vua:
“Chớ sinh lòng sợ hãi, hãy bước đến trước, thì tự vua sẽ tỏ
ý mình.”
Lúc ấy, vua nghe lời Phật dạy, liền đến trước Ương-quật-ma,
nói với Ương-quật-ma:
“Nay ông họ gì?”
Ương-quật-ma đáp:
“Tôi họ Già-già,
mẹ tên Mãn Túc.”
Lúc ấy, vua đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ,
vua hỏi:
“Khéo vui trong chánh pháp này, chớ có lười biếng, tu Phạm
hạnh thanh tịnh để dứt gốc khổ. Tôi sẽ trọn đời cúng dường y phục, đồ ăn thức
uống, giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh.”
Ương-quật-ma im lặng không đáp. Vua liền rời chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ sát chân. Quay trở lại chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một
bên.
Lúc ấy, vua lại bạch với Phật:
“Người chưa hàng khiến hàng, người chưa phục khiến phục.
Thật là kỳ lạ, chưa từng có! Cho đến có thể hàng phục người cực ác. Cầu mong Thế
tôn thọ mạng vô cùng, để nuôi dưỡng nhân dân. Nhờ ơn Thế tôn mà thoát được nạn
này. Việc nước bề bộn, con xin trở về thành.”
Thế tôn bảo:
“Vua nên biết đúng lúc!”
Bấy giờ, quốc vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
[721a] sát chân, rồi lui đi.
Lúc bấy, Ương-quật-ma hành A-lan-nhã, đắp y năm mảnh. Đến
giờ, vị ấy ôm bát, đi đến từng nhà khất thực, một vòng rồi trở lại từ đầu; đắp y
rách vá, thô xấu, tồi tàn, lại ngồi ở giữa trời trống, không che thân thể.
Ương-quật-ma ở nơi vắng vẻ, tự tu hạnh này, vì mục đích mà thiện gia nam tử xuất
gia học đạo, tu vô thượng phạm hạnh, biết như thật rằng, Sinh tử đã dứt, Phạm
hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa. Bấy giờ,
Ương-quật-ma liền thành A-la-hán, lục thông trong suốt không còn bụi dơ.
Sau khi đã thành A-la-hán, đến giờ đắp y, mang bát, vào
thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy, có một thiếu phụ đang sanh khó. Thấy vậy, vị ấy
liền tự nghĩ: ‘Đau khổ thay, chúng sanh chịu bức não
vô hạn.’ Sau khi thọ thực xong, Ương-quật-ma cất y bát, lấy toạ cụ đặt lên vai,
đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ Ương-quật-ma bạch
Thế tôn:
“Vừa rồi, con đắp y, mang bát vào thành Xá-vệ khất thực,
gặp một người nữ thân thể mang thai nặng nề.
Lúc ấy, con liền tự nghĩ: ‘Chúng sanh chịu khổ đến như vậy sao?’”
Thế tôn đáp:
“Ông hãy đến chỗ người phụ nữ ấy, nói như vầy: ‘Từ khi tôi
sanh trong nhà Hiền Thánh đến nay, chưa từng sát sanh. Bằng lời chí thành này
cầu cho người mẹ và thai nhi không gì tai biến!”
Ương-quật-ma đáp:
“Thưa vâng, Thế tôn!”
Ngay trong ngày ấy, Ương-quật-ma liền đắp y, mang bát, vào
thành Xá-vệ, đến chỗ người mẹ kia, nói với cô: “‘Từ khi tôi sanh trong nhà
Hiền Thánh đến nay, chưa từng sát sanh. Bằng lời chí thành này cầu cho người mẹ
và thai nhi không gì tai biến.”
Lúc ấy, người mẹ mang thai liền sanh được.
Một hôm, Ương-quật-ma vào thành khất thực, các nam, nữ lớn
nhỏ, mọi người đều nói với nhau:
“Đó gọi là Ương-quật-ma, đã giết hại chúng sinh không thể
kể, nay lại đi trong thành khất thực.”
Rồi thì, nhân dân trong thành, mọi người lấy gạch đá đả
thương, hoặc dùng dùng dao chém, đầu mặt bị thương, y phục bị rách hết, máu chảy
nhớp thân thể. Liền ra khỏi thành Xá-vệ, đến chỗ Thế tôn. Bấy giờ, từ xa Thế tôn
thấy Ương-quật-ma bị thương tích đầy đầu mặt, máu chảy ướt y, đang đi đến. Thấy
rồi, liền nói:
“Ông hãy nhẫn nhịn! Vì sao vậy? Tội này, đáng ra phải chịu
báo mãi trong một kiếp lâu dài.”
Lúc ấy, Ương-quật-ma liền đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ Ương-quật-ma ở trước Như lai, liền nói kệ này:
Kiên cố nghe
pháp cú;
Kiên cố hành
Phật Pháp;
Kiên cố gần bạn
lành;
Liền đến nơi
diệt tận.
|