Phần tựa chia làm hai phần: Quy kính và phát khởi. Vậy, qui kính bậc hữu đức như thế nào? Và phát khởi phần chánh tông ra sao?
Tụng đáp.
Âm Hán Việt:
Chư nhất thiết chủng chư minh diệt
Bạt chúng sanh xuất sanh tử nê
Kính lễ như thị Như lư sư
Đối pháp Tạng luận ngă đương thuyết
Việt dịch:
Các đấng đă dứt trừ nhất thiết chủng minh và chư minh,
Cứu vớt chúng sanh ra khỏi bùn sanh tử;
Kính lễ bậc Thầy Như lư như thế;
Tôi sẽ nói luận Đối pháp tạng.
Giải thích:
Trong bài tụng trên đây, ba câu đầu là tựa quy kính. Câu c̣n lại là tựa phát khởi
Chư, chỉ đức Thế Tôn.
V́ sao gọi đức Thế Tôn là “Chư[1]” (những vị)? Sở dĩ gọi đức Thế Tôn là “chư” (những vị) mà không nói thẳng danh hiệu Ngài, như Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn, là v́ Luận chủ muốn tránh lời chê bài của ngoại đạo, sợ họ cho rằng học tṛ thiên vị mà tán thán đức độ của thầy ḿnh chứ không phải hết ḷng yêu chuộng chân lư. Nay nêu chữ “chư” lên đầu là nhằm nói rằng bất luận thầy của ḿnh hay của ngoại đạo, nếu vị nào đầy đủ trí tuệ đức, đoạn hoặc đức và đại bi đức th́ Luận chủ đều quy kính. Tuy nhiên, bậc mà đầy đủ ba đức đó không ai khác hơn là đức Phật. Cho nên, nói “chư” chính là chỉ cho đức Phật vậy.
Nhất thiết chủng chư minh diệt:
Hai chữ “minh diệt” gồm tán thán qua hai phương diện: nhất thiết chủng[2] minh diệt và chư minh diệt. V́ rằng, “minh” (andhakāra, sự mờ ám) có hai thứ:
1. Nhất thiết chủng minh (sarvathā-andhakāra) tức liệt huệ. Liệt huệ này đối với tất cả sự lư không thể hiểu biết một cách rơ ràng. Nó thường làm cho tư tưởng của chúng ta hôn mê mờ ám. Đối với vạn sự vạn vật, lẽ ra chúng ta có thể hiểu biết một cách trọn vẹn, nhưng v́ không có trí tuệ viên măn cao thượng, cho nên đối với chúng, chúng ta không thể hiểu hoặc hiểu một cách mù mờ. Sở dĩ như vậy chính do liệt huệ làm chướng ngại.
2. Chư minh (sarva-andhakāra) tức phiền năo. Phiền năo chính là cơ năng làm nhiễu loạn thân tâm, khiến cho chúng ta mê ám đối với tất cả sự lư.
Nhất thiết chủng minh được gọi là bất nhiễm ô vô tri. Chư minh được gọi là nhiễm ô vô tri.
Sự khác biệt giữa nhiễm ô và bất nhiễm ô như thế nào?
Tánh chất của tâm có thể được chia làm hai loại:
* Chia làm 3 tánh th́ có thiện, ác và vô kư.
* Chia làm 2 tánh th́ có nhiễm ô và bất nhiễm ô.
Phần nhiễm ô chính là tánh ác (thuộc hữu phú vô kư) trong ba tánh. Phần bất nhiễm ô là tánh thiện (thuộc vô phú vô kư) trong ba tánh. Nay, nhất thiết chủng minh, tức liệt huệ, tánh chất của nó là thiện và một phần vô kư cho nên gọi là bất nhiễm ô. Chư minh, tức phiền năo, tánh chất của nó là ác và một phần vô kư cho nên gọi là nhiễm ô.
Tóm lại, nhất thiết chủng minh hay chư minh đều là minh ám. Tuy nhiên, căn cứ theo tánh chất của chúng, chư minh thuộc về phiền năo, có sự nhiễm ô, cho nên gọi là nhiễm ô vô tri. Nhất thiết chủng minh thuộc liệt huệ, không có sự nhiễm ô, nên gọi là bất nhiễm ô vô tri. Xin xem, đồ biểu dưới đây.
|
|
*Thiện tánh |
|
|
|
Nhất thiết chủng minh (tức liệt huệ) |
Vô phú vô kư |
* vô kư tánh |
Ba tánh |
|
|
*Ác tánh |
|
|
|
Chư minh (tức phiền năo) |
* Nhiễm ô * Bất nhiễm ô |
|
Hai tánh |
Diệt (hata) tức khả năng diệt, chia làm hai lớp:
1. Diệt nhất thiết chủng minh: đức Thế Tôn đă xả trừ tất cả liệt huệ, chứng đắc trí tuệ cao thượng viên măn, hiểu biết cùng tột tất cả các pháp một cách như thật, do đây mà thành tựu được Trí đức,
2. Diệt chư minh: Đức Thế Tôn lại đoạn trừ tất cả phiền năo, do đó thành tựu được Đoạn đức.
Nói cách khác, “diệt nhất thiết chủng minh” chính là Trí đức, và “diệt chư minh” chính là Đoạn đức.
Theo bản cựu dịch, luận Cu-xá, câu này được dịch là: “Nhất thiết chủng trí diệt chư minh”, nghĩa là đặt chữ “diệt” dưới chữ “nhất thiết chủng trí” và trên “chư minh”, ư nghĩa bị hạn hẹp. C̣n bản dịch này đặt chữ “diệt” ở cuối câu, ư nghĩa bao quát và hàm súc hơn.
V́ sao? V́ “diệt” có hai - nghĩa về thể và nghĩa về dụng. Về dụng th́ hiển bày nghĩa năng diệt. Về thể th́ hiển bày nghĩa trạch diệt và phi trạch diệt.
Trong văn trường hàng giải thích rằng, “Diệt chư cảnh nhất thiết phẩm minh”, diệt sự mê mờ đối với các cảnh và tất cả sự lư, tức là khả năng diệt trừ hai thứ mê ám. Đây là hiểu nghĩa về dụng. Trường hàng lại nói tiếp: “Ư nhất thiết cảnh minh, nhất thiết chủng minh, chứng bất sanh pháp cố xưng vi diệt”, ngay nơi tự thể của nhất thiết chủng minh và nhất thiết cảnh minh mà chứng đắc pháp vô sanh cho nên nói là “diệt”; tức y vào sự diệt trừ hai thứ minh ám mà chứng đắc trạch diệt và phi trạch diệt. Đây là hiểu nghĩa về thể.
Chữ “diệt” ở trong tụng văn cũng bao gồm 2 nghĩa. Do đó, bản cựu dịch là “Nhất thiết chủng trí diệt chư minh.” Nếu đem chữ diệt đặt lên trên và đọc là: “Nhất thiết trí diệt nhất thiết chủng chư minh”, đó chỉ là nêu lên được cái nghĩa về dụng mà thôi. C̣n bản dịch này dịch, “Chư nhất thiết chủng chư minh diệt”, tức đặt chữ diệt ở cuối câu, th́ bao gồm được cả hai nghĩa bao quát và hàm súc hơn.
Thế nào là trạch diệt và phi trạch diệt? Trạch diệt tức dùng trí lực có khả năng giản trạch mà đoạn trừ tất cả phiền năo để chứng đắc diệt lư. Phi trạch diệt, không giống như diệt lư được chứng đắc bởi trạch diệt; diệt này do thắng duyên hiện tại khiếm khuyết, các phiền năo không sanh, nên chứng được pháp bất sanh một cách cùng tột.
Nay nói “diệt chư minh” tức nhờ vào trí lực có khả năng giản trạch mà đạt được trạch diệt. “Diệt nhất thiết chủng minh” tức những thắng duyên làm sở y cho liệt huệ bị khiếm khuyết không sinh khởi được, do đó chứng đắc phi trạch diệt.
Bạt chúng sanh xuất sanh tử nê:
Chúng sanh (skt: jagad, thế gian) là tên gọi khách của hữu t́nh, là loài có nhiều tính chất sinh tử. Tam giới, ngũ thú là nơi mà tất cả chúng sanh đang bị ch́m đắm, thực khó thoát khỏi, nên gọi là bùn sanh tử (saṃsāra-paṅka). V́ từ vô thỉ đến nay, chúng sanh cứ măi lặn hụp trong đó không biết lúc nào ra khỏi, nên đức Phật thương xót vô hạn. Ngài truyền trao Chánh pháp để cứu độ tất cả; đó là đức tự lợi và lợi tha của Ngài. Đức lợi tha trong hai đức, chính là ân đức trong ba đức.
Kính lễ như thị Như lư sư:
Kính lễ (namaskṛta): là cúi đầu đặt sát chân Phật; tức đem phần tôn quí của ḿnh mà đặt vào chỗ thấp nhất của Ngài, để biểu lộ tấm ḷng tôn kính cùng tột.
Như thị (tasmai): nhắc lại những ǵ đă nói ở hai câu đầu. Hai đức tự lợi và lợi tha cũng chính là ba đức: đoạn, trí và ân.
Như lư sư (yathārthaśāstṛ): Đức Phật khéo léo nói pháp đúng như lư để cứu vớt chúng sanh. Ngôn giáo như lư ấy dạy dỗ khuyên răn đúng như sự thật, không điên đảo, lại hợp lư, hợp thời và hợp cơ, làm lợi lạc cho hữu t́nh. Cho nên trong văn trường hàng giải thích rằng, lời nói của bậc thầy Như lư biểu thị đức lợi tha.
Tóm lại, ba câu trên nói rằng, bậc nào diệt trừ nhất thiết chủng minh và chư minh th́ đầy đủ ba đức. Bậc mà đầy đủ ba đức nơi chính ḿnh, ban bố ân đức vô biên như thế, không ai khác hơn là đức Thế Tôn. Đó là nơi mà Luận chủ đem hết ḷng qui kính hướng đến.
Trước khi tạo luận, tại sao Luận chủ tán thán các đức của đức Phật như thế, và tỏ bày sự kính lễ ấy? Theo thông lệ, luận sư nào khi tạo luận trước hết cũng đều tán thán các đức của đức Phật, hoặc qui kính Tam bảo, chứ không riêng ǵ luận này mới như vậy. Chẳng hạn, luận Thành duy thức, luận Khởi tín, v.v… trước tiên đều có bài tựa qui kính. Nhưng ư qui kính ấy như thế nào?
Nếu đức Phật không nói Pháp th́ pháp đâu mà chúng ta nghe? Nay may mắn gặp được giáo pháp tối thắng của Ngài, chúng ta cần phải báo đáp ân đức ấy.
Lại nữa, công nghiệp tạo luận quá lớn lao, nếu không nhờ Phật gia hộ th́ khó mà hoàn thành. Cho nên, thỉnh cầu Ngài gia hộ để đạt đến mục đích ấy.
V́ trí tuệ của Luận chủ không đầy đủ, nếu đem kiến thức của ḿnh để tạo luận, e mọi người không tin, nên trước phải qui kính đức Phật để tạo ḷng tin, và nói lên ư Luận chủ chỉ là người thừa tiếp.
Ở đời, bậc tôi trung hay người con hiếu thảo muốn làm việc ǵ trước tiên tâu với vua hoặc thưa cùng cha mẹ. Là đệ tử Phật, Luận chủ phải qui kính Ngài để biểu lộ phần lễ nghi của ḿnh.
Đức Phật là vua trong tất cả các Thánh, trước tiên qui kính Ngài để nói lên rằng Ngài là bậc cao cả nhất.
Các ư trên đây đều cần có trong phần tựa qui kính. Nhưng nay Luận chủ qui kính Phật, chính v́ Ngài là bậc cao cả nhất. Cho nên văn trường hàng giải thích rằng: Nay muốn tạo luận này để làm sáng tỏ thực thể cao quí siêu việt hơn các Thánh của Thầy ḿnh, nên trước hết tán thán các đức, rồi sau mới tỏ bày sự kính lễ.
Đối pháp tạng luận ngă đương thuyết:
Câu này là văn ư của phần tựa phát khởi. Lư do qui kính bậc đầy đủ ba đức như vậy là để làm ǵ? Để Luận chủ thuyết giảng A-t́-đạt-ma Cu-xá. Đây là đầu mối phát khởi cho phần chánh tôn của bộ luận.
Tóm lại, hai phần tựa qui kính và phát khởi chính là lời tựa của bộ luận này.
Luận chủ giảng luận Đối pháp tạng này, trong đó, chữ “Đối pháp” có ư nghĩa ǵ và thể của nó ra sao?
Tụng đáp.
Âm Hán Việt:
Tịnh huệ tùy hành danh đối pháp
Cập năng đắc thử chư huệ luận
Việt dịch:
Tịnh huệ, tùy hành gọi là đối pháp;
các huệ và các luận có công năng đưa đến tịnh huệ và tùy hành ấy đều được gọi là Đối pháp.
Đoạn văn này trả lời cho vấn đề được đặt ra ở trên.
Liên quan đến danh xưng Đối Pháp (Abhidharma), kinh Phân biệt công đức có hai cách giải thích, luận Đại t́-bà-sa có 24 cách giải thích, luận Nhiếp đại thừa của ngài Thế Thân có 2 cách giải thích, và văn trường hàng của luận này cũng có 2 cách giải thích. Ngoài ra c̣n có rất nhiều cách giải thích khác, ở đây không thể nêu lên hết được. Nay, y cứ vào bản luận để thuyết minh nghĩa của Đối pháp.
Chữ “đối” có hai nghĩa: đối quán và đối hướng. Đối quán nghĩa là tâm và cảnh đối nhau; tức đem tâm chủ quan cùng với cảnh khách quan đối nhau để quan sát cảnh giới khách quan. Đối hướng nghĩa là nhơn và quả đối nhau; tức từ nguyên nhân này hướng đến kết quả kia để tiến bước tu hành.
Chữ “pháp ”, theo văn trường hàng giải thích, chỉ có một nghĩa nhiệm tŕ mà thôi. Nhưng căn cứ theo lời văn th́ lẽ đáng phải đủ cả hai nghĩa: nhiệm tŕ tự tánh và quĩ sanh vật giải. Phàm bất cứ sự vật ǵ tồn tại, dù hữu h́nh hay vô h́nh, có hiện tượng hay không hiện tượng, đều có tự tánh riêng của chúng, không mảy may lẫn lộn, cho nên nó có nghĩa “nhiệm tŕ tự tánh.” Ví dụ như cây tùng; nó vẫn giữ lấy tự tánh của cây tùng, dù trong trường hợp nào cũng không bỏ mất tánh chất của nó là tùng. Cây mai giữ lấy tự tánh của cây mai, dù trong trường hợp nào vẫn không bỏ mất tánh chất của nó là mai. Nghĩa nhiệm tŕ là như vậy. Thế nhưng, mọi vật không chỉ giữ lấy tự tánh của chúng, mà c̣n có một khuôn khổ qui tắc nhất định, nhờ đó chúng ta có thể biết ngay đó là vật ǵ, cho nên c̣n có nghĩa “quĩ sanh vật giải” nữa. Như cây tùng, cây mai không chỉ giữ lấy tự tánh của chúng mà đồng thời c̣n khiến cho chúng ta biết được đó là cây tùng, cây mai. V́ thế, danh từ “Pháp” (dharma) trong Phật giáo được dùng để chỉ chung cho vạn vật. Nhưng chữ “pháp” được nói ở đây chính là Lư pháp tức “Khổ-tập-diệt-đạo” và quả pháp “Niết-bàn”. Lư “Khổ-tập-diệt-đạo” là đạo lư của “nhơn quả mê ngộ.” Khổ là quả của mê; Tập là nhơn của mê. Diệt là quả của ngộ; Đạo là nhơn của ngộ. Bởi người đời ở trong cảnh ngộ mê lầm, luôn luôn bị sự nguy hiểm của luật vô thường đe dọa mà không có được niềm vui an tịnh chơn chánh, cho nên gọi kết quả của mê là khổ. Phiền năo hiện khởi hay tiềm phục trong tâm thức và những thứ nhiễm nghiệp phát động nơi thân và khẩu chúng ta, chúng có khả năng chiêu tập kết quả mê lầm, cho nên gọi nguyên nhơn của mê là Tập.
Diệt có nghĩa là bất sanh. Khi chúng ta giác ngộ cảnh giới Niết-bàn th́ tất cả các hoặc nghiệp bị tiêu trừ. Mà đă tiêu trừ rồi th́ không c̣n làm phát sanh sự nguy hiểm của mê lầm trở lại, cho nên gọi là Diệt. Đạo là khả năng đi suốt. Muốn đạt đến quả vị Niết-bàn, chúng ta phải tu giới-định-huệ để làm nhơn cho khả năng đi thông suốt đó, cho nên gọi là Đạo.
Lư Tứ đế được nêu trên là tánh và tướng của tất cả các pháp và được gọi là “pháp tướng pháp .” C̣n quả Niết-bàn, tánh của nó là thiện, là thường nên gọi là “thắng”, có thật thể nên gọi là “nghĩa.” V́ vậy, nó c̣n được gọi là “Thắng nghĩa pháp ”. Như vậy, “đối” có hai nghĩa; “pháp” cũng có hai nghĩa. Nói là “đối pháp” v́ nó không ngoài hai nghĩa đối quán lư Tứ đế, và đối hướng quả Niết-bàn. Đối quán là tâm và cảnh đối nhau. Đối hướng là nhơn và quả đối nhau.
Nhưng khả năng đối quán lư Tứ đế và đối hướng quả Niết-bàn ấy như thế nào?
Tụng đáp.
Âm Hán Việt:
Tịnh huệ tùy hành danh đối pháp
Cập năng đắc thử chư huệ luận
Dịch nghĩa:
Tịnh huệ, tùy hành, gọi là Đối pháp;
Các huệ và các luận có công năng đưa đến tịnh huệ đều được gọi là Đối pháp.
Đây chính là đoạn văn nêu lên thể của Đối pháp vậy.
Thể của Đối pháp có hai: 1. Thắng nghĩa đối pháp thuộc vô lậu; 2. Thế tục đối pháp thuộc hữu lậu.
Trong bài tụng, câu “tịnh huệ, tùy hành danh đối pháp”, chỉ cho Thắng nghĩa đối pháp. Câu “cập năng đắc thử chư huệ, luận” chỉ cho Thế tục đối pháp.
Tịnh huệ (prajñāmāla) là trí tuệ vô lậu thanh tịnh, không mảy may ô nhiễm, có thể giản trạch các pháp về sự cũng như về lư một cách rơ ràng.
Tùy hành (sāmucāra) là tâm, tâm sở, đắc, bốn tướng hữu vi và vô biểu sắc tương ưng với tịnh huệ mà sanh khởi. Tịnh huệ vốn ví như người chủ, tùy hành được ví như tôi tớ. Khi người chủ tịnh huệ dấy khởi, th́ đồng thời một bọn tôi tớ gồm tâm, tâm sở, v.v… cùng dấy khởi theo. Bộ phận tôi tớ ấy được gọi là tùy hành. Đó là Thắng nghĩa đối pháp.
Nhưng không những chỉ tịnh huệ và tùy hành mới được gọi là Đối pháp mà các huệ và các luận có công năng đưa đến tịnh huệ ấy cũng gọi là Đối pháp nữa. Đó là các huệ và các luận.
Các huệ là sanh đắc huệ, văn huệ, tư huệ và tu huệ. Sanh đắc huệ (upapatti-jñāna) là trí huệ cùng có một lần với lúc sanh. Văn huệ (śruta-maya-jñāna) là trí huệ phát sanh nhờ nghe kinh, luật, luận. Tư huệ (cintā-maya-jñāna) là trí huệ phát sanh nhờ quán sát tư duy. Tu huệ (bhāvanā-maya-jñāna) là trí huệ phát sanh nhờ sức thiền định. Các luận chỉ cho các luận Lục túc và Phát trí, liệt kê dưới đây.
Lục túc (sáu luận làm bộ phận chân):
1. Tập dị môn túc luận (Saṅgītiparyāyapāda-śāstra), tác giả là ngài Xá-lợi-phất (Sāriputra), Huyền Trang dịch Hán, 1 vạn 2 ngàn bài tụng, 20 quyển.
2. Pháp uẩn túc luận (Dharma-skandha-pāda-śāstra), 6 ngàn bài tụng, tác giả là ngài Đại Mục-kiền-liên (Mahā-Maudgalyana), Huyền Trang dịch, 12 quyển.
3. Thi thiết túc luận (Prajñaptipāda-śāstra), 1 vạn 8 ngàn bài tụng, tác giả Ca-đa-diễn-ni-tử (Kātyāyanīputra), Huyền Trang thỉnh về, chưa dịch.
4. Thức thân túc luận (Vijñāna-kāya-pāda-śāstra), 10 ngàn bài tụng, tác giả Đề-bà Thiết-ma (Devaśarma), sau Phật diệt độ khoảng 10 năm), Huyền Trang dịch, 16 quyển.
5. Phẩm loại túc luận (Prakarana-pāda-śāstra), tác giả Thế Hữu (Vasumitra, sau Phật 300 năm), Huyền Trang dịch, 18 quyển.
6. Giới thân túc luận (Dhātu-kāya-pāda-śāstra), tác giả Thế Hữu, 6 ngàn bài tụng, Huyền Trang dịch, 3 quyển.
Thân luận (luận làm bộ phân thân):
Phát trí luận (Jñānaprathāna-śāstra), Ca-đa-diễn-ni-tử (Kātyāyanī-putra), Huyền Trang dịch, 20 quyển.
Các huệ và các luận này chẳng phải là đối pháp của Thắng nghĩa vô lậu, mà là phương tiện tư lương cần có để được Thắng nghĩa đối pháp , cho nên gọi chúng là Thế tục đối pháp .
Hai loại Đối pháp, Thắng nghĩa và thế tục, nếu phân tỉ mỉ hơn th́ có bốn loại:
* Tự tánh đối pháp , tức là tịnh huệ;
* Tùy hành đối pháp , tức là quyến thuộc của tịnh huệ;
* Phương tiện đối pháp là 4 huệ hữu lậu;
* Tư lương đối pháp là các luận.
Hai loại đầu thuộc thắng nghĩa đối pháp. Hai loại sau thuộc thế tục đối pháp. Nếu gồm chung cả sở đối quán và sở đối hướng mà nói, th́ có sự khác biệt giữa cảnh đối pháp (lư tứ đế) và quả đối pháp (quả Niết bàn). Tuy nhiên, cái chính yếu mà luận này muốn giải thích là năng đối pháp của 4 loại đối pháp đă nói trước.
Xin xem đồ biểu.
|
ĐỐI PHÁP: 1. Thắng nghĩa đối pháp: a) Tự tánh đối pháp........................ tịnh huệ b) Tùy hành đối pháp...................... tùy hành 2. Thế tục đối pháp: a) Phương tiện đối pháp.................. chư huệ b) Tư lương đối pháp......... chư luận |
Trên đây chỉ mới giải thích khái quát về tụng văn. C̣n như thể của tùy hành, tức là tâm, tâm sở, bốn tướng hữu vi và vô biểu sắc của đạo cọng giới tương ưng với tịnh huệ như thế nào?
Tịnh huệ không sanh khởi một ḿnh mà c̣n có tâm vương, tâm sở cùng khởi theo.Tâm vương ở đây là đệ lục ư thức. Tâm sở ở đây là 9 đại địa pháp (v́ đă trừ huệ tâm sở), 10 đại thiện địa pháp, 2 bất định địa pháp (tầm tứ). V́ sao chúng tương ưng với tịnh huệ? Tâm sở đại địa bất luận hữu lậu hay vô lậu, lúc tâm khởi th́ chúng liền tương ưng sanh khởi theo. Tâm sở đại thiện pháp lúc thiện tâm dấy khởi th́ chúng cùng khởi. Tầm là suy cầu, tứ là nghiệm xét; tính chất của chúng bao gồm cả hữu lậu và vô lậu.
Ngoài ra, các thứ không cùng tương ưng với tịnh huệ gồm có 24 món. Đó là 6 phiền năo địa pháp, 2 bất thiện địa pháp, và 6 bất định địa pháp. V́ các tâm sở này chỉ thuộc về hữu lậu chứ không thuộc về vô lậu. Vậy th́, lúc tịnh huệ dấy khởi những tâm sở tương ưng cùng sanh khởi với nó chỉ 21 món như các tâm sở thuộc đại địa pháp v.v... mà thôi.
Đắc : hiểu là năng đắc. Đă có pháp sở đắc th́ đương nhiên phải có pháp năng đắc đi theo. Nay tịnh huệ sở đắc đă dấy khởi th́ năng đắc không thể không đi theo. Bốn tướng hữu vi cũng vậy. Hễ là pháp hữu vi, th́ đương nhiên phải chịu biến đổi qua bốn giai đoạn sanh, trụ, dị và diệt. Tịnh huệ cũng là pháp hữu vi cho nên 4 tướng ấy cùng đi theo.
Đạo cọng giới không giống như biệt giải thoát giới. V́ biệt giải thoát giới có tác pháp và giới thể. C̣n đạo cọng giới th́ tùy theo chân trí vô lậu mà dấy khởi, tự nhiên xa ĺa được tội lỗi ở nơi thân và khẩu, cho nên gọi là đạo cọng giới vô biểu. Nó là bạn tùy hành của tịnh huệ.
Xem đồ biểu dưới đây.
|
TÙY HÀNH: Sắc pháp...................................... đạo cọng giới vô biểu Tâm pháp................................................ đệ lục ư thức Tâm sở pháp: - đại địa pháp............ thọ, tưởng, tư, xúc, dục, niệm, tác ư, thắng giải, tam ma địa. - đại thiện địa pháp. tín, cần, hành xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an. - Bất định địa pháp......................................... tầm, tứ. Tâm bất tương ưng hành pháp.. đắc, sanh, trụ, dị, diệt. |
Như trên, đă giải thích danh từ Đối pháp. Vậy, thế nào là Đối Pháp tạng?
Tụng đáp.
Âm Hán Việt:
Nhiếp bỉ thắng nghĩa y bỉ cố
Thử lập đối pháp Cu-xá danh.
Dịch nghĩa:
Vừa thâu thắng nghĩa kia, vừa căn cứ vào đó,
V́ thế, bản luận được mệnh danh là Đối Pháp Cu-xá.
Tụng văn trên đây, câu trước giải thích về chữ “Tạng”, câu sau giải thích về nhan đề của luận này.
Tạng (kośa) có 2 nghĩa:
1. Năng nhiếp : khả năng thâu tóm. Luận này bao hàm giáo nghĩa đặc thù của Đối pháp như đă được thuyết minh trong các luận Lục túc và Phát trí, cho nên gọi là “Tạng.” Ví như cái hầm và cái kho có công năng chứa giữ các giống lúa và tài sản.
2. Sở y : giáo nghĩa Đối pháp được thuyết minh trong các luận Lục túc và Phát trí là nơi căn cứ cho luận này; mặc dù có vài chỗ bị bài bác nhưng vẫn là sở y. Ví như cái bao đựng gươm là sở y của gươm, cho nên được gọi là “bao gươm”
Năm chữ “nhiếp bỉ thắng nghĩa y bỉ” trong tụng văn là chỉ cho hai nghĩa năng nhiếp và sở y nói trên. Theo đó, “nhiếp bỉ thắng nghĩa” diễn tả ư nghĩa năng nhiếp và “y bỉ” diễn tả ư nghĩa sở y.
“Tạng” đă có hai nghĩa th́ khi luận này được gọi là Đối pháp tạng cũng có hai nghĩa.
1. Theo nghĩa năng nhiếp, Đối pháp là pháp được thâu tóm. Trong kho tàng của luận này chứa đựng thắng nghĩa của các luận Lục túc và Phát trí, do đó gọi là Đối pháp tạng (Abhidharma-kośa). Theo văn pháp Sanskrit, đây là giải thích tập hợp danh từ theo luật y chủ (tat-puruṣa).
2. Theo nghĩa sở y, “Đối pháp tạng” cũng chỉ chung cho các luận Lục túc và Phát trí chứ không phải đặc biệt của luận này. Đây là giải thích tập hợp danh từ theo luật hữu tài (bahu-vrīhi).
Do đó, 8 chữ “cố, thử lập Đối pháp Cu-xá danh” lẽ ra phải được đọc hai lần:
1. Nhiếp bỉ thắng nghĩa cố thử lập Đối pháp Cu-xá danh;
2. Y bỉ cố thử lập Đối pháp Cu-xá danh.
Danh từ Đối pháp tạng đă được giải thích xong. Song, người đặt danh xưng ấy có ư ǵ, và trước đó đă có ai đề cập đến chưa?
Tụng đáp.
Âm Hán Việt:
Nhược ly trạch pháp định vô dư
Năng diệt chư hoặc thắng phương tiện
Do hoặc thế gian phiêu hữu hải
Nhân thử truyền Phật thuyết Đối pháp.
Dịch nghĩa:
Nếu ĺa trạch pháp th́ nhất định không c̣n
Phương tiện thù thắng nào khác có khả năng diệt trừ mê hoặc.
Do mê hoặc mà thế gian trôi nổi trong biển Hữu;
V́ vậy, truyền thuyết cho rằng chính Phật đă nói Đối pháp.
Trong tụng văn trên đây, 3 câu đầu và 5 chữ “nhơn thử (...) thuyết Đối pháp” của câu 4, trả lời cho ư thú của luận; c̣n 5 chữ “truyền Phật thuyết Đối pháp” của câu 4 trả lời cho câu hỏi về người tạo luận. V́ vậy, 3 chữ Đối pháp tạng phải được đọc theo 2 cách như trên.
Trạch pháp (dharma-pravicaya) là trí tuệ, v́ trí tuệ có khả năng giản trạch các pháp. Chư hoặc (kleśāḥ) là phiền năo làm phát sanh và tăng trưởng ác nghiệp, chính là loại phiền năo mê lư và mê sự mà ở địa vị kiến đạo và tu đạo mới đoạn trừ được.
Thế gian (loka) có hai: hữu t́nh thế gian và khí thế gian. Ở đây chỉ đề cập đến hữu t́nh thế gian, tức chúng sanh trong thế giới mê vọng. Hữu hải (bhāvārnava) là biển sanh tử của ba cơi (dục, sắc và vô sắc). Sự xoay vần trong ba cơi, nhơn quả không mất, nên gọi là tam hữu. Chúng sanh sống và chết trôi nổi trong đó nên gọi là biển sanh tử.
Ư đoạn văn này nói rằng, nếu ĺa trí huệ có công năng giản trạch các pháp th́ quyết định không có cách nào khác hơn để đoạn trừ phiền năo. Nếu phiền năo không bị đoạn trừ, th́ sức mạnh của nó làm chúng sanh trôi nổi trong biển sanh tử của ba cơi. Ở đây, v́ muốn chúng sanh đạt được trí huệ vô lậu có công năng biện biệt các pháp, cho nên nói Đối pháp. Song, Đối pháp này trước đó đă có ai nói chưa? – Có. Đức Thế Tôn đă nói rải rác trong các thời thuyết pháp. Về sau, các đệ tử mới kết tập các lời đó, truyền lại cho đời sau, cho nên trong tụng văn nói: “truyền Phật thuyết Đối pháp.” Chẳng hạn, vào khoảng 300 năm sau Phật nhập diệt, có ngài Đạt-ma-đa-la (Dharmatrāta: Pháp Cứu) kết tập những bài tụng của Phật nói về vô thường thành phẩm “Vô thường”, kết tập những bài tụng nói về “Không, Vô ngă” thành phẩm “Không, Vô ngă” để truyền lại cho đời sau.
Đoạn trên, đă giải thích văn nghĩa của phần tựa.