TIỂU DẪN:

LỊCH SỬ TRUYỀN DỊCH

Bản Hán dịch đầu tiên của kinh này, theo Minh Không 明空,[1] là bản dịch của Tam tạng pháp sư Đàm-ma 曇, dưới triều An đế nhà Tấn (397-418 s.tl.), với nhan đề: Thắng Man sư tử hống nhất thừa phương tiện kinh 師子吼乘方便. Hiện nay chúng ta không thấy vết tích gì của bản dịch xưa nhất này.

Bản dịch kế đó, được lưu truyền rộng rãi nhất, là của Cầu-na-bạt-đà-la 求那跋羅 (Gunabhadra), trong khoảng niên hiệu Nguyên gia (424-453 s.tl.), triều Lưu Tống. Căn cứ trên bản dịch này, chúng ta hiện có 4 bản chú giải:

l. Thắng Man bảo khốt寶窟[2] của Cát Tạng 吉藏. Sư là người chuyên học Trung luận 中論 và Bách luận 論, khởi xướng Tam luận tông Trung hoa, phát triển tư tưởng tính không của Long Thọ mà La-thập và Tăng Triệu đã xiển dương từ trước.

2. Thắng Man nghĩa ký義記[3] của Tuệ Viễn 慧遠, đời Tùy. Bản chú giải này chỉ thấy còn có phần đầu, đến hết chương iii.

3. Thắng Man kinh thuật ký經述記[4] của Khuy Cơ 窺基, đời Đường. Sư là một cao đồ của Huyền Tráng, cực lực xiển dương tông chỉ Duy thức của Vô Trước và Thế Thân.

4. Thắng Man kinh nghĩa sớ經義疏[5] của Thánh Đức Thái tử 聖德[6] Nhật bản. Sau khi chú giải xong kinh này, Suy Cổ Thiên hoàng (Nữ hoàng) và các cung nữ phát nguyện thọ mười đại thọ như được Thắng Man Phu nhân nói ở trong kinh.

6. Thắng Man kinh sớ nghĩa tư sao 鬘經義私鈔.[7] Niên hiệu Đại lịch thứ 7 (772), đời Đường, bản chú giải của Thánh Đức Thái tử được truyền vào Trung quốc và Minh Không dựa theo đó viết sớ nghĩa.

Các bản sớ giải dưới đây được phát kiến ở Đôn hoàng:[8]

7. Thắng Man nghĩa ký 義記,[9] thiếu phần đầu. Giải thích từ câu «nhất thiết pháp thương trụ» trong bài kệ tán Phật của Thắng Man Phu nhân. Ở cuối sách có thự danh là Tuệ Chưởng Uẩn.

8. Thắng Man kinh sớ經疏,[10] thiếu phần đầu. Giải thích từ nhóm từ «tâm đắc vô nghi» trong lời đối thoại của vua Ba-tặc-nặc với vương phi Mạt-lị. Cuối sách có ghi: Chiếu Giang sư sớ.

9. Hiệp chú Thắng Man kinh勝鬘經,[11] thiếu phần đầu. Giải thích từ đoạn Phật bảo Thắng Man Phu nhân nói về Nhiếp thọ Chính pháp. Không rõ tác giả.

Hai bản sớ giải sau đây được ấn hành trong Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư.

10. Thắng Man kinh sớ tường huyền ký 勝鬘經玄記, 18 quyển, Ngưng Nhiên. Bản chú giải này dựa trên Nghĩa sớ của Thánh Đức Thái tử.

11. Thắng Man kinh hiển tông sao 鬘經顯鈔, 3 quyển, Phổ Tịch.

Các bản liệt kê dưới đây coi như thất truyền:

12. Thắng Man kinh sớ 經疏, 2 quyển, Nguyên Hiểu 曉 soạn.

13. Thắng Man kinh sớ經疏, 2 quyển Tuần Luân 倫.

14. Thắng Man kinh chú經注, 1 quyển, Tăng Phức 馥.

15. Thắng Man kinh sớ經疏, 1 quyển, Tĩnh Mại 邁.

16. Thắng Man kinh nghĩa鬘經義, 1 quyển, Phan 攀 (?).

Cuối cùng, cho đến đời Đường, triều Vũ hậu, vào niên hiệu Thần long thứ 2 (707), Bồ-đề-lưu-chí 菩流志 dịch một phần lớn các kinh thuộc bộ Đại bảo tích.[12] Bộ này gồm 49 hội, l20 quyển. Thắng Man thuộc hội 48, được gọi là «Thắng Man Phu nhân hội 勝 鬘 夫 人 會Toàn bản không phân chia chương mục như bản Tống của Cầu-na-bạt-đà-la. Văn nghĩa cũng có nhiều đoạn trái ngược với bản Tống.

Bản dịch Việt văn của chúng ta chính yếu dựa trên bản Hán của Cầu-na-bạt-đà-la. Trong khi đối chiếu với bản dịch của Bồ-đề-lưu-chí, những điểm khác biệt giữa hai bản sẽ được ghi nhận ở phần chú thích của mỗi chương trong bản dịch Việt.


 



[1]Thắng Man kinh sớ nghĩa tư sao 勝鬘經義疏私鈔, Tục tạng kinh (chữ Vạn), tập 30.

[2]Đại 34, No 1744.

[3]Tục tạng kinh (chữ Vạn), tập 30.

[4]Tục tạng kinh, nt.

[5]Đại 56, No 2185.

[6]Shōtoku Taishi, thời đại Asukaji; nhiếp chánh từ năm 593.

[7]Đại 85, No 2761.

[8]In bổ khuyết vào ấn bản Đại chánh, tập 85, «Cổ dật bộ.»

[9]Đại 85, No 2761.

[10]Đại 85, No 2762.

[11]Đại 85, No 2763.

[12] Đại bảo tích kinh (Mahāratnakūṭa-sūtra), 120 quyển, Bồ-đề-lưu-chi dịch. Đại 11 No 310.