CHƯƠNG II: QUÁN KHỨ LAI[1]

  

Hỏi: Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian, có tác động trong ba thời, tức là cái đă đi cái chưa đi; và cái đang đi[2]. V́ có tác động nên biết có các Pháp.

Đáp:

1) Cái đă đi không đi.

  Chưa đi cũng không đi.

  Ngoài cái đă và chưa,

  Đang đi cũng chẳng đi.[3]

Cái đă đi không đi, v́ đă đi. Nếu ĺa sự đi mà có tác nghiệp đi[4] th́ không đúng. Cái chưa đi cũng không đi, v́ sự kiện đi[5] chưa có. Cái đang đi có nghĩa một nữa đi, nữa chưa đi; v́ nó không ngoài đă đi và chưa đi.

Hỏi:

2) Có đi trong cử động[6];

 Trong ấy có đang đi,

 Chứ không phải đă, chưa,

Vậy đang đi có đi[7].

Tùy theo chỗ nào có tác nghiệp th́ chỗ ấy có sự kiện đi. Theo cái thấy của con mắt, có tác nghiệp trong khi đang đi. Trong cái đă đi th́ tác nghiệp đă diệt; trong cái chưa đi th́ chưa có tác nghiệp. Thế nên biết trong khi đang đi có sự đi.

Đáp:

3) Làm sao khi đang đi,

 Mà có sự kiện đi[8]?

 Nếu ĺa sự kiện đi,

 Cái đang đi không thể.

Cái đang đi có sự kiện đi, điều này không đúng. V́ sao? Ĺa sự kiện đi không có cái đang đi. Nếu ĺa sự kiện đi mà có cái đang đi[9] th́ mới có thể nói trong cái đang đi có sự kiện đi, cũng như trong đĩa kia có trái cây[10].

Lại nữa:

4) Nếu nói đang đi đi,

 Nói như vậy là sai.

 Ĺa đi, có đang đi,

 Đang đi, đi một ḿnh[11].

Nếu nói rằng không có sự kiện đi trong cái đă đi và chưa đi, nhưng cái đang đi thật sự có đi[12]; nói như vậy là sai. Nếu ĺa sự kiện đi mà có cái đang đi th́ không cần đến sự làm nhân cho nhau. Tại sao? Nếu nói cái đang đi có sự kiện đi, như vậy là có hai sự đi. Nhưng sự thật không như vậy. Do đó không thể nói ĺa sự kiện đi có cái đang đi.

Lại nữa:

5) Nếu đang đi có đi[13];

  Th́ có hai sự đi:

  Một là cái đang đi,

  Hai, sự đi đang đi[14]

Nếu nói cái đang đi có sự đi, nói như vậy là sai lầm ở chỗ có hai sự đi: một là do sự kiện đi mà có cái đang đi, hai là trong cái đang đi có sự kiện đi.

Hỏi: Nếu có hai sự đi có lỗi ǵ?

Đáp:

6) Có hai sự kiện đi,

 Th́ có hai người đi[15].

 V́ ĺa người đi ra,

 Sự đi không thể được.

Nếu có hai sự kiện đi, tức có hai người đi. V́ sao? Do sự kiện đi mà có người đi. Một người mà có hai sự kiện đi và hai người đi th́ chẳng đúng. Thế nên cái đang đi cũng không đi.

Hỏi : Ĺa người đi không có sự kiện đi, th́ có thể đúng. Nhưng nay trong ba thời quyết định có người đi.

Đáp:

7) Nếu ĺa người đi ra,

 Sự đi chẳng thể được.

 V́ chẳng có sự đi;

 Làm ǵ có người đi?

Nếu ĺa người đi; sự kiện đi chẳng thể được. Nay làm thế nào trong sự kiện không đi mà nói rằng ba thời quyết định có người đi?

Lại nữa:

8) Người đi th́ không đi,

 Người không đi chẳng đi.

 Ĺa người đi, chẳng đi,

 Không người đi thứ ba.

Không có người đi, v́ sao? Nếu có người đi th́ có hai trường hợp: hoặc là người đi, hoặc là người không đi. Ngoài hai người này, chẳng có người thứ ba.

Hỏi: Nếu người đi có đi th́ có lỗi ǵ?

Đáp:

 9) Nếu nói người đi đi;

Làm ǵ có nghĩa này.

Nếu ĺa sự đi ra,

Người đi, không thể được.

Nếu nói, quyết định có người đi thực hiện sự kiện đi; nói thế th́ không đúng. Tại sao? V́ ĺa sự kiện đi, người đi không thể được. Nếu ĺa người đi mà quyết định có sự kiện đi th́ người đi mới có thể thực hiện sự kiện đi, nhưng sự thật chẳng phải vậy.

Lại nữa:

10) Nếu người đi có đi,

  Th́ có hai thứ đi

  Một là người đi đi,

  Hai là cái đi đi.

Nếu nói người đi thực hiện sự kiện đi th́ có hai lỗi, là trong một người đi mà có hai sự đi: Một là do sự kiện đi tựu thành người đi, hai do người đi tựu thành sự kiện đi. Người đi đă tựu thành rồi, sau mới thực hiện sự đi. Điều ấy không đúng, thế nên trong 3 thời quyết định có người đi dùng cái đi, chẳng đúng.

Lại nữa:

11) Nếu nói người đi đi,

  Nói vậy là sai lầm.

  Ĺa đi có người đi.

  Người đi có sự đi.

Nếu nói người đi thực hiện sự kiện đi th́ có lỗi: ĺa sự kiện đi có người đi. Tại sao? Nói rằng người đi thực hiện sự kiện đi; thế là người đi có trước, sau mới có sự kiện đi. Nhưng điều đó không hợp lư. Ba thời không có người đi. Lại nữa, nếu quyết định có sự đi và người đi th́ phải có sự cất bước đầu tiên nhưng trong ba thời không t́m thấy có sự cất bước. V́ sao?

12) Đă đi chẳng cất bước[16];

  Chưa đi không cất bước;

  Đang đi không cất bước;

  Cất bước vào lúc nào?

V́ sao trong ba thời không có sự cất bước?

13) Trong khi chưa cất bước[17],

  Không đang đi, đă đi.

  Hai sự ấy mới cất,

  Chưa đi đâu cất bước?

14) Không đă đi, chưa đi,

  Cũng là không đang đi,

  Tất cả chẳng cất bước,

  Vậy sao lại phân biệt.

Nếu một người chưa cất bước th́ không đang đi, cũng không đă đi. Nếu có sự cất bước, th́ chỉ có trong hai trường hợp: Trong đă đi và đang đi. Nhưng cả hai đều chẳng đúng. C̣n khi chưa đi th́ v́ chưa có sự cất bước, do đó trong trường hợp chưa đi làm ǵ có cất bước, không có sự cất bước cho nên không có sự đi. Không có sự đi, nên chẳng có người đi. Vậy làm thế nào có sự đă đi, chưa đi và đang đi?

Hỏi: Nếu không có sự đi, không có người đi, th́ có sự đứng, người đứng?

 Đáp:

15) Người đi th́ chẳng đứng[18],

   Người không đi chẳng đứng.

   Ngoài người đi, không đi,

   Người thứ ba nào đứng?

Nếu nói có sự đứng, có người đứng, th́ phải nói người đi ấy đứng hay là người không đi ấy đứng? Ĺa hai trường hợp này ra mà có người thứ ba đứng th́ điều đó chẳng đúng.

Người đi mà không đứng là v́ sự đi chưa chấm dứt. Ngược lại đi gọi là đứng. Người không đi cũng chẳng đứng. Tại sao? Nhơn sự kiện đi chấm dứt mới có đứng; không đi th́ chẳng đứng. Ĺa cái người đi và cái người không đi, không có người thứ ba nào đứng. Nếu có người thứ ba nào đứng th́ người ấy chỉ có thể là người đi hay người không đi. V́ thế, không thể nói người đi nào đó đứng.

Lại nữa:

16) Người đi mà là đứng.

  Làm ǵ có nghĩa này;

  Nếu ĺa sự kiện đi,

  Người đi chẳng thể có[19].

Ông nói rằng: “Người đi ấy đứng” điều này không đúng. V́ sao? Ĺa sự kiện đi, người đi chẳng thể có. Nếu người đi ở trong t́nh trạng đi, th́ làm thế nào có thể đứng? Đi và đứng trái hẳn nhau vậy.

Lại nữa:

17) Chưa đi th́ không đứng;

  Đang đi cũng chẳng đứng;

  Mọi biến hành, đ́nh chỉ,

  Đều cùng nghĩa sự đi.

Nếu nói người đi có đứng th́ người này phải đứng ở trong ba trường hợp đă đi, chưa đi và đang đi. Nhưng cả ba trường hợp chẳng có đứng. Thế nên ông nói người đi có đứng là không đúng. Cũng như sự bác bỏ sự kiện đi và sự kiện đứng, sự bác bỏ các sự kiện biến hành và đ́nh chỉ cũng giống như vậy. Sự biến hành là như từ hạt giống lúa tương tục đến khi nảy mầm đâm chồi, trỗi lá v.v… Sự đ́nh chỉ chỉ là hạt giống lúa mục ră, th́ mầm, nhánh, lá cũng ră. Sự tương tục là sự biến hành. Sự gián đoạn là sự đ́nh chỉ.

Lại như duyên vô minh mà có các hành cho đến lăo tử, th́ gọi là hành[20]. Vô minh diệt nên các hành diệt v.v… gọi là chỉ.

Hỏi: Ông tuy bằng mọi cách bác bỏ sự đi, người đi; sự đứng, người đứng. Mà theo cái thấy của con mắt th́ vẫn có sự đi, đứng.

Đáp: Cái thấy của con mắt thịt chẳng thể tin. Nếu thật có sự đi, người đi, th́ do một pháp thành hay hai pháp thành tựu? Cả hai đều có lỗi. V́ sao?

18) Sự đi tức người đi,

  Điều ấy th́ không đúng.

  Sự đi khác người đi,

  Điều ấy cũng chẳng đúng.

Nếu sự kiện đi và người đi là một th́ không đúng, mà khác cũng chẳng đúng.

Hỏi: Một và khác có lỗi ǵ?

Đáp:

19) Nếu nói sự kiện đi,

 Cũng chính là người đi.

 Tác giả và tác nghiệp,

 Cả hai phải là một.

20) Nếu nói sự kiện đi,

  Có khác với người đi.

  Ĺa người đi có đi,

  Ĺa đi, có người đi.

Cả hai trường hợp như vậy đều có lỗi, tại sao? Nếu sự kiện đi tức là người đi, thế là thác loạn phá hủy nhân duyên. Do sự đi mà có người đi; nhơn người đi mới có sự đi. Lại sự đi là pháp, người đi là nhân. Nhân th́ vốn thường, mà pháp th́ vốn vô thường. Nếu cả hai là một th́ cả hai hoặc đều là thường, hoặc đều là vô thường. Nếu cả hai là một th́ có những lỗi như thế. Nếu chúng khác nhau th́ sẽ có sự mâu thuẫn, chưa có sự kiện đi mà lại có người đi, chưa có người đi mà lại có sự kiện đi. Chúng chẳng có quan hệ nhau. Như vậy, sự kiện này chấm dứt mà sự kiện kia vẫn tồn tại. Trong trường hợp chúng khác nhau cũng có lỗi như thế.

Lại nữa:

21) Sự đi và người đi,

  Dù một hay dù khác,

  Cả hai đều bất thành,

  Trường hợp nào chứng thành.

Nếu người đi và sự kiện đi được chứng thành rằng chúng là một, hay được chứng thành rằng khác. Cả hai trường hợp đều không thể. Ở trên đă nói chẳng có sự kiện thứ ba nào được chứng thành. Nếu nói có tựu thành th́ phải nói rằng: Đó chỉ là do nhân duyên. Ở đây cần nói thêm về không có sự đi và không có người đi.

22) Nhơn đi biết người đi,

  Không cần sự đi đó.

  Trước chẳng có sự đi,

  Nên không người đi đi.

Với sự kiện đi nào mà người đi được biết đến th́ chính người đi ấy chẳng thể thực hiện sự đi ấy. V́ sao? V́ khi mà sự kiện đi chưa có, th́ không có người đi, cũng không có cái đang đi, đă đi và sẽ đi. Ở đây không phải như trường hợp trước tiên có con người, có thành ấp rồi mới có sự đi đến. Bởi v́, ở đây người đi được chứng minh do sự kiện đi, và sự kiện đi được chứng thành do bởi người đi.

Lại nữa:

23) Nhơn đi biết người đi,

  (Người đi) không cần sự đi khác.

  V́ trong một người đi,

  Không có hai sự đi.[21]

Với sự kiện đi nào mà người đi được biết đến, th́ người đi ấy không thể thực hiện sự đi khác. Tại sao? Trong một người đi không thể có hai sự kiện đi.

  24) Người đi quyết định có,

  Không dùng ba sự đi.

  Người đi không quyết định,

  Cũng không ba sự đi.

  25) Sự đi định, không định,

  Người đi chẳng dùng ba.

  Nên sự đi, người đi,

  Chỗ đi đến đều không.

 

Quyết định có nghĩa là vốn thật có, chẳng nhơn sự kiện đi mà phát sanh. Sự kiện đi là sự cử động của thân. Ba sự đi là cái đă đi, chưa đi và đang đi. Nếu người đi quyết định có, th́ ĺa sự kiện đi mà có người đi; chứ không thể có sự đứng. Do đó, người đi quyết định có, th́ nó không thể thực hiện ba sự đi.

Giả sử người đi không quyết định có. Không quyết định nghĩa là vốn thật sự không có. Nhưng nhơn sự kiện đi mà có thể nói đến người đi. V́ không có sự kiện đi nên người đi mà không thực có th́ không thể thực hiện ba sự đi. Nhơn sự kiện đi mà có người đi. Nếu trước tiên không có sự kiện đi th́ chẳng có người đi; làm sao có thể nói: người đi không quyết định có mà có thể thực hiện ba sự đi? Như trường hợp người đi, sự kiện đi cũng thế. Nếu trước ĺa người đi mà quyết định có sự kiện đi th́ không do người đi mà có sự kiện đi. Thế nên người đi chẳng thể thực hiện ba sự kiện đi. Nếu quyết định không có sự kiện đi th́ cần ǵ đến người đi. Như thế, suy nghĩ quan sát: sự kiện đi, người đi, chỗ đi đến đều do tương quan mà tựu thành. Nhơn sự kiện đi mà có người đi, do có người đi nên có sự kiện đi, nhơn hai sự thể này mà có chỗ đi đến, chứ chẳng thể nói: Quyết định có hay quyết định không.

Thế nên, quyết định biết ba pháp hư vọng không thật, chỉ có giả danh, như huyễn như hóa.


 


[1] Chương này không dễ nắm bắt với những vị chưa làm quen với ngữ pháp Sanskrit; v́ những phân tích về sự thành lập các từ ngữ và quan hệ giữa các từ ngữ đều dựa trên các quy luật ngữ pháp Sanskrit rất phức tạp. Một số chú thích Skt. sẽ cần thiết. TS

[2] Hán: dĩ khứ, vị khứ, khứ thời; Skt. gata (quá khứ phân từ của động GAM: đi); agata (phủ định của gata), gamyamàna (hiện tại phân từ thụ động của GAM). Ts

[3]  Quán khứ lai là thảo luận về thời gian và vị trí di dịch của sự vật, khứ nghĩa là đi (Skt. gata), chỉ thời gian đi qua. Laiđến (Skt. àgata) là nói thời gian đến. Thời gian chia làm 3 giai đoạn: quá khứ hiện tại và vị lai. Làm thế nào người ta minh định thật tại môi giới giữa thời gian quá khứ và thời gian vị lai, nghĩa là ranh giới thời gian đă qua và thời gian chưa đến (dĩ khứ, vị lai)? Thời gian khoảng giữa, đă đi (dĩ khứ) và chưa đến (vị lai), phải chăng đó gọi là hiện tại? Đây là vấn đề được Ngài Long Thọ đưa ra thảo luận.

Trong bài tụng 17, 18 và 19, Bồ tát Long Thọ đưa ra những nghi vấn về dĩ khứ, vị khứ và khứ thời (lúc chuyển động đi). Dĩ khứ là chỉ động tác đă đi, vị khứ là chỉ động tác chưa đi, khứ thời là chỉ động tác đang lúc chuyển động. Nếu đă đi tức là nói đến động tác đă đi rồi (dĩ khứ). Đi rồi đâu c̣n ǵ nữa mà nói có đi (hữu khứ). C̣n chưa đi (vị khứ) là nói chưa có sự động tác di dịch, th́ không thể nói rằng có đi. Ngoài cái đi và chưa đi mà có cái lúc đi (khứ thời) là không đúng. V́ khứ thời là chỉ lúc động tác. Dĩ khứ và vị khứ không có th́ chính khứ thời cũng không thể có được. Do đó, từ câu 20, 21 Long Thọ Bồ Tát nhấn mạnh giải bày cái lầm lỗi ấy.

[4] Hán: khứù nghiệp; Skt. gata-karma, hành động đi (vận chuyển). TS

[5] Hán: khứ pháp; Skt. gata-dharma= gati, danh từ  được lập từ động từ GAM để chỉ trang thái. Hán cũng dịch là thú trong từ lục thú tức sáu nẽo luân hồi. TS

[6] Hán: động xứ; Skt. cewỉa: sự cử động tay chân; sự vận động, hành động. TS

[7] Hán: khứ thời khứ; Skt.: gamyamàne gatis, “có sự đi trong sự đang đi.” Chủ thể đi được chứng minh bằng hành vi đang đi. TS

[8] Hán: khứ pháp ở đây, Skt.: gamana, chỉ tác động đi; không đồng nhất với khứ pháp trong bài tụng 2 ở trên, mà Skt. là gati, chỉ trạng thái vận động. TS

[9] Tham chiếu Skt.: gamyamànam agamanaư, “tác động không đi trong hiện tại đang đi.” Cấu trúc ngữ pháp của luận lư ở đây khá tế nhị. Hiện tại phân từ thụ động gamyamàna (đang đi) và danh từ chỉ hành động agamana đều đồng cách, cho thấy phát biểu tuy hợp quy tắc theo ngữ pháp nhưng tự mâu thuẩn trong khái niệm. TS

[10] Theo thí dụ này th́ quan hệ đồng cách (xem cht. 4 trên) được giải thích là quan hệ môi trường hay sở y (đệ thất chuyển thanh).TS

[11] Tham chiếu Skt.: (...) gamyamànaư hi gamyate, phân từ hiện tại (gamyamànaư) làm chủ từ cho động từ chia ở thể thụ động (gamyate), th́ hiện tại. TS

[12] Xem cht. 6 trang trước. TS

[13] Skt.: gamana-dvayaư: hai hành động đi. TS

[14] Hán: khứ thời khứ. Skt.: atra gamanaư, bản thân hành động đi. TS

[15] Skt. gantf, chủ thể (nhân cách) đi. TS

[16] Hán: dĩ khứ trung vô phát. Cát Tạng giải thích, phát tức phát túc: dở chân lên; “Thế gian nói, đi ngh́n dặm đường, đều nhân bởi sự phát túc.” Skt. : gate nàrabhyate gantum, “(nó) không bắt đầu đi trong cái đă đi.” Ở đây dùng động từ ở thể vô hạn (gantum) để chỉ ư hướng vận động. TS

[17] Hán: vị phát. Skt.: pùrvaư gamanàrambhàd, trước khi khởi sự đi. TS

[18] Hán: trụ. Skt. tiỉhati, đ́nh trú, đứng hay dừng lại. TS

[19]  Thời gian chuyển động liên lĩ vô tận, nó không có h́nh tướng môi giới, nên khó phân định ranh giới của thời gian, động tác quá khứ, hiện tại và vị lai. Quá khứ không có th́ hiện tại, vị lai cũng không. Quá khứ đă qua, vị lai chưa đến, hiện tại không an trụ. Sự tương quan tương duyên giữa động chuyển thời gian, vị trí không gian, là một thứ triền miên tế nhị. Nếu vọng tâm cố chấp như thế này, thế khác, đều là sai lầm vọng kiến. Bởi mọi sự vật một khi có cái này, th́ có cái khác. Khó hoặc không thể nói cái này có trước cái kia. Cái đă đến chính là cái chưa đến trước kia, cái chưa đến chính là cái đă rồi sắp đến. Nó xoay vần như bánh xe quay tṛn không biết đâu là đầu mối trước sau, sau trước của thời gian. Chỉ do khái niệm của con người đặt ra một ngày đêm 24 tiếng đồng hồ, một tháng 30 ngày, một năm 12 tháng, bốn mùa xuân hạ thu đông. Ban ngày là chỉ chỗ nào quả đất xoay đúng chiều hướng mặt trời rọi sáng, ban đêm là chỉ nơi nào quả đất chưa xoay qua hướng mặt trời. Như thế trong khi các nước phương Đông, như nước V.N chẳng hạn, trời sáng gọi là ban ngày, th́ trong lúc ấy các nước nằm trong khu vực Tây phương quả đất xoay chưa đến hướng mặt trời th́ gọi là ban đêm. Như thế thời gian ngày đêm sáng tối là dựa vào quả đất xoay và mặt trời, thời gian tự nó không phân biệt có sai khác, cũng như xuân nở, thu tàn, hạ nhiệt, đông hàn, bốn mùa trong một năm, và năm nào cũng như năm nấy, bằng sự hạn định nhân tạo 365 ngày, 100 năm là một thế kỷ….

[20] Hành (Skt. saưskàra) trong 12 nhân duyên đồng âm nhưng không đồng nghĩa với hành trong biến hành (Skt. sampravftti) ở đây.

 [21] Một người trong lúc di chuyển gọi đó là đi (khứ) trong lúc đi, chính là lúc nó cũng đang qua, lúc đang, th́ không thể có cái chưa đến; người chưa đi, cũng không có hành động đi (khứ pháp) th́ sự đă đi, đang đi và khi đi (dĩ khứ, hiện khứ, thời khứ) cũng không căn cứ vào đâu mà gọi là đi… Chân tánh thật thể bổn lai không có khứ lai , đông tây nam bắc, mà không chỗ nào không lúc nào, chân tánh bản thể không hiển hiện, chỉ v́ nhơn loại chúng sanh mê muội vô minh, do đó có phân biệt là một là hai, khác và không sai khác, đi đến chỗ thiên kiến cố chấp hư vọng; Cố chấp, là sự trở lực to lớn đối với đạo giải thoát.