Những bậc cổ đức giảng thuật giáo điển, trước khi giải thích chánh văn đều có nêu bày ư nghĩa tổng quát để giới thiệu giáo nghĩa u huyền.
Riêng luận Cu-xá này, các nhà chú giải danh tiếng thường dùng nhiều phương pháp khác nhau. Như Pháp sư Phổ Quang th́ lập ba môn phân biệt :
1. Minh luận duyên khởi;
2. Thích luận đề mục;
3. Tùy văn biệt thích.
Pháp sư Pháp Bảo th́ lập thành năm môn :
1. Sơ chuyển pháp luân thời;
2. Học hành thứ đệ;
3. Khởi giáo nhân duyên;
4. Bộ chấp tiền hậu;
5. Y văn giải thích.
Pháp sư Viên Huy th́ lập thành sáu môn :
1. Minh luận duyên khởi;
2. Thắng luận tôn chỉ;
3. Minh tạng sở nhiếp;
4. Phiên dịch bất đồng;
5. Lược giải phẩm đề;
6. Quảng thích văn nghĩa.
Ngoài ra, những nhà chú giải khác, như ngài Trạm Huệ th́ lập thành sáu môn, ngài Lâm Thường lập tám môn, v.v… Phương cách tuy nhiều, chẳng khác nào lan huệ đua nhau phô trương vẻ đẹp, nhưng tất cả cùng nhắm mục đích xiển dương lư giáo u huyền.
Cách giải thích của tôi ở đây là trước hết t́m hiểu bộ luận này do ai trước tác, và trước tác vào thời gian nào. V́ thế nên nêu phần tác giả và thời gian lên đầu để làm lời dẫn nhập.
Một cách khái quát, luận này do luận sư Bà-tẩu-bàn-đậu (Vasubandhu; cựu dịch là Thiên Thân, tân dịch là Thế Thân ), người Ấn Độ, sinh hoạt trong khoảng thời gian sau Phật diệt độ 900 năm.
Về tiểu sử tác giả, các tài liệu trong Đại tạng như Bà Tẩu Bàn Đậu pháp sư truyện, 1 quyển, và Phó pháp tạng nhân duyên truyện, 1 quyển, chép rằng: Luận sư người Bắc Thiên Trúc, sanh quán tại đại đô thành Bố-lâu-sa-bố-la (Puruṣapura) thuộc nước Kiền-đà-la (Gandhāra), họ Kiều-thi-ca, chủng tộc Bà-la-môn (một trong bốn giai cấp xă hội Ấn độ). Ngài có ba anh em, tất cả đều xuất gia theo bộ phái Tát-bà-đa (Sarvāstivāda: Nhất Thiết Hữu Bộ, hay nói tắt: Hữu Bộ), một trong 20 bộ phái Tiểu thừa .
Anh ngài là Vô Trước (Asaṅga), sớm đă tỏ ngộ Không lư (śūnyatā của Tiểu thừa, không c̣n bị bế tắc.) Từ đó mà thông suốt thật tướng, trở về chuyên hoằng dương giáo nghĩa Đại thừa.
Em ngài là Tỉ-lân-đặc-bạt-bà th́ chỉ theo giáo nghĩa Tiểu thừa mà thôi.
Riêng ngài là một bậc thông tuệ tuyệt vời. Khi c̣n theo Tiểu thừa, Ngài viết 500 bộ luận để xiển dương giáo nghĩa này. Về sau, được sự khuyến dẫn của anh là Vô Trước, Ngài trở về với Đại thừa và cũng viết 500 bộ luận để hoằng truyền giáo nghĩa này. V́ thế, đương thời Ngài được tôn xưng là “Thiên bộ luận sư .” Cu-xá là một trong số 500 bộ luận thuộc Tiểu thừa do Ngài trước tác.
Về địa điểm tạo luận. Theo Tây vực kư, quyển 2, cách thành Bố-lâu-sa-bố-la, nước Kiền-đà-la, 8 hay 9 dặm về phía đông có một cây Tất-bát-la; phía nam của cây này có một ngôi tháp do vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) dựng lên khoảng sau Phật diệt độ 400 năm. Phía tây của ngôi tháp có một ngôi chùa cao và rộng lớn với nhiều tầng, tên là Quỳnh Lâm, cũng do vua Ca-nị-sắc-ca kiến lập. Tầng thứ ba của chùa là một tăng pḥng nơi mà trước kia ngài Hiếp Tôn giả ở. Phía đông tăng pḥng đó có một gian nhà, chính là nơi Luận sư viết luận Cu-xá.
Về thời gian trước tác luận Cu-xá, không thấy có sách nào ghi chép. Tuy nhiên, trên đại thể, có thể căn cứ vào các điều sau đây để suy đoán:
Ngài Thế Thân lúc 80 tuổi mới viết bộ Duy thức tam thập tụng. Đây là tác phẩm sau cùng của Ngài.
Cu-xá được viết trong thời gian Ngài chưa theo Đại thừa.
Và nếu như chấp nhận năm 900 năm sau Phật diệt độ là năm luận sư ra đời th́ có thể ước định rằng, Cu-xá được viết khoảng trước hay sau 940-950 sau Phật diệt độ.
Tuy nhiên, năm sanh của luận sư có nhiều thuyết sai khác:
Các tác phẩm như Duy thức thuật kư, Trung biên sớ, th́ nói Ngài ra đời sau Phật diệt độ 900 năm.
Tây vực kư và Từ Ân truyện th́ cho rằng ngài ra đời sau Phật diệt độ 1.000 năm.
Bài tựa của Huệ Khởi pháp sư viết cho luận Cu-xá th́ chép Ngài ra đời sau Phật diệt độ 1.100 năm.
Nhưng theo các nhà Cu-xá, như Quang kư quyển 8, hay Bảo kư quyển 8, đều chấp nhận thuyết 900 năm. V́ thế, nay cũng căn cứ vào thuyết 900 năm đó để xác định thời gian tạo luận.
Tóm lại, luận Cu-xá này do luận sư Thế Thân, người Bắc Thiên Trúc, nước Kiền-đà-la, ra đời trong khoảng thời gian sau Phật diệt độ 900 năm, trước tác tại một tăng pḥng không xa đại đô thành Bố-lâu-sa-bố-la (Puruṣapura) bao nhiêu.
Chúng ta đă biết Luận sư viết luận này. Nhưng với ư hướng nào mà Ngài viết ra nó? Trước tiên, xin nói lên sự thật về nguồn gốc của luận, sau đó sẽ nói về ư hướng ấy.
Về nguyên do viết luận, các tác phẩm như Quang kư, Bảo sớ, Tụng sớ, đều ghi chép khá rơ. Ở đây chỉ nhắc lại, khỏi phải giảng giải thêm.
Bảo sớ quyển 1 chép: Bồ tát Thế Thân , người nước Kiền-đà-la. Ban đầu, Ngài xuất gia theo Hữu bộ, do đó học hỏi nghiên cứu Tam tạng của Hữu bộ. Sau ngài học giáo điển của Kinh bộ (Sautrāntika) và cho rằng nghĩa lư của bộ phái này chánh đáng hơn. Bấy giờ, đối với giáo nghĩa của Hữu bộ, có chỗ ngài đồng ư, có chỗ ngài phủ nhận. Ngài muốn đến Ca-thấp-di-la (Kaśmira) nghiên cứu thêm giáo nghĩa của Hữu bộ để khảo định lẽ thị phi. Nhưng sợ chúng Tăng ở đó đem ḷng đố kỵ, nên Ngài đổi tên, âm thầm đến tham học. Trải qua bốn năm, Ngài thông suốt tất cả giáo nghĩa trong Tam tạng của Hữu bộ, và thường đem nghĩa lư của Kinh bộ đả phá Hữu bộ. Bấy giờ có vị A la hán tên là Tắc-kiền-đà, Tàu dịch là Ngộ Nhập, là bổn sư của ngài Chúng Hiền (Saṅghabhadra). Vị La hán này thường bị Ngài chất vấn, rất lấy làm lạ về tư cách của Ngài, bèn nhập định quán sát, mới biết đó là Thế Thân, và âm thầm đến bảo: “Chúng tăng ở đây có người chưa ly dục, e rằng sẽ gây hại. Trưởng lăo hăy mau trở về nước.”
Nhân đó, Ngài trở về và viết luận tụng.
Tụng sớ quyển 1 chép: Bấy giờ, ngài Thế Thân sau khi về nước, giảng T́-bà-sa. Cứ sau mỗi ngày giảng xong, Ngài đúc kết viết thành một bài kệ tóm tắt tinh nghĩa đă giảng trong ngày ấy, rồi cho khắc lên lá đồng đỏ. Lần hồi như thế, tổng cộng hết thảy được 600 bài tụng, tóm thâu trọn vẹn yếu nghĩa của Đại-t́-bà-sa . Ngài cho voi chở số lá đồng đỏ có khắc các bài tụng ấy, gióng trống tuyên bố: “Ai đả phá được ư nghĩa của những bài kệ này, tôi xin bái tạ.” Cuối cùng không một ai phá nổi. Rồi Ngài cho người mang qua tặng nước Ca-thấp-di-la. Bấy giờ, quốc vương và chúng Tăng ở đó nghe thế, ai nấy đều vui mừng. Họ trang hoàng những phướn, những lọng, cờ xí, đi nghinh đón. Đàn voi chở kệ tụng đi trước, đoàn người nghinh đón theo sau. Về đến Ca-thấp-di-la, mọi người cùng nghiên cứu học hỏi. Phần lớn ai cũng cho rằng Luận chủ đă xiển dương giáo nghĩa của bộ phái ḿnh. Bấy giờ, ngài Ngộ Nhập bảo đồ chúng rằng: “không phải chỉ cốt hoằng truyền tông nghĩa của Hữu bộ đâu. Bởi lẽ đọc đến chữ ‘truyền thuyết’ th́ thấy h́nh như Luận chủ không tin. Nếu như các ông nghi ngờ th́ hăy xin Luận chủ giải thích ắt rơ.”
Nghe thế, quốc vương và chúng Tăng mới cử người mang lễ vật đến xin Luận chủ giải thích bản văn. Nhân đó, Ngài làm thêm khoảng tám ngàn bài tụng nữa để giải thích, rồi cho sứ giả mang về. Nhờ thế, mọi người ở Ca-thấp-di-la mới thấy đúng như lời ngài Ngộ Nhập đă nói. Quả thật, chủ ư của ngài Thế Thân không nghiêng hẳn về Hữu bộ.
Căn cứ vào các đoạn văn trên đây, ta có thể biết nguyên do sáng tác bộ luận này, là ngài Thế Thân muốn khảo định lẽ thị phi về tôn nghĩa của Hữu bộ. Do đó, Ngài giảng Đại-t́-bà-sa, ban đầu viết 600 bài tụng căn bản; sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng Hữu bộ, Ngài viết thêm văn trường hàng. Sự kiện đó đă quá rơ ràng. Nhưng bằng vào ư hướng nào mà Ngài sáng tác luận Cu-xá? Căn cứ đoạn văn đă dẫn trên đây, ta có thể suy luận mà biết được một cách đại khái. Nhưng không phải chỉ có vậy.
Nếu căn cứ Tụng sớ, quyển 1, có ba ư hướng tạo luận:
1. V́ muốn cho chúng sanh đoạn trừ phiền năo;
2. V́ muốn làm phát sinh trí tuệ sáng suốt của hàng trí giả;
3. V́ muốn hoằng truyền và bảo tồn Chánh Pháp được lâu dài.
Các điều này có thể trích dẫn luận văn để xác chứng. Tuy nhiên ba ư hướng ấy, tạng Luận nào của Phật giáo cũng đều có cả. V́ cả ba đều là ư hướng chung của các luận gia.
Khảo sát duyên khởi của bộ luận này, ta thấy ư hướng đặc thù của nó chính là phá trừ sự thiên chấp của Hữu bộ để hiển bày chánh lư của lời Phật dạy. Dựa vào đâu để chúng ta có thể nói như vậy ? Chúng ta biết rằng ngài Thế Thân vốn xuất gia theo Hữu bộ. Tất nhiên đối với giáo nghĩa của bộ phái này Ngài phải tôn trọng phụng tŕ. Nhưng lúc ấy, tại Ấn độ, Hữu bộ không chỉ thịnh hành ở Kiền-đà-la (Gandhāra) là sanh quán của ngài Thế Thân, mà c̣n rất thịnh hành ở Ca-thấp-di-la (Kaśmira, là một lân bang). T́nh trạng đồ chúng Hữu bộ tại Ca-thấp-di-la thực sự như thế nào?
Sau khi đức Phật diệt độ khoảng 400 năm, vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka tập họp Thánh chúng gồm 500 vị A-la-hán biên tập luận Đại t́-bà-sa (Mahāvibhāsa). Về sau, đối với Đại t́-bà-sa cũng như đối với Lục túc và Phát trí , các luận điển được coi là nền tảng, họ tôn trọng hơn kinh do đức Phật nói ra. C̣n đối với kinh luận được các bộ phái khác sử dụng, họ một mực bài bác. Thái độ khen ḿnh chê người đến cực điểm, không kể ǵ lẽ phải, cứ khư khư chấp chặt danh tướng, như cho rằng “Tam thế thật hữu”, “Tam khoa cu thật”, v.v... mà ở đây không cần nói chi tiết.
Ngài Thế Thân muốn loại bỏ tư tưởng thiên vị bè phái đó. Nếu nghĩa lư nào đúng đắn, th́ dù của bộ phái khác Ngài cũng chấp nhận; c̣n nếu phi lư th́ dù là của tôn phái ḿnh Ngài cũng gạt bỏ. Mục đích của Ngài cốt phá trừ các t́nh chấp ngoan cố hẹp ḥi từ trước đến nay của các bộ phái mà phát huy chơn lư của pháp Phật. Cho nên, Tây vực kư, quyển 4, nói rằng: “Bấy giờ có Bồ tát Thế Thân một ḷng tôn sùng đạo lư huyền diệu, cầu sự hiểu biết ngoài ngôn từ, đả phá chỗ chấp trước của T́-bà-sa mà viết luận A-t́-đạt-ma Cu-xá. Ngôn từ và nghĩa lư đều tinh tường, lư trí cao siêu thần nhă.” Đây là một bằng chứng. Một chứng cứ khác là trong luận Cu-xá, quyển 29, ngài Thế Thân cũng nói rằng: “Nghĩa lư của Ca-thấp-di-la đă hoàn bị. Phần lớn tôi nương vào đó để giải thích đối pháp. Có một ít điều chê bai, đó là lỗi ở nơi tôi. Nhưng phê phán đâu là Chánh lư th́ chỉ có đức Mâu-ni.” Độc giả cũng nên để ư.
Luận này, như đă biết, nhắm mục đích đả phá thiên chấp của Hữu bộ để làm sáng tỏ chân lư của giáo pháp; nhưng tŕnh bày như thế nào để thấy rơ chơn lư ấy? Ở đây, ta căn cứ vào cách tổ chức của bộ luận để thuyết minh.
Toàn bộ luận này gồm có 30 quyển, chia làm 9 đoạn lớn:
1. Phẩm giới, 2 quyển;
2. Phẩm căn 5 quyển;
3. Phẩm thế gian, 5 quyển;
4. Phẩm nghiệp, 6 quyển;
5. Phẩm tùy miên, 3 quyển;
6. Phẩm Hiền Thánh, 4 quyển;
7. Phẩm trí, 2 quyển;
8. Phẩm định, 2 quyển;
9. Phẩm phá ngă, 1 quyển.
Trong 9 phẩm này, nghĩa lư được thuyết minh như thế nào th́ Cu-xá Quang kư, quyển 1, và Cu-xá bảo sớ, quyển 1, đă có nói. Theo ư trong đó để thuyết minh, ở đây có thể chia làm hai phần lớn:
A. Từ phẩm Giới đến phẩm Định (8 phẩm, 29 quyển): thuyết minh sự tướng của các pháp.
B. Phẩm Phá ngă: thuyết minh lư vô ngă.
Trong phần sự tướng của các pháp nói trên, lại có thể chia làm 2:
I. Phẩm Giới và Phẩm Căn: thuyết minh tổng quát các pháp hữu lậu và vô lậu.
II. Từ phẩm Thế gian đến phẩm Định: thuyết minh riêng biệt về các pháp hữu lậu và vô lậu.
Trong phần thuyết minh tổng quát lại chia làm 2:
1. Phẩm Giới: thuyết minh thể của các pháp.
2. Phẩm Căn: thuyết minh dụng của các pháp.
Trong phần thuyết minh riêng biệt cũng chia làm 2 phần:
1. Phẩm Thế gian, phẩm Nghiệp, phẩm Tùy miên: thuyết minh hữu lậu.
2. Phẩm Hiền thánh, phẩm Trí, phẩm Định: thuyết minh vô lậu.
Trong phần thuyết minh hữu lậu lại chia làm 3:
a) Phẩm Thế gian: thuyết minh quả hữu lậu.
b) Phẩm Nghiệp: thuyết minh nhơn hữu lậu
c) Phẩm Tuỳ miên: thuyết minh duyên hữu lậu.
Trong phần thuyết minh vô lậu lại cũng chia làm 3:
a) Phẩm Hiền thánh: thuyết minh quả vô lậu.
b) Phẩm Trí: thuyết minh nhơn vô lậu.
c) Phẩm Định: thuyết minh duyên vô lậu.
Xin xem đồ biểu dưới đây:
|
Thuyết minh tổng quát hữu lậu, vô lậu Phẩm Giới (2 quyển): Thể các pháp Phẩm Căn (5 quyển): Dụng các pháp Thuyết minh riêng về hữu lậu Phẩm Thế Gian (5 quyển): Quả hữu lậu Phẩm Nghiệp (6 quyển): Nhơn hữu lậu Phẩm Tùy Miên (3 quyển): Duyên hữu lậu Thuyết minh riêng về vô lậu Phẩm Hiền Thánh (4 quyển): Quả vô lậu Phẩm trí (2 quyển): Nhơn vô lậu Phẩm Định (2 quyển): Duyên vô lậu Phẩm Phá ngă (1 quyển): Thuyết minh lư vô ngă |
Tuy tŕnh bày như trên, nhưng c̣n e rằng người đọc khó hiểu. Cho nên, nói một cách đơn giản hơn, th́ toàn bộ luận Cu-xá, tuy sâu rộng nhưng sự tổ chức của nó không ngoài bốn nghĩa chính sau đây:
I. Thuyết minh Thể, Dụng của vũ trụ vạn hữu (phẩm Giới và Căn).
II. Thuyết minh nhân và quả của mê (phẩm Thế gian, phẩm Nghiệp, phẩm Tùy miên).
III. Thuyết minh nhân và quả của ngộ (phẩm Hiền thánh, phẩm Trí, phẩm Định).
IV. Thuyết minh đạo lư vô ngă (phẩm Phá ngă).
Xin xem đồ biểu dưới đây.
|
Phần I: thuyết minh Thể, Dụng các pháp: (thể................. Phẩm Giới (dụng.............. Phẩm Căn Phần II: thuyết minh Nhân Quả của mê: (kết quả.......... Phẩm Thế gian (thân nhân....... Phẩm nghiệp (sơ duyên........ Phẩm Tùy miên Phần III: thuyết minh Nhân Quả của ngộ: (kết quả.......... Phẩm Hiền Thánh (thân nhân....... Phẩm Trí (sơ duyên........ Phẩm Định Phần IV: thuyết minh đạo lư vô ngă… Phẩm Phá ngă |
Như đă biết, tổ chức của bộ luận này được căn cứ vào bốn nghĩa chính đă tŕnh bày để thành lập. Như thế, toàn thể luận chắc chắn phải có đối tượng tôn sùng và chủ đích để làm tôn chỉ. Vậy, tôn chỉ của nó là ǵ? Đó là “Quán sát cùng tột lư nhân quả của mê và ngộ để đạt đến chơn trí vô lậu của Niết-bàn.” Tại sao nói như vậy? Bởi lẽ, nếu không nhắm mục đích ấy th́ thuyết minh về thể tính, tác dụng của vũ trụ vạn hữu ở 2 Phẩm Giới và Căn, gồm 7 quyển, để làm ǵ? Thuyết minh về nguyên nhân và kết quả của mê ở 3 phẩm Thế gian, Nghiệp và Tùy miên, gồm 14 quyển, để làm ǵ? Thuyết minh nguyên nhân và kết quả của ngộ ở 3 phẩm Hiền thánh, Trí và Định, gồm 8 quyển, để làm ǵ? Và đả phá chủ trương hữu ngă của các luận phái cổ đại Ấn độ, như Số luận (Saṃkhya) và Thắng luận (Vaiśeṣika), ở phẩm Phá ngă để làm ǵ? Tất cả đều nhắm mục đích, phát khởi chơn trí vô lậu của chúng ta để quét sạch trần cấu vọng niệm vô minh từ vô thỉ mà đạt đến cảnh giới Niết-bàn. Cứ xem đề mục của luận th́ càng thấy rơ tôn chỉ của nó hơn. Đề mục là tiêu điểm tổng quát của một bộ luận. Đề mục của luận này là A-t́ đạt-ma Cu-xá (Abhidharma-Kośa). A-bi (abhi) dịch là đối; Đạt-ma (dharma) dịch là Pháp; Cu-xá (Kośa) dịch là tạng. Vậy, A-t́ đạt-ma cu-xá là “Đối pháp tạng .”
“Đối” có hai nghĩa: đối quán lư mê ngộ (lư Tứ đế) và đối hướng quả Niết bàn. Nhưng lấy cái ǵ để “đối quán” và “đối hướng”? Đó là trí tuệ vô lậu chơn chánh. Luận này bao hàm trọn vẹn trí tuệ ấy nên được mệnh danh là Đối pháp tạng. Đă gọi là “Đối pháp tạng” th́ tôn chỉ được thuyết minh trong đó không ngoài trí tuệ đối pháp. Tóm lại, giáo nghĩa của luận này tuy trăm sai ngàn biệt nhưng lư do để phân chia nhơn quả của mê ngộ th́ không ngoài điều căn bản là khai phát được trí lực chơn chánh hay không. Cho nên, điểm trọng yếu của luận này là khai phát trí tuệ vô lậu.
Trong 20 bộ phái Tiểu thừa, luận này thuộc về bộ phái nào? Thời trước, có thuyết cho rằng luận này thuộc về Hữu bộ (Sarvāstivāda: Tát-bà-đa); thuyết khác lại cho là thuộc về Kinh bộ (Sautrāntika). Chẳng có thuyết nào hoàn toàn đúng cả. Song nếu khảo sát về tôn phái chính của luận sư th́ ngài thuộc về Hữu bộ. Nhưng v́ đồ chúng của Hữu bộ chỉ biết tôn sùng giáo nghĩa của bộ phái ḿnh cho nên chủ trương của họ thường phản lại chơn lư của giáo nghĩa. Do đó, luận sư đă nêu ra những sai lầm của họ để điều chỉnh lại với một tinh thần vô tư, không thiên lệch. Mặc dù tôn phái chính của Ngài là Hữu bộ nhưng giáo lư mà Ngài chấp nhận là giáo lư đúng của bất cứ bộ phái nào trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Ngược lại, giáo lư nào thiên lệch th́ Ngài loại bỏ.
Cu-xá đă lấy vô lậu chơn trí của đối pháp là tôn chỉ, vậy t́nh trạng truyền bá của nó ở Trung quốc như thế nào? Điều này tưởng cũng cần đề cập đến một cách rơ ràng hơn.
Ngài Thế Thân khi trước tác luận này rồi, các nhà Phật học đương thời cùng các hàng trí thức ở Ấn độ không ai là không gia tâm nghiên cứu học hỏi. Cho nên, luận c̣n được gọi là Thông minh luận. Đến khi được truyền vào Trung quốc, th́ có hai nhà phiên dịch.
Vị thứ nhất là ngài Tam tạng Bà-la-mạt-na (Paramārtha, dịch là Chân Đế), người nước Ưu-thiền-ni (Ujyani) ở Ấn độ, đến Trung quốc niên hiệu Thiên gia năm thứ 4 (563) dưới triều vua Trần Văn Đế, trú tại chùa Chế Chỉ, tỉnh Quảng Châu, dịch luận này thành 22 quyển. Đời Trần có ngài Trí Khải , đời Đường có ngài Tịnh Huệ, đều có viết sớ giải để truyền bá.
Đây là lần đầu tiên Cu-xá được phiên dịch và cũng là lần đầu tiên được truyền bá tại Trung Hoa.
Vị thứ hai là ngài Tam tạng pháp sư Huyền Trang, đời nhà Đường. Ngài đích thân đến Ca-thấp-di-la, Ấn Độ, học áo nghĩa của Cu-xá với đại luận sư Tăng-già-da-xá (Saṅghayaśa). Sau khi về nước, vào niên hiệu Vĩnh huy năm thứ 2 (651) dưới triều vua Đường Cao Tông, Ngài trú tại chùa Từ Ân, dịch luận này thành 30 quyển. Kế đó, ngài Thần Thái, ngài Phổ Quang, và ngài Pháp Bảo , mỗi Ngài đều có viết 30 quyển sớ kư về Cu-xá truyền bá rất thịnh hành. Sau đó, ngài Viên Huy viết Tụng sớ 14 quyển, ngài Huệ Huy viết Tụng sớ sao 6 quyển, ngài Tuần Lâm viết Tụng sớ kư 12 quyển giảng giải nghĩa lư hết sức rành mạch.
Đem so hai bản dịch, của ngài Huyền Trang và của ngài Chân Đế, bản dịch của ngài Huyền Trang được lưu hành rộng răi trong quảng đại quần chúng. C̣n bản dịch của ngài Chân Đế th́ các học giả đương thời cho là xưa cổ nên không ai học hỏi đến. Nay giảng luận này cũng dựa vào bản dịch của ngài Huyền Trang mà giảng vậy.
Tiếp đó, vào niên hiệu Bạch trỉ năm thứ 4 (658) đời Hiếu Đức Thiên hoàng, Nhật Bản, có ngài Đạo Chiêu đích thân sang Trung Hoa tham học Cu-xá với ngài Huyền Trang. Sau khi về nước, Ngài truyền bá luận này dưới triều Nại lương, Nhật Bản. Đây là lần đầu tiên Cu-xá được truyền bá tại Nhật bản. Bốn năm sau khi Tề Minh Hoàng tức vị, có ngài Trí Thôn, Trí Đạt cũng đến Trung Hoa tham học luận này với ngài Huyền Trang, rồi về nước truyền bá. Nối gót các Ngài trước, có các ngài Hành Cơ , Thắng Ngu, Huyền Phương, và chư vị đại đức cũng đều gia tâm nghiên cứu luận Cu-xá. Ngài Huệ Mạng, ngài Minh Thuyên kế tiếp các Ngài giảng giải luận này rất sâu rộng trong nhân gian. Ngày nay, các tôn phái, các tự viện, không nơi nào không đem luận này ra nghiên cứu học tập. Căn cứ vào những sự kiện trên, chúng ta có thể thấy được sự lưu truyền của nó hết sức thịnh đạt vậy.