Tiết 3: Các đặc tính sai biệt của pháp

1. Kiến – Vô kiến

Lại nữa, trong 18 giới đă được nói, những giới nào là hữu kiến (sanidarśana)?[1] Những giới nào là vô kiến (anidarśana)?[2]

[29a-b] Ở đây, một hữu kiến là sắc.[3]

Thật vậy, nó có thể được chỉ cho thấy ở chỗ này hay chỗ kia. Những giới c̣n lại được nói là vô kiến.

2. Hữu đối – Vô đối

Có bao nhiêu giới là hữu đối (sapratigha)?[4] Bao nhiêu là vô đối (apratigha)?[5]

[29b-c] Hữu đối là 10 (giới) có sắc.[6]

Mười giới được bao hàm trong sắc uẩn được nói là hữu đối.

Đối (pratigha),[7] tức sự đối kháng (pratighata);[8] có ba thứ. Đối kháng bằng sự ngăn che, đối kháng bởi hoạt trường, và đối kháng bởi đối tượng.

a/ Đối kháng bằng sự ngăn che,[9] là ngăn cản sự phát sinh của cái khác trong môi trường của ḿnh.[10] Thí dụ, bàn tay bị ngăn nơi bàn tay khác, hay nơi ḥn đá. Hoặc ḥn đá đối với bàn tay hay ḥn đá khác.

b/ Đối kháng bởi cảnh vực,[11] như hoạt trường của con mắt đối với các cảnh vực khác thuộc sắc. Prajñapti[12] nói: «Có loại mắt bị phản kích[13] trong nước chứ không bị trên đất liền, như cá chẳng hạn. Có loại mắt bị phản kích trên đất liến, nhưng không bị trong nước, như mắt người phổ thông chẳng hạn. Hoặc bị cả hai, như cá sấu,[14] ếch, quỷ t́-xá-xà,[15] thợ lặn bắt cá, v.v… Hoặc không bị cả hai, tức là trừ các trường hợp kể trên. Có loại mắt bị phản kích ban đêm, ban ngày th́ không; như dơi, cú. Hoặc ngày, chứ ban đêm th́ không; như phổ thông loài người. Hoặc cả ngày và đêm; như chó, dă can, ngựa, beo, mèo. Hoặc cả hai đều không; trừ các trường hợp kể trên.

c/ Đối kháng bởi đối tượng,[16] là tâm và tâm sở trong các đối tượng cá biệt của chúng.

Lại nữa, sự khác biệt giữa cảnh vực (viṣaya) và đối tượng (ālambana) là ǵ? Cảnh vực, là môi trường trong đó nó có tác dụng (kāritra). Cái ǵ được tâm và tâm sở bám vào, cái đó là đối tượng.

Tại sao, khi vận hành trong cảnh vực của ḿnh, hay trong đối tượng, nó được nói là bị phản kích (pratihanyate)? Bởi v́ vượt ra ngoài phạm vi đó, nó không hoạt động. Hoặc ở đây, đối kháng tức là sự va chạm;[17] nghĩa là nó hoạt động trong cảnh vực của chính nó.

Ở đây, mười hữu đối, là chỉ cho sự đối kháng bởi ngăn che (āvaraṇapratighāta), v́ chúng ngăn che lẫn nhau.

Những pháp nào là hữu đối v́ có sự đối kháng bởi cảnh vực, th́ đồng thời cũng v́ có sự đối kháng bởi ngăn che? Có bốn trường hợp. Thứ nhất,[18] bảy tâm giới, một phần pháp giới, tức những ǵ tương ưng với tâm. Thứ hai,[19] năm cảnh vực. Thứ ba,[20] năm căn. Thứ tư,[21] một phần pháp giới, trừ các pháp tương ưng với tâm.

Những pháp nào là hữu đối, v́ có sự đối kháng bởi cảnh vực, và bởi đối tượng? Đó là trường hợp sau. Những ǵ v́ có đối kháng bởi đối tượng th́ cũng v́ có sự đối kháng bởi cảnh vực. Nhưng cũng có trường hợp, v́ có sự đối kháng bởi cảnh vực mà không phải v́ có sự đối kháng bởi đối tượng; đó là năm căn.

Đại đức Kumāralāta nói: «Ở nơi cái nào mà tâm ư muốn khởi lên, nhưng bị đối kháng bởi những cái khác, cái đó được biết là hữu đối. Vô đối, được biết là ngược lại.»

Đă nói xong hữu đối và vô đối.

3. Thiện – Bất thiện – Vô ký

Trong 18 giới này, bao nhiêu giới thiện (kuśala)? Bao nhiêu giới bất thiện (akuśala)? Bao nhiêu giới vô kư (avyākṛta)?

a. Duy vô kư

avyākṛtā aṣṭau

ta evārūpaśabdakāḥ //29/

此除色聲八無記

[29c-d] Vô kư, là tám giới này,

Chúng không có sắc và thanh.

Tám giới nào? Tức là 10 giới hữu đối, trừ đi sắc và thanh. Tức các giới gồm năm căn, hương, vị, và xúc. Tám giới này không xác định được là thiện hay bất thiện, nên chúng là vô kư. Thuyết khác nói, đối với quả dị thục (vipāka), chúng không xác định. Phản nạn nói: thế th́, trong vô lậu cũng như vậy?[22]

b. Thông cả ba

tridhā’nye

餘三種

[30a] C̣n lại, gồm cả ba.

Mười giới c̣n lại gồm cả thiện, bất thiện, và vô kư.

Trong đó, bảy giới (tâm giới, cittadhātavaḥ) là thiện khi liên hệ với vô tham các thứ;[23] là bất thiện khi liên hệ với tham các thứ; ngoài ra là vô kư.

Pháp giới, là thiện, nếu nguyên khởi liên hệ với tự tính của vô tham các thứ, và trạch diệt; là bất thiện, nếu nguyên khởi liên hệ tham các thứ. Ngoài ra, là vô kư.

Hai giới sắc, là thiện hay bất thiện, khi kết hợp với thân biểu và ngữ biểu, có nguyên khởi từ tâm thiện hay bất thiện. Ngoài ra, chúng là vô kư.

4. Giới hệ

Trong 18 giới này, bao nhiêu giới hệ thuộc Dục giới (kāmadhātu)? Bao nhiêu giới trong Sắc giới (rūpadhātu)?

a. Dục giới

kāmadhātv āptāḥ sarve

欲界繫十八

[30a-b] Tất cả hệ thuộc Dục giới

Hệ thuộc, nghĩa là không phân ly; chúng dính chặt vào Dục giới.

b. Sắc giới

rūpe caturdaśa

色界繫十四

[30b] Mười bốn trong Sắc giới.

Có 14 giới trong Sắc giới (rūpadhātu).

vinā gandharasaghrāṇa-

jīhvāvijñānadhātubhiḥ //30/

除香味二識

[30b-d] Trừ các giới hương, vị,

Thức của mũi và thức của lưỡi.

Thật vậy, trong cơi này không có hương và vị. V́ hai giới này thuộc loại đoàn thực,[24] và v́ thác sinh lên đây chỉ những ai ly dục đối với loại thực phẩm này. Do vậy, thức của mũi và thức của lưỡi cũng không có; v́ đối tượng của chúng không tồn tại.

Phản nạn rằng, như vậy trong cơi này xúc giới (spraṣṭavyadhātu) cũng không tồn tại; v́ nó cũng thuộc loại đoàn thực?

[Không phải vậy] Xúc nào mà tự tính không phải là thực phẩm (āhārasvabhāva)[25], thức ấy có ở cơi này.

Phản nạn rằng, nếu vậy, hương và vị cũng như thế?[26]

[Không phải vậy] Hương và vị, ngoài tính cách làm thức ăn, không có công dụng ǵ. Nhưng ở đây có xúc, v́ là sở y của căn, là sự duy tŕ, là y phục. V́ vậy, với những ai đă ly dục đối với thực phẩm th́ hương và vị ở đây vô dụng; nhưng xúc th́ không phải vậy.

Vị khác[27] nói, do y chỉ các thiền (dhyāna) và định (samāpatti), mà các sắc được thấy, thanh được nghe; và thân được ích lợi do xúc đặc biệt cùng song hành với khinh an (praśrabdhi). Cho nên, ba giới này phát sinh với sự sinh khởi của Thiền, mà hương và vị th́ không.

Phản nạn rằng, như vậy, căn của mũi và lưỡi không tồn tại ở đây v́ vô dụng.

[Không phải vậy][28] Chúng có công dụng. Thật vậy, nếu không có hai giới này th́ sẽ không có ngôn ngữ và vẻ đẹp của thân.

Nếu v́ mục đích sắc đẹp và phát ngôn, th́ y xứ (adhiṣṭhāna) là cần thiết; cần ǵ căn?

Không có căn th́ y xứ không xuất hiện; như y xứ của nam căn.[29] Lẽ đương nhiên nó không xuất hiện, v́ không có công dụng. Nhưng y xứ của mũi và lưỡi có công dụng. Do đó, lẽ đương nhiên nó xuất hiện mà không có căn.

Mặc dù[30] không có công dụng, căn vẫn sinh khởi; như đối với những cái chết nhất định trong thai. Có thể có.[31] Không có công dụng, nhưng không phải không có nguyên nhân. Vậy, nguyên nhân ǵ cho sự phát sinh của căn? Nghiệp đặc biệt do khát ái liên hệ đến căn này. Những ai dứt khát ái đối với cảnh, th́ nhất định cũng dứt khát ái đối với căn. Với những ai đă ly dục đối với cảnh, căn của mũi và lưỡi nơi đó không thể phát sinh.[32]

Hoặc, tại sao nam căn cũng không hiện sinh nơi đó?[33] V́ không đẹp.[34]

Sự ẩn kín của mă âm tàng[35] có ǵ là không đẹp?[36] Vả lại, sự sinh khởi của nó không chỉ v́ có công dụng. V́ sao? Đó là do năng lực của tác nhân (kāraṇa). Mặc dù không đẹp mắt, nhưng nếu có nguyên nhân th́ có sự sinh khởi.

Ở đây, mâu thuẫn với Kinh.[37] Kinh nói, «với căn không khuyết tật, không thiếu bớt.» Những căn nào tồn tại ở đó, các căn ấy không khiếm khuyết, không khuyết tật, th́ có ǵ là mâu thuẫn?

Phản nạn rằng, nếu vậy, ở đây cũng tồn tại nam căn.[38]

Nhưng Kinh ấy nói như vậy.[39] Mặc dù ở đây có căn của mũi và lưỡi, nhưng không có hương và vị. Thật vậy, do thông qua tự thể nội thân (ātmabhāva), chứ không phải thông qua cảnh vực, mà khát ái phát sinh nơi sáu xứ (āyatana). Nhưng thông qua xúc dâm dục (maithunasparśa) mà ái phát sinh nơi nam căn. Do vậy, điều được chứng minh là hệ thuộc trong Sắc giới có mưới bốn giới.

c. Vô sắc giới

ārūpyāptā manodharma-

manovijñānadhātavaḥ/

無色繫後三

[31a-b] Hệ thuộc Vô sắc giới, gồm ư, pháp

 và ư thức giới.

Những ai đă ly dục đối với sắc sinh ở đây. Do đó, ở cơi này, mười giới mà tự tính là sắc, tức là năm sở y và các đối tượng của chúng, cùng với năm thức giới, không sinh khởi.[40]

5. Hữu lậu – Vô lậu

Có bao nhiêu giới là hữu lậu (sāsrava)? Có bao nhiêu giới là vô lậu (anāsrava)? Ư giới, pháp giới và ư thức giới đă nói trên,

a. Cả hai

sāsravānāsravā ete trayaḥ

意法意識通

[31c-d] Ba giới này hoặc hữu lậu hoặc vô lậu.

Chúng là vô lậu khi được liệt vào đạo đế (mārgasatya) hay vô vi (asaṃskṛta). Ngoài ra, là hữu lậu.

b. Duy hữu lậu

śeṣās tu sāsravāḥ //31/

所餘唯有漏

[31d] C̣n lại là hữu lậu.

Mười lăm giới c̣n lại duy chỉ hữu lậu.

6. Tầm - Tứ

Có bao nhiêu giới là hữu tầm (savitarka)[41] và hữu tứ (savicāra)? Bao nhiêu chỉ có tứ? Bao nhiêu giới không tầm không tứ?

a. Năm thức thân

savitarkavicārā hi

pañca vijñānadhātavaḥ/

五識唯尋伺

[32a-b] Hữu tầm tứ, thật vậy,

Là năm thức giới.

Chúng luôn luôn liên hệ tầm và tứ.[42] Từ thật vậy (hi)[43] có mục đích hạn chế.

b. Ba giới cuối

antyās trayas triprakārāḥ

後三三

[32c] Ba giới sau cùng, cả ba trạng thái.

Những giới sau cùng, chỉ cho ư giới, pháp giới và ư thức giới. Ba giới này đủ cả ba trạng thái (prakāra).[44]

1/ Ở đây, trong Dục giới và Sơ thiền, có tính chất tầm-tứ gồm có ư giới, ư thức giới, phần pháp giới tương ưng tâm (saṃprayukta), và trừ bản thân tầm và tứ.

2/ Thiền trung gian (dhyānāntara), không có tầm; duy chỉ có tứ.

3/ Từ Nhị thiền trở lên cho đến Hữu đỉnh (bhāvagra), không tầm và không tứ. Hết cả pháp giới không tương ưng tâm, và tứ trong Thiền trung gian, cũng vậy.

4/ Nhưng, tầm th́ luôn luôn không có tầm mà chỉ có tứ; v́ không có hai tầm đồng thời, và v́ chỉ có liên hệ với tứ.

Tứ trong Dục giới và trong Sơ thiền không xuất hiện trong ba trạng thái này. Trường hợp này được nói như thế nào? Nói là không tứ duy tầm; v́ không có hai tứ đồng thời, và v́ chỉ liên hệ với tầm.

Do đó nói rằng trong các địa vị (bhūmi) hữu tầm hữu tứ, các pháp có bốn trạng thái: 1. Hữu tầm hữu tứ là các pháp tương ưng tâm trừ đi tầm và tứ. 2. Không tầm duy tứ, là tầm. 3. Không tầm không tứ, là các pháp không tương ưng tâm. 4. Không tứ duy tầm, là tứ.

c. Mười giới sắc

śeṣā ubhayavarjiāḥ //32/

餘無

[32d] C̣n lại, không cả hai.

Mười giới có sắc (rūpin) c̣n lại luôn luôn không tầm, không tứ, v́ không tương ưng tâm.

Nếu năm thức thân (vijñānakāya) có tầm, có tứ, tại sao chúng được nói là không phân biệt (avikalpa)?

nirūpaṇānusmaraṇa-

vikalpenāvikalpakāḥ/

說五無分別      由計度隨念

[33a-b] Do [không có] phân biệt bằng thẩm sát và ức niệm,

nên chúng là không phân biệt.

Truyền thuyết[45] nói, phân biệt có ba dạng. Phân biệt do tự tính (svabhāva)[46], bằng thẩm sát (abhinirūpaṇa),[47] và bằng hồi ức (anusmaraṇa).[48] Chúng chỉ có phân biệt do tự tính, mà không hai dạng kia; do đó nói chúng là không phân biệt. Cũng như con ngựa có một chân được gọi là không chân (apādaka). Ở đây, phân biệt do tự tính là tầm (vitarka). Điều này sẽ được nêu rơ trong chương về tâm sở (caitta)[49] ở sau.

d. Ư phân biệt

Vả lại, tự tính của hai cái kia là ǵ? Nói theo thứ tự,

tau prajñāmānasī vyagrā

smṛtaḥ sarvaiva mānasī //33/

以意地散慧        意諸念為體

[33c-d] Cả hai, là tuệ với tâm ư không tập trung;

tất cả niệm, đều là tâm ư.

Tuệ (prañā)[50] tương ưng ư thức được gọi là tâm ư (mānasī).[51] Không tập trung (avyagra), tức là không có định tâm (asamāhita). Đó là phân biệt bằng thẩm sát. Tất cả sự ức niệm của tâm ư,[52] trong trạng thái định hay không định, là phân biệt bằng hồi ức.

7. Sở duyên

Có bao nhiêu giới có đối tượng?[53] Có bao nhiêu giới không đối tượng?

a. Bảy tâm giới

sapta sālambanāś citta-

dhātavaḥ

七心…[有所緣]

[34a-b] Bảy tâm giới có đối tượng.

Các thức giới của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư và ư giới; tám tâm giới có đối tượng v́ chúng nắm bắt cảnh vực (viṣaya).

b. Các giới khác

ardhaṃ ca dharmataḥ/

法界半 有所緣[餘無[54]]

[34b] Và một phần pháp giới, có đối tượng.

Có đối tượng là [những pháp] mà tự tính là tâm sở (caittasika). C̣n lại mười giới không có sắc và một phần pháp giới mà không tương ưng tâm, là không đối tượng.

8. Chấp thọ

Có bao nhiêu giới là được chấp thọ?[55] Có bao nhiêu giới không được chấp thọ?

a. Không chấp thọ

navānupāttāte

前八界及聲 無執受

[34c-d] Chín không chấp thọ.

Những ǵ là chín? Bảy giới có đối tượng đă nói trên, và toàn phần giới thứ tám (pháp giới),

cāṣṭau śabdaś ca

Tám giới ấy cùng với thanh.

Chín giới này không được chấp thọ; đó là bảy tâm giới, pháp giới và thanh.

b. Cả hai

anye nava dvidhā //34/

餘二

[34d] Chín c̣n lại, cả hai thứ.

Tức hoặc được chấp thọ hoặc không được chấp thọ. Ở đây, mắt tai, mũi, lưỡi, thân, hiện tại là chấp thọ; quá khứ và vị lai là không được chấp thọ. Các giới sắc, hương, vị, xúc, hiện tại không tách rời căn là được chấp thọ; ngoài ra là không chấp thọ. Như các thứ, trừ đi gốc rễ của chúng, tóc, lông, móng, răng, phân, nước tiểu, đàm, nước giải, máu. [56]

Chấp thọ (upātta) nghĩa là ǵ? Những thứ được tâm và tâm sở nắm giữ làm điểm sở y, v́ hữu ích hay tổn hại chúng đều phụ thuộc lẫn nhau. Tức là điều mà thế gian gọi là «có cảm giác.»[57]

9. Đại chủng

Có bao nhiêu giới mà tự tính là đại chủng (bhūtasvabhāva)? Có bao nhiêu giới là đại chủng phái sinh (bhautika)?[58]

spraṣṭavyaṃ dvividhaṃ

觸界中有二

[35a] Xúc có hai thứ.

Đó là đại chủng và đại chủng phái sinh. Trong đây, đại chủng có bốn. Đại chủng phái sinh là tính chất trơn láng, v.v… có bảy thứ. Phái sinh, v́ là cái tồn tại trong các đại chủng.[59]

śeṣā rūpiṇo nava bhautikāḥ/

餘九色所造

[35b] Chín giới có sắc c̣n lại là phái sinh.

Năm căn giới và bốn cảnh vực (viṣaya); chín giới này duy chỉ là phái sinh.

dharmadhātvekadaśaś ca

法一分亦然

[35c] Và một phần pháp giới.

Cái được biết là vô biểu, là phái sinh.

C̣n lại bảy tâm giới và pháp giới trong đó trừ vô biểu, không cả hai.

a/ Đại đức Buddhadeva nói, «Mười xứ[60] duy chỉ đại chủng.» Điều nầy không đúng. V́ theo trong Kinh, một cách xác định, đại chủng là bốn tính chất, cứng, v.v…[61] Và v́ chúng[62] là cái được xúc.[63] Thật vậy, tính chất cứng v.v… không được nắm bắt bởi con mắt các thứ; và thân căn cũng không nắm bắt màu sắc.

Và Kinh cũng nói: «Này Tỳ-kheo, con mắt là nội xứ, tịnh thể của sắc phái sinh của bốn đại, là cái có sắc, có thể được thấy, có đối kháng. Cho đến, thân cũng vậy. Sắc, này Tỳ-kheo, là ngoại xứ, phái sinh của bốn đại, là cái có sắc, có thể được thấy, có đối kháng. Thanh, này Tỳ-kheo, là cái có sắc, không thể được thấy, có đối kháng. Cũng vậy, hương và vị. Xúc, này Tỳ-kheo, là ngoại xứ, bốn đại chủng, phái sinh của bốn đại chủng, không thể thấy, có đối kháng.»

Như vậy,[64] một phần của xúc bao hàm các đại chủng; phần c̣n lại th́ không.

b/ Nhưng, Kinh nói, «Những ǵ nơi con mắt, nơi khối thịt, là tính chất cứng (kakkhaṭa), thuộc thể rắn (kharagata).»[65] Kinh nêu rơ tính chất ấy của khối thịt[66] không tách rời với [con mắt] ấy.

Nhưng, trong Kinh Garbhavikranta,[67] có nói, «Sáu giới này, Tỳ-kheo, là con người (puruṣa)»? Ư nghĩa là nêu rơ thực thể căn bản (maulasattvadravya)[68] của con người. Lại nữa, bởi v́ Kinh cũng nói, có sáu xúc xứ.[69] Và bởi v́ sẽ sai lầm nếu nói tâm sở không tồn tại.[70] Và cũng không chính xác để thừa nhận rằng tâm sở chính là tâm. V́ Kinh nói, «Tưởng và thọ là các tâm sở. Pháp ấy loại tợ tâm, y chỉ tâm.»[71] Cũng như Kinh nói, tâm có tham.[72] Sự sai biệt của đại chủng và phái sinh trong mười giới cũng vậy.

10. Khả tích

Có bao nhiêu là khả tích (saṃcita), và có bao nhiêu không khả tích (asaṃcita)?

saṃcitā daśa rūpiṇaḥ //35/

十色可積集

[35d] khả tích, mười có sắc.

Năm căn giới, và năm cảnh vực của chúng, là những khả tích, v́ là hợp thể của cực vi (paramāṇusaṅghata)[73]. C̣n lại là không khả tích. Ư nghĩa là như vậy.

Trong mười tám giới, những giới nào bị chẻ, những giới nào chẻ?[74] Những giới nào bị đốt, những giới nào đốt?

11. Gián đoạn

chinatti chidyate caiva

bāhyaṃ dhātucatuṣṭayam/

謂唯外四界

能斫及所斫

[36a-b] Chẻ và bị chẻ

Bốn giới bên ngoài.

Sắc, hương, vị và xúc: hoặc là búa, hoặc là cây.

Pháp ấy là ǵ mà được gọi là chẻ (cheda)[75]? Sự cắt đứt ḍng chảy hợp thể vốn hiện khởi liên tục, tạo thành các phần đoạn. Các căn, thân chẳng hạn, không bị chẻ. Khi toàn chi thể bị chẻ, nó không tạo thành hai chi. Thật vậy, chúng không trở thành hai căn, v́ chi bị cắt ra không c̣n là căn nữa. Chúng cũng không chẻ. V́ trong suốt,[76] như ánh sáng của minh châu.

12. Trọng lực

Cũng như chẻ và bị chẻ, cũng vậy, bốn giới bên ngoài:

dahyate tulayaty evaṃ

vivādo dagdhṛtulyayoḥ//36/

亦所燒能稱

能燒所稱諍

[36c-d] Bị đốt và cân cũng vậy.

Đốt, bị cân, c̣n tranh luận.

Nó bị đốt,[77] th́ nó cũng cân.[78] Các căn không vậy, v́ tính trong suốt, như ánh sáng của minh châu. Thanh cũng không, v́ nó không có tính gián đoạn.

Cái đốt, chính là bốn giới. Cái đốt ấy cũng là cái được cân.[79]

Có vị nói rằng, chỉ có hỏa giới là cái đốt. Và chỉ cái có trọng lực, là cái được cân.

Bao nhiêu giới là dị thục sinh? Bao nhiêu giới là sở trưởng dưỡng? Bao nhiêu giới là đẳng lưu tính? Bao nhiêu giới là thật vật? Bao nhiêu có tính sát na?

13. Hậu quả-phát triển

vipākajaupacayikāḥ

pañcādhyātmaṃ…/

內五有熟養

[37a-b] Dị thục sinh, sở trưởng dưỡng,

Năm nội giới.

Năm nội giới, con mắt các thứ, là dị thục sinh[80] và sở trưởng dưỡng.[81] Chúng không là đẳng lưu. Không có đẳng lưu nào tách rời dị thục và sở trưởng dưỡng.

Ở đây, dị thục sinh là cái phát sinh từ dị thục nhân.[82] Trong đó lược bỏ từ trung gian. Như nói «xe ḅ.»[83] Hoặc được nói là dị thục khi nghiệp đă đi đến thời gian cho kết quả. Tức là, nghiệp sau khi được nấu chín;[84] cái phát sinh từ đó được gọi là dị thục. Nói cách khác, khi quả là cái đă chín, nó được gọi là dị thục sinh. Hoặc trong nhân giả thuyết là quả, cũng như trong quả giả thuyết là nhân. Kinh nói, «Sáu xúc xứ này là nghiệp quá khứ.»

Sở trưởng dưỡng[85] là những cái được tích lũy từ thực phẩm, từ sự trang sức, từ ngủ nghỉ, từ định. Có vị nói,[86] do bởi phạm hạnh. Nhưng phạm hạnh chỉ là sự không gây tổn hại chứ không phải do bởi đó mà có sự tích lũy. Tính liên tục[87] của sở trưởng dưỡng bảo vệ tính liên tục của dị thục, như sự bảo vệ của thành tŕ ngoại vi.

Thanh là sở trưởng dưỡng[88] và cũng là đẳng lưu.

…vipākajaḥ/

na śabdaḥ…

聲無異熟生

[37b] Thanh không là dị thục sinh.

Tại sao? V́ nó hoạt động do bởi ư muốn.[89] Nhưng Prajñapti nói, «Tướng đại nhân được thành tựu từ sự tu tập hoàn thiện tránh xa lời thô ác.»[90] Các vị khác nói, thanh thuộc khâu thứ ba:[91] từ các nghiệp mà có các đại chủng; từ các đại chủng mà có thanh. Hoặc các vị khác nữa nói, thanh thuộc khâu thứ năm: từ các nghiệp mà có các đại chủng dị thục; từ đây mà có các sở trưởng dưỡng; từ sở trưởng dưỡng là đẳng lưu;[92] từ các đẳng lưu là thanh. Nếu vậy, cảm thọ nơi thân, vốn phát sinh từ đại chủng do nghiệp sinh, không thể là dị thục? Nếu thọ cũng như thanh,[93] mâu thuẫn không phù hợp.

14. Đẳng lưu

… apratighā aṣṭau

 naiḥṣyandika vipākajāḥ//37/

八無礙等流

亦異熟生性

[37cd] …Tám không đối kháng

Là đẳng lưu và dị thục sinh/

Những ǵ là tám? Bảy tâm giới và pháp giới. Thuộc đẳng lưu[94] là những ǵ được sinh từ nhân đồng loại biến hành.[95] Những ǵ phát sinh từ nhân dị thục[96] là dị thục sinh. Chúng không phải là sở trưởng dưỡng, v́ không tồn tại sự tích tụ cho những ǵ không có tính đối kháng.

tridhānye…

餘三

[38a] C̣n lại, gồm cả ba.

Bốn giới khác c̣n lại, đó là sắc, hương, vị, xúc. Chúng là dị thục sinh, là sở trưởng dưỡng, cũng là đẳng lưu.

15. Thực chất

… dravyavān ekaḥ

實唯法

[38a] Có thực chất, chỉ một.

Có thực chất[97] là vô vi, v́ chắc thật. V́ vô vi tồn tại trong pháp giới, do đó nói, chỉ một pháp giới là có thực chất.

16. Sát-na

kṣaṇikāḥ paścimās trayaḥ/

剎那唯後三

[38b] Thuộc sát na, ba giới cuối.

Những giới cuối, kể theo thứ tự văn mạch, là ư giới, pháp giới và ư thức giới. Một sát na trong phẩm loại vô lậu tối sơ[98] thuộc khổ pháp trí nhẫn (duḥkhe dharmajñānakṣānti), chúng không phải là đẳng lưu[99] do đó được nói là có tính sát na. Không có pháp hữu vi đă sinh khởi nào khác mà không phải là đẳng lưu. Ở đây tâm tương ưng với khổ pháp trí nhẫn là ư giới và ư thức giới. C̣n lại những ǵ tồn tại cùng lúc với tâm này, là pháp giới.

17. Thành tựu

Điều này cần được nghiệm xét: Trong khi thủ đắc nhăn giới mà vốn chưa thành tựu,[100] có thành tựu giới của thức con mắt không? Hoặc khi thành tựu giới của thức con mắt, có thành tựu giới của con mắt không? Tụng nói:

cakṣuvijñānadhātvoḥ syāt

pṛthak lābhaḥ sahāpi ca// 38/

眼與眼識界

獨俱得非等

[38cd] Nhăn giới và nhăn thức giới

Có sở đắc riêng, và cùng lúc.

1/ Thủ đắc riêng biệt.[101] (a) Hoặc chỉ thủ đắc giới của con mắt mà không thủ đắc giới của thức con mắt. Đó là sở đắc một cách tiệm tiến căn con mắt trong Dục giới; và khi chết ở Vô sắc giới mà tái sinh vào cơi thiền thứ hai.[102] (b) Hoặc thủ đắc giới của thức con mắt chứ không giới của con mắt: khi tái sinh các cơi thiền từ thứ hai trở lên, nhăn thức hiện tiền; hoặc từ đó chết tái sinh các cơi thấp hơn.

2/ Thủ đắc cùng lúc.[103] (a) Thành tựu cả hai khi sở đắc. Đó là chết ở Vô sắc giới tái sinh vào Dục giới và Phạm thế. (b) Không thủ đắc cả hai: trừ các trường hợp kể trên.

Khi thành tựu (samanvāgata) giới của con mắt, có thành tựu luôn giới của thức con mắt không? Có bốn phạm trù:

Thứ nhất, tái sinh trong các cơi thiền từ thứ hai trở lên, thức con mắt không hiện tiền.

Thứ hai, sinh trong Dục giới, con mắt chưa sở đắc hoặc đă mất.

Thứ ba, sinh trong Dục giới, con mắt đă sở đắc và chưa mất; sinh trong Sơ thiền; sinh trong các cơi thiền thứ hai trở lên khi đang nh́n.

Thứ tư, trừ các trường hợp trên.

Cũng như vậy, sở đắc và thành tựu của giới của con mắt và giới của sắc; giới của thức con mắt và giới của sắc, theo sự hợp lư mà suy diễn.

Từ , trong và cùng với,[104] có mục đích tóm lược điều được lập luận như vậy.

18. Nội nghoại

Có bao nhiêu giới thuộc nội tự thân?[105] Bao nhiêu giới ngoại thân?

dvādaśādhyātmikāḥ…

內十二眼等

[39a] Nội giới, có mười hai.

Những ǵ là mười hai?

… hitvā

rūpādīn…

[39ab] Trừ đi các giới có sắc.

Sáu thức và sáu sở y của chúng; đây là mười hai giới nội tự thân. Sáu giới thuộc cảnh vực, gồm sắc các thứ, là các ngoại giới.

Trong khi không tồn tại tự ngă, do đâu mà nói nội tự thân và ngoại tại? V́ là điểm y chỉ cho quan niệm về cái tôi chủ thể,[106] tâm được gọi là tự ngă. Như Kinh nói, «Do bởi tự ngă được khéo chế ngự,[107] kẻ trí đạt đến thiên giới.» Và nơi khác, Thế Tôn nói đến sự chế ngự đối với tâm, «Tốt đẹp thay, sự chế ngự đối với tâm. Tâm được chế ngự dẫn đến an lạc.» Do sự gần gũi với sở y của tâm vốn được cho là tự ngă, các căn, kể từ con mắt, được nói là thuộc nội tự thân. Sắc các thứ, v́ là cảnh vực, nên được gọi là ngoại tại.

Nếu vậy, sáu thức giới không thể được gọi là thuộc nội tự thân. Thật vậy, khi chưa trở thành trạng thái ư giới, chúng không làm sở y cho tâm.[108] Nhưng khi chúng trở thành trạng thái ư giới, chúng không vượt ngoài đặc tính của ư giới. Nếu không như vậy, ư giới chỉ là quá khứ chứ không là vị lai, hiện tại. Nhưng mười tám giới được thừa nhận[109] thuộc cả ba thời. Vả lại, nếu thức vị lai và hiện tại không có đặc tính của ư giới, th́ ư giới trong thời quá khứ cũng không được xác nhận. Thật vậy, đặc tính[110] th́ không biến đổi trong các thời.

19. Đồng phần-Bỉ đồng phần

Bao nhiêu giới là đồng phần?[111] Bao nhiêu là bỉ đồng phần?

a. Đồng phần

…dharmasaṃjñakaḥ/

sabhāgaḥ…

法同分

[39b-c] Những ǵ được quan niệm là pháp

Là đồng phần.

Cảnh vực được hạn định[112] cho thức. Nếu ở trong cảnh vực ấy thức đă hiện khởi, hay là pháp tất yếu hiện khởi (utpattidharmī);[113] cảnh vực đó được gọi là đồng phần. Không một pháp giới nào mà trong đó không sinh khởi hay sẽ sinh khởi vô biên ư thức.[114] Quả vậy, tất cả Thánh nhân một cách tất yếu phát khởi tâm này: «Tất cả pháp là vô ngă.» Đối với tâm ấy, trừ tự thể và những ǵ cộng tồn, tất cả pháp đều là đối tượng của nó. Lại nữa, tâm sát na này[115] lại là đối tượng của tâm sát na khác.[116] Như vậy, trong hai sát na, tất cả pháp đều là đối tượng. Do dó, một cách xác định, tất cả pháp đều là đồng phần.

b. Bỉ đồng phần

… tatsabhāgāś ca

śeṣāḥ…

餘二

[39cd] và bỉ đồng phần,

Những giới c̣n lại.

Từ «và» (ca) chỉ cho đồng phần. Cái ǵ được gọi là bỉ đồng phần?[117]

… yo na svakarmakṛt//39/

作不作自業

[39d] Những ǵ không thực hiện chức năng của nó.

Điều được nói đó có nghĩa là ǵ? Cái ǵ thực hiện chức năng của nó th́ đó là đồng phần.[118] Ở đây, con mắt nào đă thấy sắc, sẽ và đang thấy sắc, con mắt đó được gọi là đồng phần. Cũng vậy, cho đến ư; mỗi giới được đề cập với hoạt động theo đối tượng cá biệt của nó.

Theo các nhà Kaśmira, con mắt bỉ đồng phần có bốn trường hợp: con mắt sau khi thấy sắc,[119] đă diệt, đang diệt, sẽ diệt, hay con mắt thuộc pháp không sinh khởi.

Mặt khác, theo các nhà phương Tây (Pāścāttya), có năm trường hợp: pháp không sinh khởi gồm có hai, tương ưng với thức và không tương ưng với thức. Cho đến thân, nên biết, cũng vậy. Nhưng, ư giới, nếu là pháp không sinh khởi, nó là bỉ đồng phần.

Các sắc đă, đang và sẽ được thấy bởi mắt đều là đồng phần. Chúng là bỉ đồng phần trong bốn trường hợp: những sắc sau khi được thấy, đă, đang và sẽ diệt, hay thuộc pháp không sinh khởi. Cũng vậy, cho đến xúc; mỗi giới cần được biết với hoạt động cá biệt liên hệ đến căn của nó. Con mắt nào là đồng phần đối với một người th́ cũng đồng phần đối với tất cả. Bỉ đồng phần cũng vậy. Như vậy cho đến ư.

Tuy nhiên, sắc là đồng phần đối với người nh́n thấy nó. Với người không nh́n thấy, sắc ấy là bỉ đồng phần. Tại sao vậy? Quả thật, có hiện tượng, sắc mà một người nh́n thấy th́ cũng được nhiều người nh́n thấy, như trong sự nh́n ngắm mặt trăng, khiêu vũ, lực sĩ giao đấu. Nhưng không có hiện tượng, hai người nh́n bằng một con mắt chung. Bởi v́ con mắt không cộng thông, cho nên đồng phần và bỉ đồng phần được xác định bằng mỗi cá thể. Nhưng, sắc các thứ vốn cộng thông nên được xác định bởi nhiều cá thể khác nhau. Cũng như sắc; các giới thanh, hương, vị, xúc, nên biết, cũng vậy.

Thanh có thể là như vậy. Nhưng hương, vị, xúc được tiếp nhận bởi một cá thể này th́ không được tiếp nhận bởi một cá thể khác v́ không cộng thông, tức là, v́ tiếp nhận áp sát.[120] Vậy, theo lẽ chúng cũng như con mắt các thứ? Điều đó cũng đúng, nhưng vẫn có hiện tượng cộng thông. Hiện tượng đó là, hương các thứ có thể làm phát sinh thức khứu giác của một cá thể này th́ đối với cá thể khác cũng vậy; nhưng con mắt các thứ th́ không như vậy. Do đó, chúng được suy lư như sắc.

Vậy, sự đồng phần và bỉ đồng phần của thức con mắt các thứ, v́ là pháp sinh hay pháp không sinh, cũng như ư giới.

Đồng phần có nghĩa là ǵ? Phần,[121] là sự giao thiệp hỗ tương[122] của căn, cảnh, thức. Hay phần là sự tương giao tác dụng.[123] Có chung phần ấy[124] nên được gọi là đồng phần. Hoặc do bởi tác dụng cộng đồng của xúc.[125]

Những ǵ không phải là đồng phần, nhưng là đồng loại với đồng phần, nên nói là bỉ đồng phần.

20. Đoạn trừ

Có bao nhiêu giới được đoạn trừ ở kiến đạo?[126] Bao nhiêu được đoạn trừ ở tu đạo?[127] Bao nhiêu phi sở đoạn?[128]

daśa bhāvanayā heyāḥ pañca ca...

十五唯修斷

[40a] Mười giới được đoạn trừ bởi tu, và năm thức giới.

antyās trayas tridhā

後三界通三

[40b] Ba giới cuối thuộc cả ba.

Ư giới, pháp giới, và ư thức giới, theo thứ tự liệt kê, ba giới này được kể là ba giới cuối, gồm cả ba h́nh thái.

Được đoạn trừ bởi kiến (darśanaheya) là tám mươi tám tùy miên (anuśaya), cùng với những cộng hữu của chúng (tatsahabhūva),[129] đắc (prapti)[130] của chúng, và cùng với các tùy hành.[131] Được đoạn trừ ở tu đạo (bhāvanaheya) là các pháp hữu lậu c̣n lại. Vô lậu thuộc phi đoạn (apraheya).

Há không phải có một pháp khác được đoạn trừ bởi kiến (darśnaprahātavyam), tức dị sinh tính (pṛthagjanatvat), và nghiệp thân, khẩu, ư dẫn đọa ác thú; v́ pháp này hoàn toàn tương phản với Thánh đạo?[132] Tuy vậy, pháp ấy không phải được trừ bởi kiến. Điều này được nói vắn tắt.

na dṛṣṭiheyam akliṣṭaṃ

na rūpaṃ nāpy aṣaṣṭam[133] //40

不染非六生       色定非見斷

[40cd]Không phải là kiến đoạn, không phải phi nhiễm ô,

không phải thứ sáu sinh, cũng không phải là sắc.

Không có pháp không nhiễm ô[134] nào được đoạn trừ bởi kiến; sắc[135] cũng không. Dị sinh tính thuộc loại vô kư không nhiễm ô, v́ đă thành tựu đoạn thiện căn,[136] hay ly nhiễm.[137] Nghiệp thân và ngữ là sắc. Do đó, chúng không được đoạn trừ bởi kiến.[138] V́ sao?