|
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc không phải là ngă. Nếu sắc là ngă, không nên ở
nơi sắc mà bệnh, khổ sanh và cũng không thể có ước muốn khiến như vậy hay
không như vậy đối với sắc. V́ sắc là vô ngă cho nên ở nơi sắc có bệnh, khổ
sanh và nó cũng có ước muốn khiến như vậy, hay không như vậy đối với sắc.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
“Tỳ-kheo, ư ngươi thế nào, sắc là thường hay vô
thường?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo, nếu là vô thường, th́ có phải là khổ?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Là khổ, bạch Thế Tôn.”
“Vậy, nếu vô thường là khổ, th́ nó là pháp biến dịch.
Đa văn Thánh đệ tử ở trong đó có nên thấy là có ngă, khác ngă, hay ở trong
nhau?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Không nên, bạchThế Tôn.”
“Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Cho nên, Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ,
hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng không phải là ngă, không phải
khác ngă, hay không ở trong nhau. Hăy quán sát như vậy. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức lại cũng như vậy.
“Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử, đối với năm thọ ấm này,
hăy quán sát như thật chúng là chẳng phải ngă, chẳng phải ngă sở. Khi quán
sát như thật rồi, th́ đối với thế gian không có ǵ phải chấp thủ. V́ đă
không có ǵ để chấp thủ, nên cũng không có ǵ để đắm trước. V́ đă không có
ǵ để đắm trước, nên tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă
lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết sẽ không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như
vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Lộc dă, nơi Tiên nhân trú
xứ, nước Ba-la-nại.
Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Sắc không có ngă.
Nếu sắc mà có ngă, th́ bệnh, khổ không thể sanh nơi sắc được, cũng không thể
có ước muốn khiến cho như vầy hay không như vầy đối với sắc được. V́ sắc là
vô ngă, cho nên nơi sắc bệnh, khổ sanh và cũng có thể có ước muốn khiến cho
như vầy hay không như vầy được. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.
“Tỳ-kheo, ư ngươi thế nào, sắc là thường hay vô
thường?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo, vô thường là khổ chăng?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Là khổ, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo, vô thường là khổ, th́ nó là pháp biến dịch.
Đa văn Thánh đệ tử ở nơi sắc có nên thấy là ngă, khác ngă, hay ở trong nhau
không?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Không nên, bạch Thế Tôn.”
“Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
“Cho nên, Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ,
hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hăy quán sát như thật tất cả chúng chẳng
phải là ngă, chẳng phải là ngă sở. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng
như vậy.
“Này Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm
này, hăy quán sát như
thật, thấy chẳng phải ngă, chẳng phải ngă sở. Quán sát như
vậy, đối với thế gian đều không có ǵ để thủ. V́ không có ǵ để thủ,
nên không có ǵ để đắm trước.
V́ không có ǵ để đắm trước,
cho nên tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những
ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tinh xá Trúc viên, tại Chi-đề.
Bấy giờ có ba vị Chánh sĩ
mới xuất gia. Đó là Tôn giả A-nậu-luật-đà,
Tôn giả Nan-đề,
Tôn giả Kim-tỳ-la.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết trong tâm họ đang nghĩ
những ǵ, nên răn dạy họ rằng:
“Tỳ-kheo, đây là tâm, đây là ư, đây là thức. Hăy tư
duy điều này. Chớ tư duy điều này. Hăy đoạn trừ dục này, đoạn trừ sắc này,
tự thân tác chứng, thành tựu và an trụ.
“Tỳ-kheo, có sắc nào là thường c̣n, không biến dịch,
tồn tại măi không?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch không, Thế Tôn.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lành thay! Lành thay! Sắc là vô thường, là pháp biến
dịch, yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh. Sắc như vậy từ xưa tới nay, tất
cả đều là pháp vô thường, khổ, biến dịch. Khi đă biết như vậy rồi, th́ tất
cả các lậu, hại, xí nhiên, ưu năo đă từng duyên vào sắc này mà sanh ra, thảy
đều bị đoạn diệt. Khi đă đoạn diệt rồi, th́ không c̣n ǵ để chấp trước. Khi
đă không c̣n ǵ để chấp trước rồi, th́ sống an lạc. Khi đă sống an lạc rồi,
th́ đạt được Bát-niết-bàn. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Khi Đức Phật nói kinh này, ba vị Chánh sĩ lậu hoạêc
không c̣n khởi lên nữa, tâm được giải thoát.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như
vầy:
Khi Đức Phật ở trong vườn xoài Tán cái, bên bờ sông
Bạt-đề, nước Ma-thâu-la.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hăy an trú nơi ḥn đảo chính ḿnh,
an trú nơi nương tựa chính ḿnh,
an trú nơi ḥn đảo pháp,
an trú nơi nương tựa pháp,
chứ đừng an trú nơi ḥn đảo nào khác, hay nương tựa nơi nào khác.
“Tỳ-kheo hăy quán sát chân chánh, an trú nơi ḥn đảo
chính ḿnh, an trú nơi nương tựa chính ḿnh, an trú nơi ḥn đảo pháp, an trú
nơi nương tựa pháp, chứ đừng an trú nơi ḥn đảo nào khác, hay nơi nương tựa
nào khác.
“Do nhân ǵ mà ưu, bi, khổ, năo sanh? Tại sao có bốn?
Do bởi đâu bị cái ǵ trói buộc?
Làm sao tự quán sát, ưu, bi, khổ, năo chưa sanh nay sanh; ưu, bi, khổ, năo
đă sanh nay lại tăng trưởng rộng?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của
pháp. Cúi xin Đức Thế Tôn v́ chúng con mà nói, sau khi chúng con nghe xong,
sẽ y như những lời dạy mà làm theo.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ v́ các ông mà
nói.
“Này các Tỳ-kheo, có sắc, nhân sắc mà trói buộc vào
sắc; tự quán sát ưu, bi, khổ, năo chưa sanh nay sanh, đă sanh rồi nay lại
tăng trưởng rộng. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
“Tỳ-kheo, có sắc nào là thường hằng, không biến dịch,
tồn tại măi măi không?”
Đáp:
“Bạch không, Thế Tôn.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Lành thay! Lành thay! Tỳ-kheo, sắc là vô thường. Nếu
thiện nam tử biết sắc là vô thường, khổ, biến dịch, dục, diệt tận, tịch tĩnh;
từ xưa tới nay tất cả sắc đều là pháp vô thường, khổ, biến dịch; biết rồi,
nếu sắc là nhân duyên sanh ra ưu, bi, khổ, năo, th́ nên đoạn trừ chúng. Khi
đă đoạn trừ rồi, th́ không c̣n ǵ để chấp trước. V́ không chấp trước nên
sống an vui. Khi đă sống an vui rồi, th́ đó gọi là Niết-bàn. Đối với thọ
tưởng, hành và thức lại cũng như vậy.”
Khi Đức Phật nói kinh này, th́ mười sáu Tỳ-kheo không
sanh các lậu, tâm đạt được giải thoát.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ tóm tắt:
Trúc viên,
Tỳ-xá-ly,
Thanh
tịnh, chánh quán sát,
Vô
thường, khổ, phi ngă,
Năm, ba và
mười sáu.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ta không tranh luận với thế gian. Thế gian tranh
luận với Ta. V́ sao vậy? Tỳ-kheo, nếu người nào nói đúng pháp, th́ người ấy
không tranh luận với thế gian.
“Những ǵ người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có.
Thế nào là người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có? Tỳ-kheo, sắc là vô
thường, khổ, là pháp biến dịch; người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có.
Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch; người
trí thế gian nói có, th́ Ta cũng nói có.
“Những ǵ người trí thế gian nói không, Ta cũng nói
không. Thế nào là người trí thế gian nói không, Ta cũng nói không? Tỳ-kheo,
sắc thường hằng, không biến dịch, tồn tại măi măi, là điều người trí thế
gian nói là không, th́ Ta cũng nói là không. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành,
thức là thường hằng, không biến dịch, tồn tại măi măi; là điều người trí nói
không, th́ Ta cũng nói không. Đó gọi là người trí thế gian nói không, Ta
cũng nói không.
“Tỳ-kheo, có những pháp thế gian, ở trong thế gian,
Ta đă tự chứng tri, tự giác ngộ, rồi v́ mọi người mà phân biệt, giảng nói,
hiển thị, nhưng những kẻ mù không có mắt trong thế gian đă không biết, không
thấy, đó không phải là lỗi của Ta.
“Tỳ-kheo, những ǵ là pháp thế gian ở trong thế gian
mà Ta đă tự chứng tri, tự giác ngộ, rồi v́ mọi người phân biệt, giảng nói,
hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết không thấy? Tỳ-kheo, đó
là, sắc là pháp vô thường, khổ, biến dịch, nó là pháp thế gian ở trong thế
gian. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, là pháp thế gian ở
trong thế gian.
“Tỳ-kheo, đó là pháp thế gian ở trong thế gian, mà Ta
đă tự chứng tri, đă tự giác ngộ, rồi v́ mọi người phân biệt, giảng nói, hiển
hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết, không thấy. Đối với những kẻ
mù, không mắt, không biết, không thấy kia, Ta làm ǵ được.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Người đời làm nghề thấp hèn, bằng đủ mọi cách mưu
sinh t́m cầu của cải, mà được giàu sang; điều đó người đời ai cũng biết. Như
điều mà người đời biết, Ta cũng nói như vậy. V́ sao? Chớ nghĩ Ta khác người
đời.
“Tỳ-kheo, giống như cùng một món đồ, có nơi người ta
gọi là kiền-tỳ, có nơi gọi là bát, có nơi gọi là chủy-chủy-la, có nơi gọi là
giá-lưu, có nơi gọi là tỳ-tất-đa, có nơi gọi là bà-xà-na, có nơi gọi là
tát-lao,
theo sự hiểu biết chỗ này hay chỗ kia. Ta cũng nói như vậy. V́ sao? Đừng
nghĩ Ta khác người đời.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, có
pháp thế gian mà Ta đă tự chứng tri, đă tự giác ngộ, rồi v́ mọi người
phân biệt, giảng nói, hiển hiện, nhưng
những kẻ mù không mắt, không biết, không thấy. Đối với những kẻ mù, không
mắt, không biết, không thấy kia, Ta làm ǵ được.”
“Tỳ-kheo, những ǵ là pháp thế gian ở trong thế gian
mà Ta đă tự chứng tri, tự giác ngộ, rồi v́ mọi người phân biệt, giảng nói,
hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết, không thấy? Tỳ-kheo, đó
là, sắc là pháp vô thường, khổ, biến dịch, nó là pháp thế gian ở trong thế
gian. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, là pháp thế gian ở
trong thế gian.
“Tỳ-kheo, đó là pháp thế gian ở trong thế gian, mà Ta
đă tự biết, tự thấy,… cho đến, những kẻ mù không mắt, không biết không thấy,
th́ Ta làm ǵ được!”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm loại hạt giống. Năm loại đó là ǵ? Đó là, hạt
giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt,
hạt giống tự rụng, hạt giống từ quả. Năm loại hạt giống này tuy không bị
gián đoạn, không bị hư hoại, không bị mục thối, không bị trúng gió,
vừa chín, chắc hạt, có đất, nhưng nếu không có nước,
th́ những loại hạt giống đó không thể sanh trưởng lớn mạnh được. Nếu những
hạt giống mới vừa chín tới, chắc hạt này, tuy không bị gián đoạn, không bị
hư hoại, không bị mục thối, không bị trúng gió, có nước, nhưng nếu không có
đất, th́ chúng cũng không sanh trưởng lớn mạnh được. Nếu những hạt giống mới
vừa chín tới, chắc hạt này, mà không bị gián đoạn, không bị hư hoại, không
bị mục thối, không bị trúng gió, có nước, có đất đầy đủ, th́ những hạt giống
này sẽ sanh trưởng lớn mạnh.
“Tỳ-kheo, năm loại hạt giống này được ví cho các thọ
ấm cùng hiện hữu với thức. Đất được ví cho bốn thức trụ.
Nước được ví cho hỷ tham.
Bốn thủ
vin bám nơi thức mà trụ. Bốn là những ǵ? Thức trụ ở trong sắc, vin bám sắc,
hỷ tham được ướt nhuần, sanh trưởng lớn mạnh. Cũng vậy, thức trụ trong thọ,
tưởng và hành, vin bám thọ, tưởng, hành, hỷ tham được ướt nhuần, sanh trưởng
lớn mạnh.
“Tỳ-kheo, thức ở trong đó, hoặc đến, hoặc đi, hoặc
hiện, hoặc mất, hoặc sanh trưởng lớn mạnh.
“Tỳ-kheo, nếu ĺa sắc, thọ, tưởng, hành mà thức có
đến, có đi, có hiện, có mất, có sanh, th́ chỉ có trên ngôn thuyết, chứ nếu
hỏi đến th́ sẽ không biết, càng làm cho si mê, v́ không phải là cảnh giới.
“Đối với sắc giới mà ĺa tham. Khi đă ĺa tham rồi,
sự trói buộc bởi ư sanh
và sự ngưng trệ nơi sắc bị đoạn trừ.
Khi sự trói buộc bởi ư sanh
và sự ngưng trệ nơi thức bị đoạn trừ rồi, th́ sự vin bám bị cắt đứt.
Khi sự vin bám bị cắt đứt rồi, th́ thức cũng không c̣n chỗ trụ để sanh
trưởng lớn mạnh trở lại. Cũng vậy, đối với thọ, tưởng và hành giới
ĺa tham. Khi đă ĺa tham rồi, th́ ư sanh xúc
và sự ngưng trệ nơi hành bị đoạn trừ. Khi ư sanh xúc và sự ngưng trệ nơi
hành bị đoạn trừ rồi, th́ sự vin bám bị cắt đứt. Khi sự vin bám bị cắt đứt
rồi, th́ thức cũng không c̣n chỗ trụ để sanh trưởng lớn mạnh trở lại. V́ đă
không sanh trưởng cho nên không tác hành.
Khi đă không tác hành, th́ trụ vững.
Do an trụ vững mà tri túc. Do tri túc mà giải thoát.
Do giải thoát mà đối với các thế gian không c̣n ǵ để thủ, không c̣n ǵ để
chấp trước. Khi đă không c̣n ǵ để thủ và không c̣n ǵ để chấp trước, do đó
tự ḿnh giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những việc
cần làm đă làm xong, tự biết sẽ không c̣n tái sanh đời sau nữa.’
“Ta nói thức này, không đi sang Đông, Tây, Nam, Bắc,
bốn phía, trên, dưới. Nó không đi đến đâu cả, mà chỉ ngay trong đời hiện tại
sẽ nhập Niết-bàn, tịch diệt, thanh lương, thanh tịnh, chân thật.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Phong trệ,
th́ không giải thoát. Không phong trệ, th́ được giải thoát.
“Thế nào là phong trệ không giải thoát?
“Tỳ-kheo, thức vin bám vào bốn thủ ấm mà trụ. Bốn là
những ǵ? Thức bị phong trệ bởi sắc mà trụ. Cũng vậy, thức bị phong trệ bởi
thọ, tưởng và hành mà trụ… cho đến chẳng phải là cảnh giới.
Đó gọi là phong trệ nên không giải thoát.
“Thế nào là không bị phong tỏa tŕ trệ, th́ giải
thoát?
“Đối với sắc giới ly tham; với thọ, tưởng, hành mà ly
tham… cho đến thanh lương, thanh tịnh, chân thật. Đó gọi là không bị phong
trệ, th́ được giải thoát.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành,
thức thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm như thật tri.
Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về tai hại
của sắc và về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành,
thức, về sự tập khởi của thức, về vị ngọt của thức, về tai hại của thức và
về sự xuất ly thức.
“Thế nào là như thật tri về sắc? Những ǵ là sắc là
tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật
tri về sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc? Đối
với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về
sự tập khởi của sắc.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên
vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri
về vị ngọt của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy,
như thật tri về sự tai hại của sắc.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với
sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục
tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.
“Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ
phát sanh từ nhăn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ư xúc. Đó
gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.
“Thế nào là như
thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ.
Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc
duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri
về vị ngọt của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là tai hại của thọ. Như vậy,
như thật tri về sự tai hại của thọ.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với
thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục
tham. Đó gọi là ĺa thọ. Như vậy, như thật tri về sự ĺa thọ.
“Thế nào là như thật tri về về tưởng? Có sáu tưởng
thân. Tưởng phát sanh bởi nhăn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân,
ư xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự
tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập
khởi của tưởng.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc
do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật
tri về vị ngọt của tưởng.
“Thế nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như
vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.
“Thế nào là như
thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn
trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự ĺa tưởng. Như vậy,
như thật tri về sự ĺa tưởng.
“Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có
sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhăn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi,
thân, ư xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.
“Thế nào là như
thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của
hành. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc
do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri
về vị ngọt của hành.
“Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành?
Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành.
Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với
hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục
tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.
“Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân.
Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Đó gọi là thức. Như vậy, như
thật tri về thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự
tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập
khởi của thức.
“Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc
do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy, như thật tri
về vị ngọt của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự tại hại của thức? Thức
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy,
như thật tri về sự tai hại của thức.
“Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với
thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục
tham. Đó gọi là sự ĺa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức.
“Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà
biết như vậy, mà thấy như vậy, th́ do biết như vậy, thấy như vậy người đó
hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng.
Nếu người nào hướng đến chân chánh, th́ ta nói người đó đă được thể nhập.
Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như
thật, thấy như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc sanh yểm
ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được giải thoát. Nếu người nào
đă đạt được tâm giải thoát, th́ người đó thuần nhứt.
Người nào đă được thuần nhứt, th́ phạm hạnh đă lập. Người nào phạm hạnh đă
lập, không c̣n bị ai khống chế.
Đó gọi là biên tế của khổ.
Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có bảy xứ thiện,
với ba phương pháp quán nghĩa,
hoàn toàn
ở trong trong pháp này mà chứng đắc lậu tận,
đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này mà tự tri, tự
thân chứng ngộ cụ túc và an trụ, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh
đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’
“Tỳ-kheo, thế nào là bảy xứ thiện? Tỳ-kheo biết như
thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự tận diệt của sắc,
về con đường đưa đến sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại
của sắc, về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, biết như thật về thọ, tưởng, hành,
thức; biết như thật về sự tập khởi của thức, về sự tận diệt của thức, về con
đường đưa đến sự diệt tạân của thức, về vị ngọt của thức, về sự tai hại của
thức, về sự xuất ly của thức.
“Thế nào là biết như thật về sắc? Những ǵ là sắc là
tất cả bốn đại và sắc do bốn đại tạo ra. Đó gọi là sắc. Như vậy là biết như
thật về sắc.
“Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của sắc? Ái
hỷ là sự tập khởi của sắc. Như vậy là biết như thật về sự tập khởi của sắc
“Thế nào là biết
như thật về sự đoạn tận của sắc? Ái hỷ diệt. Đó gọi là sự diệt tận của sắc.
Như vậy là biết như thật về sự diệt tận của sắc.
“Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự tận
diệt của sắc? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là con
đường đưa đến sự tận diệt của sắc. Như vậy là biết như thật về con đường đưa
đến sự tận diệt của sắc.
“Thế nào là biết như thật về vị ngọt của sắc? Hỷ lạc
do duyên vào sắc mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy là biết như
thật về vị ngọt của sắc.
“Thế nào là biết như thật về sự tai hại của sắc? Sắc
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy
là biết như thật về sự tai hại của sắc.
“Thế nào là biết như thật về sự xuất ly sắc? Đối với
sắc mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi
là sự xuất ly sắc. Như vậy là biết như thật về sự xuất ly sắc.
“Thế nào là biết như thật về sự hiện hữu của thọ? Có
sáu loại thọ: mắt tiếp xúc sanh ra thọ và tai, mũi, lưỡi, thân, ư khi tiếp
xúc sanh ra thọ, đó gọi là sự hiện hữu của thọ. Như vậy là biết như thật về
sự hiện hữu của thọ.
“Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thọ? Sự
tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy là biết như thật về sự tập
khởi của thọ.
“Thế nào là biết như thật về sự đoạn tận của thọ? Khi
xúc diệt, th́ đó là sự diệt tận của thọ. Như vậy là biết như thật về sự diệt
tận của thọ.
“Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự tận
diệt của thọ? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến... cho đến chánh định, đó gọi là
con đường đưa đến sự tận diệt của thọ. Như vậy là biết như thật về con đường
đưa đến sự tận diệt của thọ.
“Thế nào là biết như thật về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc
do duyên thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy là biết như thật về
vị ngọt của thọ.
“Thế nào là biết như thật về sự tai hại của thọ? Thọ
là vô thường, khổ, là biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thọ. Như vậy là
biết như thật về sự tai hại của thọ.
“Thế nào là biết như thật về sự xuất ly thọ? Nếu ở
nơi thọ mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó
gọi là sự ĺa thọ. Như vậy là biết như thật về sự ĺa thọ.
“Thế nào là biết như thật về tưởng? Có sáu tưởng thân.
Tưởng phát sanh từ xúc của mắt; tưởng phát sanh từ xúc của tai, mũi, lưỡi,
thân, ư. Đó gọi là sự hiện hữu của tưởng. Như vậy là biết như thật về sự
hiện hữu của tưởng.
“Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của tưởng?
Tập khởi của xúc là tập khởi của tưởng. Như vậy là biết như thật về sự tập
khởi của tưởng.
“Thế nào là biết như thật về sự diệt tận của tưởng?
Diệt tận xúc là diệt tận tưởng. Như vậy là biết như thật về sự đoạn diệt của
tưởng.
“Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự
diệt tận của tưởng? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến... cho đến chánh định. Đó
gọi là con đường đưa đến sự đoạn diệt của tưởng. Như vậy là biết như thật về
con đường đoạn diệt của tưởng.
“Thế nào là biết như thật về vị ngọt của tưởng? Hỷ
lạc nhờ duyên vào tưởng mà sanh ra. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy là
biết như thật về vị ngọt của tưởng.
“Thế nào là biết như thật về sự tai hại của tưởng?
Tưởng làø vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng.
Như vậy là biết như thật về sự tai hại của tưởng.
“Thế nào là biết
như thật về sự xuất ly tưởng? Nếu ở nơi tưởng mà điều phục dục tham, đoạn
trừ dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly tưởng. Như vậy là
biết như thật về sự xuất ly tưởng.
“Thế nào là biết như thật về hành? Có sáu tư thân. Tư
phát sanh từ xúc của mắt. Tư phát sanh từ xúc của tai, mũi, lưỡi, thân, ư.
Đó gọi là hành. Như vậy là biết như thật về sự hiện hữu của hành.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của hành? Sự
tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy là biết như thật về sự tập
khởi của hành.
“Thế nào là biết như thật về sự diệt tận của hành? Sự
diệt tận của xúc là sự diệt tận của hành. Như vậy là biết như thật về sự
diệt tận của hành.
“Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự
diệt tận của hành? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến cho đến chánh định. Đóù gọi
là con đường đưa đến sự diệt tận của hành. Như vậy là biết như thật về con
đường đưa đến sự diệt tận của hành.
Thế nào là biết như thật về vị ngọt của hành? Hỷ lạc
do duyên vào hành mà sanh ra, nên gọi là vị ngọt của hành. Như vậy là biết
như thật về vị ngọt của hành.
“Thế nào là biết như thật về sự tai hại của hành?
Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành.
Như vậy là biết như thật về sự tai hại của hành.
“Thế nào là biết như thật về sự xuất ly hành? Nếu ở
nơi hành mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua được dục tham.
Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy là biết như thật về sự xuất ly hành.
“Thế nào là biết như thật về thức? Có sáu thức thân.
Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Đó gọi là sự hiện hữu của thức. Như
vậy là biết như thật về sự hiện hữu của thức.
“Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thức? Sự
tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy là biết như thật về
sự tập khởi của thức.
“Thế nào là biết như thật về sự diệt tận của thức? Sự
diệt tận của danh sắc là sự diệt tận của thức. Như vậy là biết như thật về
sự diệt tận của thức.
“Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự
diệt tận của thức? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến cho đến chánh định. Đó gọi
là con đường đưa đến sự diệt tận của thức. Như vậy là biết như thật về con
đường đưa đến sự diệt tận của thức.
“Thế nào là biết như thật về vị ngọt của thức? Hỷ lạc
do duyên thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy là biết như thật
về vị ngọt của thức.
“Thế nào là biết như thật về sự tai hại của thức?
Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức.
Như vậy là biết như thật về sự tai hại của thức.
“Thế nào là biết như thật về sự xuất ly thức? Nếu ở
nơi thức mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua khỏi dục tham.
Đó gọi là sự xuất ly thức. Như vậy là biết như thật về sự xuất ly thức.
“Tỳ-kheo, đó gọi là bảy xứ thiện.
“Thế nào là ba phương pháp quán nghĩa? Nếu, Tỳ-kheo ở
nơi hoang vắng, dưới gốc cây, hay nơi đồng trống, quán sát ấm, giới, nhập
bằng phương tiện chân chánh
mà tư duy nghĩa của chúng. Đó gọi là ba phương pháp quán nghĩa của Tỳ-kheo.
“Đó gọi là bảy xứ thiện và ba phương pháp quán nghĩa
của Tỳ-kheo, hoàn toàn ở trong trong pháp này mà chứng đắc lậu tận, đắc vô
lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này mà tự tri, tự thân
chứng ngộ cụ túc và an trụ, biết rằng, ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập,
những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Chấp thủ nên sanh đắm trước.
Không chấp thủ, không đắm trước. Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ v́ các
ông mà nói.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thưa vâng, chúng con xin theo lời dạy.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Thế nào là do chấp
thủ nên sanh đắm trước? Phàm phu ngu si không học, đối với sắc thấy là ngă,
khác ngă, hay ở trong nhau;
thấy sắc là ngă, hay ngă sở để mà chấp thủ. Khi đă chấp thủ, nếu sắc kia
chuyển biến hay đổi khác, th́ tâm cũng chuyển theo.
Khi tâm đă chuyển theo, th́ sanh ra sự chấp thủ, nắm giữ tâm mà trụ.
Sau khi trụ, sanh ra sợ hăi, chướng ngại tâm loạn,
do thủ trước
vậy.
“Phàm phu ngu si vô học, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức
thấy là ngă, khác ngă, hay ở trong nhau; thấy thức là ngă, hay ngă sở để mà
chấp thủ. Khi đă chấp thủ, nếu thức kia chuyển biến hay đổi khác, th́ tâm
cũng chuyển theo. Khi tâm đă chuyển theo, th́ sanh ra sự chấp thủ, nắm giữ
tâm mà trụ. Sau khi trụ, sanh ra sợ hăi, chướng ngại tâm loạn; do thủ trước
vậy. Đó gọi là thủ trước.
“Thế nào là không thủ, th́ không đắm? Đa văn Thánh đệ
tử ở nơi sắc không thấy ngă, khác ngă, hay ở trong nhau; ở nơi sắc không
thấy ngă và ngă sở để mà chấp thủ. Không thấy ngă và ngă sở để mà chấp thủ,
khi sắc kia chuyển biến, hay đổi khác, th́ tâm cũng không chuyển theo. Tâm
không chuyển theo, không sanh thủ trước, nắm giữ tâm mà trụ. Do không nắm
giữ tâm mà trụ, không sanh sợ hăi, chướng ngại, tâm loạn; do không thủ trước
vậy.
“Cũng vậy, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức không thấy
ngă, khác ngă, hay ở trong nhau; ở nơi thức không thấy ngă và ngă sở để mà
chấp thủ. Không thấy ngă và ngă sở để mà chấp thủ, khi thức kia chuyển biến,
hay đổi khác, th́ tâm cũng không chuyển theo. Tâm không chuyển theo, không
sanh thủ trước, nắm giữ tâm mà trụ. Do không nắm giữ tâm mà trụ, không sanh
sợ hăi, chướng ngại, tâm loạn; do không thủ trước vậy. Đó gọi là không thủ
trước.
“Đó gọi là thủ trước và không thủ trước.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có sanh th́ sẽ có trói buộc,
nếu không sanh th́ sẽ không có trói buộc. Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta
sẽ v́ các ông mà nói.
“Thế nào là nếu có
sanh th́ sẽ có trói buộc? Phàm phu ngu si vô học, không biết như thật về sự
tập khởi của sắc, sự diệt tận của sắc, vị ngọt của sắc, sự tai hại của sắc,
sự xuất ly sắc, nên đối với sắc mà ái hỷ, tán thán, thủ trước; ở nơi sắc
thấy là ngă, là ngă sở mà chấp thủ. Khi đă chấp thủ rồi, nếu sắc kia biến
chuyển hay đổi khác, tâm theo đó mà biến khác. V́ tâm theo đó biến khác, nên
nắm giữ tâm mà trụ.
V́ nắm giữ tâm trụ nên sanh sợ hăi, chướng ngại, hoài vọng.
V́ có sanh nên có sự trói buộc.
Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Đó gọi là có sanh nên có sự
trói buộc.
“Thế nào là nếu không sanh th́ không trói buộc? Đa
văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự tận diệt của sắc,
về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. V́ đă biết
như thật, nên không ái hỷ, tán thán, thủ trước; không buộc chặt ngă và ngă
sở, mà chấp thủ. V́ không chấp thủ nên sắc kia nếu biến chuyển hay đổi khác,
tâm không theo đó mà biến khác. V́ tâm không theo sự biến khác, nên tâm
không bị trói buộc, nắm giữ tâm mà trụ. Do không nắm giữ tâm mà trụ, nên tâm
không sợ hăi, chướng ngại, hoài vọng; v́ không sanh nên không trói buộc vậy.
Đó gọi là không sanh, nên không có trói buộc.
“Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Đó
gọi là không sanh, nên không bị trói buộc.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm thọ ấm. Những ǵ là năm? Sắc thọ ấm; thọ,
tưởng, hành, thức thọ ấm. Nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào thấy có ngă,
th́ tất cả cũng đều ở nơi năm thọ ấm này mà thấy có ngă. Các Sa-môn,
Bà-la-môn thấy sắc là ngă, sắc là khác ngă, hay ngă ở trong sắc, sắc ở trong
ngă;
thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngă, khác ngă, ngă ở trong thức, thức ở trong
ngă.
“Phàm phu ngu si vô
học v́ vô minh nên thấy sắc là ngă, là khác ngă, hay ở trong nhau và nói ngă
là chân thật nên không xả. V́ không xả nên các căn tăng trưởng. Khi các căn
đă tăng trưởng rồi, th́ sẽ sanh ra các xúc. Do bị xúc chạm bởi sáu xúc nhập
xứ,
do đó phàm phu ngu si vô học khởi lên cảm giác khổ vui, từ xúc mà nhập xứ
khởi lên. Những ǵ là sáu? Nhăn xúc nhập xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ư xúc
nhập xứ.
“Như vậy, Tỳ-kheo, có ư giới, pháp giới, vô minh giới.
Kẻ phàm phu ngu si vô học, v́ vô minh xúc
cho nên khởi lên ư tưởng có, ư tưởng không, ư tưởng vừa có vừa không, ư
tưởng ta hơn, ư tưởng ta bằng, ư tưởng ta kém, ư tưởng ta biết, ta thấy.
Những ư tưởng biết như vậy, những ư tưởng thấy như vậy đều do sáu xúc–nhập
xứ mà phát sanh.
“Đa văn Thánh đệ tử đối với sáu xúc–nhập xứ này, xả
bỏ vô minh mà sanh minh. Không sanh ra ư tưởng về có, ư tưởng về không, ư
tưởng về vừa có vừa không, ư tưởng hơn, ư tưởng bằng, ư tưởng kém, ư tưởng
ta biết, ta thấy. Khi đă biết như vậy, đă thấy như vậy rồi, th́ những ǵ do
vô minh–xúc khởi lên trước kia sẽ bị diệt và cảm thọ phát sanh do minh xúc
sau đó sẽ khởi lên.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có năm thọ ấm. Những ǵ là năm? Sắc thọ ấm; thọ,
tưởng, hành, thức thọ ấm.
“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào nhờ trí túc mạng tự biết
rơ những đời sống trước của ḿnh, th́ việc đă biết, đang biết, sẽ biết đều
phát xuất từ năm thọ ấm này. Việc đă biết đang biết, sẽ biết về đời quá khứ
của ta đă từng trải qua, có sắc như vậy, thọ như vậy, tưởng như vậy, hành
như vậy, thức như vậy.
“Cái ǵ có thể phân tán, trở ngại,
th́ cái đó gọi là sắc thọ ấm.
Như bàn tay, đá, gậy, dao, bị trở ngại bởi ngón tay; hoặc do lạnh, nóng,
khát, đói, hoặc do xúc bởi muỗi ṃng, độc trùng, mưa gió; đó gọi là trở ngại
do xúc.
Cho nên, chướng ngại, đó là sắc thọ ấm. Lại nữa, sắc thọ ấm này là vô thường,
khổ, biến dịch.
“Những tướng cảm nhận, đó là thọ thọ ấm.
Cảm nhận cái ǵ? Cảm nhận sự khổ, cảm nhận sự lạc, cảm nhận sự không khổ
không lạc. Cho nên gọi tướng cảm nhận là thọ thọ ấm. Lại nữa, thọ thọ ấm này
là vô thường, khổ, biến dịch.
“Các tưởng, là tưởng thọ ấm.
Tưởng cái ǵ? Tưởng ít, tưởng nhiều, tưởng vô lượng, hoàn toàn không có ǵ
tưởng là không có ǵ. Đó gọi là tưởng thọ ấm. Lại nữa, tưởng thọ ấm này là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch.
“Tướng tạo tác hữu vi là hành thọ ấm.
Tạo tác cái ǵ? là tạo tác sắc, tạo tác thọ, tưởng, hành và thức. Cho nên
tướng tạo tác hữu vi là hành thọ ấm.
“Lại nữa, hành thọ ấm này là pháp vô thường, khổ,
biến dịch.
“Tướng phân biệt biết rơ là thức thọ ấm.
Biết rơ cái ǵ? Là biết rơ sắc, biết rơ thanh, hương, vị, xúc và pháp, cho
nên gọi là thức thọ ấm. Lại nữa, thức thọ ấm là pháp vô thường, khổ, biến
dịch.
“Này các Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử kia đối với sắc
thọ ấm kia phải học như vầy, ‘Ta nay bị sắc hiện tại ăn.
Quá khứ đă từng bị sắc kia ăn, như trong hiện tại.’ Lại nghĩ như vầy: ‘Nay
ta đang bị sắc hiện tại ăn, nếu mà ta ham muốn sắc vị lai, th́ cũng sẽ bị
sắc kia ăn như trong hiện tại.’ Biết như vậy rồi, người ấy không hoài niệm
sắc quá khứ, không ham muốn sắc vị lai, đối với sắc hiện tại sanh yểm ly,
ĺa dục, diệt hết tai hại, hướng đến tịch diệt. Đa văn Thánh đệ tử đối với
thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm hăy học như vầy, ‘Ta nay bị thức hiện tại ăn.
Quá khứ đă từng bị thức kia ăn, như trong hiện tại. Nếu mà ta ham muốn thức
vị lai, th́ cũng sẽ bị thức kia ăn như trong hiện tại.’ Biết như vậy rồi,
người ấy không hoài niệm thức quá khứ, không ham muốn thức vị lai, đối với
thức hiện tại sanh yểm ly, ĺa dục, diệt tận,
hướng đến tịch diệt. Ở đây, diệt chứ không tăng, lui chứ không tiến, diệt
chứ không khởi, xả chứ không thủ.
“Ở nơi cái ǵ diệt mà không tăng? Sắc diệt mà không
tăng. Thọ, tưởng, hành, thức diệt mà không tăng.
“Ở nơi cái ǵ lùi mà không tiến? Sắc lùi mà không
tiến. Thọ, tưởng, hành, thức lùi mà không tiến.
“Ở nơi cái ǵ diệt mà không khởi? Sắc diệt mà không
khởi. Thọ, tưởng, hành, thức diệt mà không khởi.
“Ở nơi cái ǵ xả mà không thủ? Sắc xả mà không thủ.
Thọ, tưởng, hành, thức xả mà không thủ.
“Diệt chứ không
tăng, tịch diệt mà an trụ. Lùi chứ không tiến, im lặng lui mà an trụ. Diệt
chứ không khởi, tịch diệt mà an trụ. Xả chứ không thủ, không sanh ra sự trói
buộc. Không bị trói buộc, nên tự ḿnh giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đă dứt,
phạm hạnh đă lập, những việc ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái
sanh đời sau nữa.’”
Khi Đức Phật nói kinh này số đông các Tỳ-kheo không
khởi các lậu, tâm được giải thoát.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Bài kệ tóm tắt:
Ngă, ty hạ,
chủng tử,
Phong
trệ, ngũ chuyển, thất
(xứ
thiện)
Hai hệ
trước và giác,
Tam thế ấm
thế thực.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Thiện nam
có ḷng tin, cần suy nghĩ như
vầy: ‘Ta nên thuận theo
pháp. Ta hăy an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm ly đối với sắc; an
trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm ly đối với thọ, tưởng,
hành, thức.’ Thiện nam tử có ḷng tin bèn an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều,
về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập tu tập nhiều, về yểm ly đối với
thọ, tưởng,
hành, thức, nên đối với sắc được
yểm ly; đối với thọ, tưởng,
hành, thức được
yểm ly. Do yểm ly mà ly dục, giải thoát, giải thoát tri kiến, biết rằng ‘Ta,
sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết
không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như
vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Thiện nam tử có ḷng tin, chánh tín xuất gia, sống
không gia đ́nh, tự nghĩ: ‘Ta nên thuận theo pháp. Ta hăy an trụ với sự tu
tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều
về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức.’ Thiện nam tử có ḷng tin bèn an
trụ với sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập,
tu tập nhiều về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức, nên đối với sắc được
yểm ly; đối với thọ, tưởng, hành, thức được yểm ly.
Ta nói người ấy chắc chắn sẽ được thoát ly khỏi tất cả sanh, già, bệnh, chết,
ưu bi, khổ năo.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có trưởng giả hay người con trưởng giả nào có
ḷng tin, đến hỏi ngươi rằng, ‘Ở nơi pháp nào mà biết rơ được sự sanh diệt
của nó?’ th́ ngươi sẽ trả lời như thế nào?”
Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nếu
có trưởng giả hay con trưởng giả nào, đến hỏi con như vậy, th́ con sẽ đáp
rằng, ‘Biết sắc là pháp sanh diệt; biết thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh
diệt.’ Bạch Thế Tôn, nếu có trưởng giả hay con trưởng giả nào hỏi như vậy,
th́ con sẽ trả lời như vậy.”
Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Lành thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. V́ sao vậy?
V́ sắc là pháp sanh diệt; thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Biết sắc
là pháp sanh diệt, th́ đó gọi là biết sắc. Biết thọ, tưởng, hành, thức là
pháp sanh diệt, th́ đó gọi là biết… thức.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có các ngoại đạo xuất gia đến hỏi ngươi rằng,
‘A-nan, v́ sao Thế Tôn dạy người tu các phạm hạnh.’ Được hỏi như vậy, nên
đáp thế nào?”
Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia đến
hỏi con rằng, ‘A-nan, v́ sao Thế Tôn dạy người tu các phạm hạnh?’ Th́ con sẽ
trả lời rằng, ‘V́ để đối với sắc, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tạân, giải
thoát, không sanh, nên Đức Thế Tôn dạy tu các phạm hạnh. V́ để đối với thọ,
tưởng, hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh,
nên dạy tu các phạm hạnh.’ Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia hỏi
như vậy, th́ con cũng sẽ đáp như vậy.”
Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Lành thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. V́ sao vậy?
Thật vậy, Ta v́ đối với sắc mà tu tập yểm ly, ĺa dục, diệt tận, giải thoát,
không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh. Và v́ đối với thọ, tưởng, hành, thức,
tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm
hạnh.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ v́ các ông nói pháp hoại và bất hoại.
Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ v́ các ông mà nói.
“Này các Tỳ-kheo, sắc là pháp hoại. Sắc kia diệt,
Niết-bàn là pháp bất hoại.
Thọ, tưởng, hành, thức là pháp hoại. Thức kia diệt, Niết-bàn, là pháp bất
hoại.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức
Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như trong Tăng Nhất A-hàm, phẩm Bốn pháp.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành trong nhân gian, đến ở trong
rừng Thân-thứ,
phía Bắc tụ lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la.
Bấy giờ chủ tụ lạc Bà-la-môn Đại Tánh nghe đồn rằng,
“Sa-môn ḍng họ Thích, ở nơi ḍng họ lớn Thích-ca mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chánh tín xuất gia, học đạo, sống không gia đ́nh, thành Bậc Vô Thượng
Đẳng Chánh Giác, đang du hành trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ,
phía Bắc tụ lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la này. Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm này,
tướng mạo danh xưng, công đức chân thật như vậy được cả trời và người ca
tụng, tiếng đồn bay khắp tám phương; là Bậc Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở giữa các cơi, chư Thiên, Ma, Phạm,
Sa-môn, Bà-la-môn, với trí tuệ rộng lớn có thể tự ḿnh chứng biết rơ rằng:
‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những điều cần làm đă làm xong, tự
biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’ Ngài v́ đời nói pháp, khoảng đầu,
khoảng giữa và khoảng cuối đều toàn thiện; có nghĩa, có vị đều thiện, thuần
nhất thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, diễn nói chánh pháp vi diệu. Lành
thay, nên gặp! Lành thay, nên đi đến! Lành thay, nên cung kính thừa sự!”
Nghĩ như vậy rồi, ông liền sửa soạn xe cộ, đem theo
nhiều tùy tùng, bưng b́nh vàng, người cầm lọng cán vàng, đi đến chỗ Đức Phật,
cung kính phụng sự. Khi đến cửa rừng, xuống xe đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn,
hỏi thăm sức khỏe có an lành không? Rồi ngồi qua một bên, bạch Đức Thế Tôn
rằng:
“Thưa Sa-môn
Cù-đàm, Ngài luận về cái ǵ? Và thuyết về cái ǵ?”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ta luận về nhân và thuyết về nhân.”
Lại bạch Phật rằng:
“Thế nào là luận về nhân? Và thế nào là thuyết về
nhân?”
Đức Phật bảo Bà-la-môn:
“Có nhân, có duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có
duyên cho sự tập khởi của thế gian. Có nhân, có duyên để thế gian diệt; có
nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian.”
Bà-la-môn bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, thế nào là có nhân, có duyên để thế
gian tập khởi? Và có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian?”
Đức Phật bảo Bà-la-môn:
“Phàm phu ngu si không học, nên không biết như thật
về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự
tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc. V́ không biết như thật, nên ái lạc sắc,
khen ngợi sắc, tâm nhiễm đắm mà trụ. Kia đối với sắc mà ái lạc nên sanh thủ;
duyên thủ nên có hữu; duyên hữu nên có sanh; duyên sanh nên có lăo, tử, ưu,
bi, khổ, năo. Đó chính là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ lớn. Đối với thọ,
tưởng, hành, thức, lại cũng như vậy. Này Bà-la-môn, đó gọi là có nhân, có
duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian.”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Thế nào là có nhân, có duyên để thế gian diệt tận?
Và có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian?”
Đức Phật bả |