增壹阿含經
TĂNG NHẤT A-HÀM
T2n125
Hán dịch:
Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch:
Thích Đức Thắng
Hiệu chú: Tuệ Sỹ
[
MỤC LỤC
]
41. PHẨM CHỚ SỢ
KINH SỐ 1
[744a2] Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Ny câu lầu thuộc nước Ca-tỳ-la-vệ
của dòng họ Thích, cùng chúng đại Tỳ-kheo gồm năm trăm vị.
Lúc ấy, Thích Ma-ha-nam đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát đất,
ngồi qua một phía, rồi bạch Thế tôn rằng:
“Tự thân con nghe Như lai có dạy như vầy, thiện nam, thiện
nữ nào đoạn trừ ba kiết sử thành Tu đà hoàn, gọi là bất thối chuyển, ắt thành
đạo quả, không còn tìm cầu đến các ngoại đạo dị học, cũng không xét đến các
thuyết mà người khác nói. Không có trường hợp nào mà không phải như vậy.
“Nhưng khi con thấy bò, ngựa, lạc đà hung dữ, thì con sợ
hãi đến rợn tóc gáy và nghĩ rằng: Nếu hôm nay mà ta gặp phải tai nạn này chắc sẽ
qua đời và sẽ sanh về đâu?”
Thế tôn bảo Ma-ha-nam :
“Chớ sợ, Ma-ha-nam! Giả sử hôm nay mạng chung, ông sẽ không
đoạ vào ba đường dữ. Vì sao vậy? Có ba thứ dẫn đến tiêu diệt. Ba thứ ấy là: như
có người do tham đắm dâm dục mà phát sanh não loạn, lại có tâm làm hại người
khác.
Nếu không có tâm tham dục này thì sẽ không có tâm sát hại, ở trong đời hiện tại
không phát sanh khổ não. Những ai có pháp ác, bất thiện, thì sẽ tự hại mình. Nếu
không có pháp ấy thì không bị nhiễu loạn, không có sầu ưu. Cho nên, này
Ma-ha-nam, ba ý nghĩa này cho thấy các pháp ác thì đoạ xuống dưới, các pháp
lành thì nổi lên trên. Cũng như thả hủ bơ bị vào trong nước, rồi đạp vỡ; các
mảnh sành liền chìm xuống còn bơ thì nổi lên trên. ở đây cũng vậy, các pháp ác
bất thiện liền chìm xuống, các pháp lành thì nổi lên. Ma-ha-nam, nên biết, ngày
xưa khi chưa thành Phật đạo,
Ta siêng tu khổ hành suốt sáu năm tại Ưu-lưu-tì, không ăn thức ăn ngon. Thân thể
ốm gầy giống như là người trăm tuổi, đều do không ăn mà ra. Khi Ta định đứng
dậy, liền bị té xuống đất. Lúc ấy, Ta lại suy nghĩ: nếu Ta bị chết lúc ấy thì sẽ
sanh về đâu? Và ta nghĩ rằng: Nếu hôm nay Ta chết thì sẽ không đoạ ác đạo, nhưng
ý nghĩa không phải là từ vui đến vui, mà là từ khổ đến vui.
“Sau đó, Ta sống trong hang Tiên nhân,
có nhiều Ni-kiền tử đang học đạo ở đấy. Lúc ấy, có Ni-kiền tử đưa tay chỉ mặt
trời, phơi thân ngoài nắng để học đạo. [744b] Có người ngồi chồm hổm để học đạo.
Bấy giờ, Ta đến chỗ họ, nói với họ rằng: ‘Vì sao các ông không ngồi mà lại dơ
tay, kiểng chân vậy?’ Ni-kiền tử nói: ‘Cù-đàm, nên biết, trước kia Thầy tôi đã
làm việc bất thiện, sở dĩ chúng tôi khổ hành là để diệt tội ấy.
Nay phơi bày thân thể tuy hơi nhục, nhưng tội ấy sẽ được diệt trừ. Cù-đàm, nên
biết, hành dứt hết thì khổ cũng dứt hết; khổ dứt hết thì hành cũng dứt hết.
Khổ, hành dứt hết thì đạt đến Niết bàn.’
“Khi ấy, Ta nói với các Ni-kiền tử rằng: ‘Việc ấy không
đúng. Không phải do hành dứt hết mà khổ dứt hết; cũng không phải do khổ dứt hết
và hành dứt hết mà đạt Niết bàn. Giả sử khổ hānh diệt hết mà đạt đến Niết bàn,
điều đó đúng; nhưng không thể từ vui mà dẫn đến vui.’
Ni kiền tử nói: ‘Vua Tần-tì-sa-la do từ vui mà dẫn đến vui, có gì là khổ?’ Khi
ấy, Ta lại nói với Ni-kiền tử rằng: ‘Cái vui của vua Tần-tì-sa-la làm sao bằng
cái vui của Ta?” Ni-kiền tử nói: ‘Cái vui của vua Tần-tì-sa-la hơn cái vui của
ông.’ Ta lại nói với Ni-kiền tử rằng: ‘Vua Tần-tì-sa-la có thể như Ta ngồi kiết
già bảy ngày bảy đêm không lay động
được không? Hoặc ngồi kiết già sáu, năm, bốn, ba, hai cho đến một ngày được
không?’ Ni kiền tử đáp: ‘Không được, thưa Cù-đàm.’ Thế tôn bảo: “ Ta có thể ngồi
kiết già mà thân hình không lay động*. Thế nào, Ni kiền tử, vậy ai vui hơn?’ Ni
kiền tử đáp: ‘Sa môn Cù-đàm vui hơn.’
“Này Ma-ha-nam, hãy do phương tiện này mà biết rằng, vui
không thể đưa đến vui,
mà vui phải đến từ khổ. Này Ma-ha-nam giống như hai bên làng có ao nước lớn, dài
rộng một do tuần, chứa đầy nước. Nếu có người đến đó lấy một giọt nước; này
Ma-ha-nam, giọt nước đó nhiều hay nước trong hồ nhiều hơn?”
Ma-ha-nam nói: “Nước trong hồ nhiều; chẳng phải một giọt
nước nhiều.”
Thế tôn bảo:
“Ở đây cũng như vậy, đệ tử Hiền Thánh đã vĩnh viễn chấm dứt
các khổ, chỉ còn lại (một ít khổ) cũng như một giọt nước mà thôi. Người chứng
quả thấp nhất trong chúng của Ta trải qua không quá bảy lần sanh, bảy lần chết
nữa thì dứt sạch gốc khổ; nếu dũng mãnh, tinh tấn thì đạt đến gia gia
rồi đắc đạo.”
Rồi Thế tôn lại nói thêm pháp [744c] vi diệu cho Ma-ha-nam
nghe. Sau khi nghe pháp xong, ông đứng dậy ra về.
Bấy giờ Ma-ha-nam nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH SỐ 2
Nghe như vầy:
Một thời, Tôn giả Na-già-bà-la ở trong thành Lộc dã.
Bấy giờ, có một Bà-la-môn tuổi đã già nua, vốn có đôi chút
quen biết đối với Tôn giả Na-già-bà-la. Lúc ấy, Bà-la-môn đó đến chỗ Tôn giả
Na-già-bà-la, đảnh lễ rồi ngồi qua một phía.
Phạm chí nói với Tôn giả Na-già-bà-la rằng:
“Ngài là người sung sướng nhất trong những người sung
sướng.”
Tôn giả Na-già-bà-la nói:
“Vì sao ông nói tôi là người sung sướng nhất trong những
người sung sướng?”
Bà-la-môn đáp:
“Trong vòng bảy ngày, bảy đứa con trai của tôi đều chết.
Chúng đều dũng mãnh, tài cao, trí huệ, khó có ai sánh kịp. Trong vòng sáu ngày
gần đây, mười hai người giúp việc qua đời. Họ đều là những người giúp việc siêng
năng. Trong vòng năm ngày, bốn anh em tôi qua đời. Họ có nhiều nghề, làm gì cũng
giỏi. Bốn ngày gần đây, cha mẹ tôi đã gần trăm tuổi bỏ tôi mà lìa đời. Ba ngày
gần đây, hai người vợ xinh đẹp hiếm có trên đời của tôi đã chết. Lại nữa trong
nhà có tám hầm châu báu, hôm qua tìm mãi không thấy. Những khổ não mà tôi đang
gặp không thể tính hết. Còn tôn giả thì đã vĩnh viễn xa lìa tai hoạ đó, không
còn lo buồn, sống an vui với đạo pháp. Vì lý do đó tôi mới nói ngài là người
sung sướng nhất trong những người sung sướng.”
Lúc ấy, Tôn giả Na-già-bà-la bảo phạm chí ấy rằng:
“Sao ông không tìm phương tiện cho những người ấy không qua
đời.”
Phạm chí đáp:
“Tôi cũng làm nhiều phương tiện để không chết, không bị mất
của, lại tuỳ thời bố thí, tạo các công đức, tế tự chư thiên, cúng dường các phạm
chí trưởng lão, thủ hộ chư thần, tụng các chú thuật, lại có thể xem tinh tú, chế
thuốc thang, bố thí đồ ăn uống ngon lành cho những người nghèo khổ. Những việc
như vậy kể ra không hết nhưng lại không thể cứu mạng sống của họ.”
Bấy giờ, Tôn giả Na-già-bà-la liền nói kệ:
Thuốc thang và
chú thuật,
Y áo, đồ ăn
uống;
Tuy cho nhưng vô
ích,
Vẫn ôm lấy khổ
đau.
[745a] Giả sử cúng tế
thần,
Hương hoa và tắm
gội.
Suy tính nguồn
gốc này,
Không thể chữa
trị được.
Giả sử cho các
vật,
Tinh tấn giữ
phạm hạnh,
Suy tính nguồn
gốc này,
Không thể chữa
trị được.
Phạm chí hỏi:
“Phải làm cách nào để thoát khỏi tai hoạ khổ não này?”
Tôn giả Na-già-bà-la liền nói kệ:
Gốc ân ái, vô
minh,
Phát sanh các
khổ não.
Diệt sạch các
thứ ấy,
Thì không còn
khổ não.
Nghe xong, phạm chí ấy liền nói kệ:
Tuy già chẳng
ngại già,
Hành sự như đệ
tử;
Xin xuất gia học
đạo
Để thoát tai nạn
này.
Rồi thì, Tôn giả Na-già-bà-la trao cho ông ba y, cho ông
ấy xuất gia học đạo và bảo với ông ấy rằng:
“Ông nay là Tỳ-kheo. Hãy quán sát thân này từ đầu đến chân;
xét xem tóc, lông, móng, răng, từ đâu mà đến, hình hài, da thịt, xương, tuỷ,
ruột, bao tử, từ đâu mà đến. Nếu từ bỏ đây, thì sẽ đi về đâu? Vì vậy, Tỳ-kheo
chớ có lo nghĩ nhiều về sự khổ não của thế gian, mà phải quán sát trong lỗ chân
lông này, tìm phương tiện thành tựu bốn đế.
Bấy giờ, Tôn giả Na-già-bà-la liền nói kệ:
Trừ tưởng, chớ
lo nhiều;
Không lâu được
Pháp nhãn.
Hành vô thường,
như điện .
Không gặp phước
lớn này.
Quán từng lỗ
chân lông,
Nguồn gốc của
sanh diệt.
Hành vô thường,
như điện.
Bố thí hướng
Niết bàn.
Sau khi nghe giảng xong, Tỳ-kheo già ấy ngồi ở nơi vắng vẻ
tư duy về mục đích mà thiện nam tử ấy cạo bỏ râu tóc xuất gia học đạo với lòng
tin kiên cố, tu phạm hạnh vô thượng, biết như thật rằng, sanh tử đã hết, phạm
hạnh đã lập, đã làm những việc cần làm, không còn thọ thai trở lại. Bấy giờ,
Tỳ-kheo ấy liền đắc quả A-la-hán.
Có vị thiên vốn là bạn cũ của Tỳ-kheo ấy, thấy vị ấy thành
A-la-hán, liền đến chỗ Tôn giả Na-già-bà-la đứng trên hư không mà [745b] nói kệ
rằng:
Đã đắc giới cụ
túc,
Ở nơi vắng vẻ
ấy.
Đắc đạo, tâm
không chấp;
Trừ sạch nguồn
gốc ác.
Lúc ấy, vị thiên đó rải hoa trời cúng dường tôn giả rồi
biến mất.
Bấy giờ, Tỳ-kheo ấy và vị thiên nghe những điều Tôn giả
Na-già-bà-la nói, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 3
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Hãy quán bảy xứ thiện, lại xét bốn pháp,
ở trong ngay trong đời này được gọi là thượng nhân. Này Tỳ-kheo, thế nào là quán
bảy xứ thiện? Ở đây, Tỳ-kheo đem tâm từ rải khắp một phương, hai phương, ba
phương, bốn phương, bốn hướng và phương trên dưới cũng đều như vậy, làm cho tâm
từ tràn đầy khắp thế gian. Với tâm bi, hỷ, xả*, không, vô tướng, nguyện cũng lại
như vậy.
Các căn đầy đủ, ăn uống điều độ, thường tự giác ngộ; Tỳ-kheo quán bảy pháp như
vậy.
“Tỳ-kheo, xét bốn pháp như thế nào? Ở đây, Tỳ-kheo bên
trong tự quán thân trừ khử sầu ưu, thân ý chỉ; bên ngoài lại quán thân, thân ý
chỉ; trong ngoài quán thân, thân ý chỉ. Bên trong tự quán thọ*, thọ ý chỉ; bên
ngoài lại quán thọ*, thọ ý chỉ; trong ngoài quán thọ*, thọ ý chỉ. Bên trong tự
quán tâm, tâm ý chỉ; tâm ý chỉ; trong ngoài quán tâm tâm ý chỉ; trừ khử sầu ưu,
không còn các khổ hoạn. Bên trong tự quán, pháp ý chỉ; bên ngoài lại quán pháp
ý chỉ; trong ngoài quán pháp ý chỉ. Tỳ-kheo, hãy quan sát bốn pháp như vậy.
“Này Tỳ-kheo quán bảy xứ thiện và xét bốn pháp ấy, ở ngay
trong đời này là bậc thượng nhân. Vì vậy, Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành
tựu bảy xứ thiện và xét bốn pháp ấy. Các Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH SỐ 4
Nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Ny-câu-lũ, nước Ca-tỳ-la-vệ, giữa
những người họ Thích cùng đại chúng Tỳ-kheo gồm năm trăm vị .
Lúc ấy, các Tỳ-kheo đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ sát đất rồi
ngồi qua một phía. Bấy giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế tôn rằng:
“Chúng con muốn đến phương Bắc để du hoá.”
[745c] Thế tôn nói:
“Nên biết thời.”
Rồi Thế tôn lại hỏi các Tỳ kheo:
“Các ngươi đã từ giả Tỳ-kheo Xá-lợi-phất chưa?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Chưa, bạch Thế tôn.”
Thế tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các ông hãy đến từ giả Tỳ-kheo Xá-lợi-phất. Vì sao vậy?
Tỳ-kheo Xá-lợi-phất thường xuyên giáo giới cho những người phạm hạnh, thuyết
pháp không hề mệt mỏi.
Rồi Thế tôn nói pháp vi diệu cho các Tỳ-kheo nghe. Các
Tỳ-kheo sau khi nghe pháp xong, rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ sát chân Thế tôn,
nhiễu Phật ba vòng, rồi ra đi.
Lúc ấy, Xá-lợi-phất đang ở một tháp miếu của những người họ
Thích. Các Tỳ-kheo đến chỗ Xá-lợi-phất, chào hỏi, rồi ngồi qua một phía. Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Xá-lợi-phất rằng:
“Chúng tôi muốn đến phương bắc du hoá trong nhân gian. Nay
xin từ giả Thế tôn.”
Xá-lợi-phất nói:
“Này các Thầy, nên biết, nhân dân, Sa-môn, Bà-la-môn ở
phương Bắc đều thông minh, trí huệ khó ai bì. Nếu có người muốn thử, đế hỏi các
vị rằng, ‘Chư Hiền có chủ trương gì?’ Các Thầy sẽ trả lời như thế nào?”
Các Tỳ-kheo đáp:
“Nếu có ai đến hỏi, chúng tôi sẽ trả lời bằng nghĩa lý này:
“Sắc là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ. Cái gì khổ, cái đó là vô
ngã. Vô ngã là không. Do không, vô ngã nên chúng rỗng không. Đó là điều mà người
trí quán sát. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng vậy, là vô thường, khổ, không, vô
ngã. Những gì là không, vì nó vô ngã nên không. Đó là điều mà người trí học. Năm
ấm này đều rỗng không, vắng lặng Những gì tụ hội bởi nhân duyên, đều sẽ tiêu
diệt, không tồn tại lâu dài. Con đường tám nhánh cùng tu với bảy chi. Những điều
mà Tôn Sư của chúng tôi dạy chính là như vậy.’ Nếu có người Sát-lợi, Bà-la-môn
hay nhân dân đến hỏi, chúng tôi sẽ trả lời với nghĩa lý như vậy.”
Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Các Thầy hãy kiên trì tâm ý, chớ có khinh suất.”
Bấy giời, Xá-lợi-phất nói pháp vi diệu đầy đủ cho các Tỳ
kheo nghe. Các Tỳ kheo nghe xong, liền rời chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
Khi số đông các Tỳ-kheo đi chưa bao xa, Xá-lợi-phất bảo các
Tỳ-kheo:
“Như thế nào là thực hành con đường tám nghành và pháp bảy
chi?”
Số đông các Tỳ-kheo bạch Xá-lợi-phất rằng:
“Chúng tôi từ xa đến đây là để nghe ý nghĩa ấy. Xin Thầy
hãy giảng cho chúng tôi.”
Xá-lợi-phất [746a] đáp:
“Các vị hãy lắng nghe và ghi nhớ kỹ. Tôi sẽ nói.”
Các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Xá-lợi-phất nói:
“Ai nhất tâm niệm chánh kiến, tức là niệm giác ý không rối
loạn. Đẳng trị,
là nhất tâm niệm hết thảy các pháp, tức là pháp giác ý. Đẳng ngữ,
là thân, ý tinh tấn, tức là tinh tấn giác ý. Đẳng nghiệp,
là hết thảy các pháp được sanh, tức là hỷ giác ý. Đẳng mạng,
là biết đủ đối với tài sản Hiền Thánh, xả xả bỏ tài sản thế tục, nhje nhàng thân
thể, tức là khinh an* giác ý. Đẳng phương tiện,
là chứng đắc bốn Thánh đế, trừ sạch các kiết sử, tức là định giác ý. Đẳng niệm,
là quán sát bốn ý chỉ,
thân không bền chắc, thẩy đều rỗng không, vô ngã, tức là xả* giác ý. Đẳng tam
muội,
là đạt được những gì chưa đạt, độ thoát những gì chưa độ thoát, chứng đắc những
gì chưa chứng đắc.
“Nếu có người đến hỏi rằng, ‘Như thế nào là tu tám đạo và
bảy pháp ấy,’ các Thầy hãy trả lời như vậy. Vì sao vậy? Bởi vì Tỳ-kheo nào tu
tám đạo và bảy pháp này, tâm liền được giải thoát khỏi hữu lậu.
“Tôi nhắc lại cho các Thầy rõ, Tỳ-kheo nào tu hành tư duy
con đường tám nhánh và bảy pháp này, Tỳ-kheo ấy liền thành tựu hai quả không
nghi ngờ gì. Hoặc chứng quả A-la-hán. Vả, hãy gác qua việc đó. Nếu không thể tu
tập nhiều, nhưng trong một ngày mà tu hành con đường tám nhánh và bảy pháp này,
phước báo không thể tính hết. Hoặc đắc A-na-hàm hoặc A-la-hán.
“Vì vậy, các Thầy phải tìm cầu phương tiện tu hành con
đường tám nhánh và bảy pháp này, nhất định sẽ chứng đắc đạo không có gì nghi
ngờ.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe những điều Xá-lợi-phất nói, hoan
hỷ phụng hành.
KINH SỐ 5
Nghe như vầy:
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ..
Bấy giờ, Thế tôn bảo Ca-diếp:
“Nay ông đã cao tuổi, ý lực không còn trẻ khỏe, hãy nhận y
áo và đồ ăn của các trưởng giả.”
Ca-diếp bạch Phật rằng:
“Con không thể nhận y áo và đồ ăn của họ. Nay với con, mặc
y vá mảnh này, và tùy thời khất thực, không còn an lạc nào hơn. Vì sao vậy?
Trong tương lai sẽ có các Tỳ-kheo thân thể yếu ớt, tâm tham y đẹp, thức ăn ngon,
nên giảm sút toạ thiền, không kham hành khổ hạnh, nhưng người ấy lại nói, ‘Quá
khứ trong thời Phật, các Tỳ-kheo cũng nhận sự cung thỉnh của người, nhận y áo,
ṭhức ăn. Vì sao chúng ta không làm theo Thánh nhân ngày xưa?’ Do tham đắm y áo,
thức ăn, họ sẽ [746b] cởi bỏ y phục làm bạch y, khiến cho các vị Thánh hiền
không còn oai thần, chúng bốn bộ dần dần suy giảm. Thánh chúng đã giảm bớt thì
tháp miếu Phật cũng sẽ bị huỷ hoại. Tháp miếu Phật bị huỷ hoại cho nên kinh
sách bị thất lạc. Lúc ấy, chúng sanh không còn tinh quang. Do không còn tinh
quang nên tuổi thọ rất ngắn. Bấy giờ, chúng sanh sau khi mạng chung đều đoạ vào
ba đường dữ. Cũng như ngày nay, chúng sanh tạo phước nhiều nên đều được sanh
thiên; chúng sanh trong tương lai vì tạo tội nhiều nên đều đoạ địa ngục.”
Thế tôn nói:
“Lành thay, lành thay, Ca-diếp! Ông đã làm nhiều lợi ích,
làm ruộng phước và bạn lành của mọi người. Ca-diếp, nên biết, hơn một ngàn năm
sau khi Ta nhập Niết bàn sẽ có Tỳ-kheo sút giảm thiền định, không còn thực hành
pháp đầu đà, cũng không có đắp y vá mảnh và đi khất thực, chỉ thích nhận y áo,
thức ăn do trưởng giả mang lại. Không còn ai sống dưới gốc cây, tại chỗ nhàn
tĩnh, mà chỉ ưa trang sức phòng xá. Cũng không dùng đại tiểu tiện làm thuốc,
mà chỉ thích các loại dược thảo rất ngon ngọt. Hoặc ở đây lại tham đắm tài sản,
tiếc lẩn phòng xá, thường xuyên tranh chấp với nhau. Lúc bấy giờ, đàn-việt thí
chủ, dốc lòng chí tín Phật pháp, ưa hành huệ thí, không tiếc lẩn tài vật.
Đàn-việt thí chủ ấy sau khi mạng chung thảy đều sanh lên trời. Nhưng Tỳ kheo
lười biếng thì vào địa ngục.
“Như vậy, Ca-diếp, hết thảy các hành là vô thường, không
tồn tại dài lâu.
“Lại nữa, Ca-diếp, nên biết, trong đời tương lai có Tỳ kheo
tuy cạo đầu những vẫn hành theo nghiệp thế tục; tay trái ẳm con trai, tay phải
ẳm con gái; lại cầm đàn, sáo mà khất thực trên đường phố. Lúc ấy, thí chủ đàn
việt còn thọ phước vô cùng huống gì ngày nay những người khất thực đều tu hành
chân chánh.
“Này Ca-diếp, tất cả các hành đều vô thường, không thể tồn
tại lâu dài.
“Ca-diếp nên biết, trong tương lai, sa môn Tỳ-kheo sẽ xả bỏ
con đường tám nhánh và bảy pháp này, cũng như Pháp bảo mà ngày hôm nay Ta đã
tích tụ trong ba a-tăng-kỳ kiếp. Trong tương lai, các Tỳ-kheo khất thực để tự
nuôi sống bằng sự ca hát giữa đám đông. Đàn-việt thí chủ cho cơm cho chúng Tỳ
kheo đó mà còn được phước, huống là ngày nay mà không được phước sao? Nay Ta
đem pháp này giao cho Tỳ-kheo Ca-diếp và A-nan. Vì sao vậy? Hôm nay, Ta đã gần
tám mươi tuổi. Không bao lâu nữa Như lai sẽ diệt độ. Nay [746c] đem Pháp bảo
giao phó cho hai người. Hãy ghi nhớ đọc tụng, lưu truyền ở thế gian, đừng để
đoạn tuyệt. Nếu ai ngăn cản ngôn giáo của Thánh nhân, người ấy sẽ đoạ vào biên
địa. Hôm nay ta đã giao phó Kinh pháp cho ông, đừng để bị thất thoát.”
Lúc ấy, Ca-diếp và A-nan liền rời khỏi chỗ ngồi, quỳ xuống
chấp tay, bạch Thế tôn rằng:
“Vì sao lại đem giáo Pháp giao phó cho hai con mà không
giao cho vị khác? Lại nữa, trong chúng Như lai, các vị có thần thông bậc nhất
không thể đếm hết, sao Như lai không phó chúc cho các vị đó?”
Thế tôn bảo Ca-diếp rằng:
“Trên trời, trong loài người, ta không thấy người nào có
thể thọ trì Pháp bảo sánh với Ca-diếp và A-nan. Trong chúng Thanh văn cũng không
có ai vượt hơn được hai người này. Chư Phật trong quá khứ cũng có hai người thọ
trì kinh pháp như Ca-diếp và A-nan ngày nay, rất là hy hữu. Vì sao vậy? Tỳ-kheo
hành đầu đà trong thời Phật quá khứ, khi Pháp còn thì vị ấy còn, khi Pháp diệt
vị ấy cũng mất. Tỳ-kheo Ca-diếp của Ta ngày nay lưu lại ở thế gian cho đến khi
Phật Di-lặc ra đời rồi mới nhập diệt. Do đó Tỳ-kheo Ca-diếp hơn các Tỳ-kheo thời
quá khứ. Còn Tỳ-kheo A-nan vì sao lại hơn các thị giả của chư Phật quá khứ? Thị
giả của chư Phật quá khứ nghe các Ngài giảng sau đó mới hiểu; nhưng Tỳ-kheo
A-nan ngày nay Như lai chưa nói đã hiểu; Như lai không nói cũng đều biết hết. Do
bởi nhân duyên này Tỳ-kheo A-nan hơn các thị giả của chư Phật quá khứ.
“Vì vậy, hôm nay Ta giao phó Pháp bảo cho Ca-diếp và A-nan,
đừng để bị khuyết giảm.”
Rồi Thế tôn liền nói kệ rằng:
Hết thảy hành vô thường.
Có sanh ắt có diệt.
Không sanh thì không chết.
Diệt ấy đệ nhất lạc.
Bấy giờ, Đại Ca-diếp và A-nan nghe những điều Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
|