PHẦN 1 - TỨ PHẦN LUẬT - TĂNG SỰ
Việt dịch quyển 1
Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
Một
thời, đức Phật cùng chúng đại tỳ-kheo
gồm năm trăm vị, du hóa đến thành Tô-la-bà,[2] tuần tự du hành đến
Tỳ-lan-nhă
,[3] và đêm ấy ngủ dưới
bóng cây na-lâu-la-tân-châu-man-đà-la.[4] Bấy giờ bà-la-môn
Tỳ-lan-nhă nghe Sa-môn Cù-đàm, họ Thích, bỏ ḍng
họ Thích đi xuất gia tầm đạo, đă
từ nước Tô-la-bà dẫn chúng tỳ-kheo gồm năm
trăm vị, tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhă
này, và nghỉ đêm dưới bóng cây na-lân-la-tân-châu-man-đà-la. Sa-môn Cù-đàm này có danh xưng
lớn như vầy: “Như Lai, Vô sở trước, Đẳng
chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian
giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng
phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế tôn. Ngài ở
giữa các chúng Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn công bố
chánh pháp do tự thân chứng nghiệm bằng thắng trí.
Pháp ấy thiện xảo ở khoảng đầu,
khoảng giữa, khoảng cuối, có nghĩa và vị,
phạm hạnh thanh tịnh, tự nhiên được tu
tập đầy đủ. Lành thay! Chúng ta được
chiêm ngưỡng con người Vô trước[5] như vậy. Nay ta nên đến
thăm hỏi Sa-môn Cù-đàm.»
Bấy
giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhă liền đến chỗ đức
Thế tôn. Khi đến nơi, hỏi chào thăm
viếng nhau rồi, ngồi qua một bên.
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện thuyết pháp,
khai hóa, khiến được hoan hỷ. Bà-la-môn sau khi
nghe đức Phật nói pháp, ḷng sanh hoan hỷ, liền thưa:
«Cúi xin đức
Thế tôn thương xót chấp thuận thỉnh cầu
của con, cùng với chúng tỳ-kheo an cư ba tháng mùa
mưa.»
Đức
Thế tôn và Tăng tỳ-kheo im lặng nhận lời.
Bà-la-môn Tỳ-lan-nhă biết đức Thế tôn đă im
lặng nhận lời thỉnh của ḿnh, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật
rồi cáo lui.
Thế tôn
cùng chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị nhận
lời an cư ba tháng mùa mưa. Bấy giờ có người
lái ngựa từ nước Ba-ly[6] lùa năm trăm thớt
ngựa đến Tỳ-lan-nhă và ở đây đóng
trại chín mươi ngày mùa hạ.
Thời điểm
này gặp lúc mất mùa, lúa gạo quư giá, nhân dân đói khát,
xương trắng ngổn ngang, khất thực khó được.
Bà-la-môn Tỳ-lan-nhă tuy thỉnh Như Lai và Tăng
tỳ-kheo an cư ba tháng, nhưng hoàn toàn không cúng dường,
cung cấp những nhu cầu cần thiết. Tại sao
vậy? [569a1] V́ bị ám bởi Ma
Ba-tuần.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo ở Tỳ-lan-nhă khất thực
không được, nên phải đến khất thực
nơi người lái ngựa kia. Lúc ấy, người
lái ngựa tự nghĩ: «Hiện nay mất mùa, lúa gạo
khan hiếm, nhân dân đói khát, khất thực khó được,
xương trắng ngổn ngang. Các tỳ-kheo kia khất
thực không được nên đến đây. Nay ta có
nên dùng lúa mạch của ngựa mỗi ngày bố thí cho
tỳ-kheo năm thăng, Thế tôn một đấu hay
chăng?» Nghĩ như vậy rồi, mỗi ngày ông
bố thí cho các tỳ-kheo năm thăng lúa mạch của
ngựa, Thế tôn một đấu.
Đức
Thế tôn nhận được phần lúa ngựa
rồi, trao cho A-nan. A-nan khiến người xay làm cơm
khô để dâng Phật. Đức Phật dùng cơm khô,
c̣n các tỳ-kheo nấu chín rồi mới ăn. Do đó,
giữa đức Phật cùng các tỳ-kheo thức ăn
có khác.
Lúc bấy
giờ, Tôn giả Đại Mục-liên đến chỗ
đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân
Phật, lui ngồi một bên, thưa:
«Kính
bạch Đại đức, hiện nay lúa gạo khan
hiếm, nhân dân đói khát, khất thực khó được;
thực phẩm của các tỳ-kheo rất là thô xấu,
nên tất cả đều bị gầy ốm. Nếu đức
Thế tôn cho phép, các tỳ-kheo có thần túc đến nước
Uất-đơn-việt[7] lấy thức ăn bằng
gạo của loại lúa chín muộn tự nhiên,[8] th́ chúng con sẽ đi.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Các vị
tỳ-kheo có thần túc th́ có thể đến đó để
lấy thức ăn bằng gạo lúa tự nhiên, c̣n các
vị tỳ-kheo không có thần túc th́ thế nào?»
Tôn giả
Mục-liên thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, các vị có thần túc th́
họ tùy ư đến, c̣n các vị không có thần túc th́ con
sẽ dùng sức thần túc của con để giúp các
vị đến đó.»[9]
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Thôi đi,
thôi đi, đừng nói vậy! Tại sao? Các ông là
những con người[10] đă chứng đắc
thần túc th́ có thể làm như vậy. C̣n các vị
tỳ-kheo ở đời vị lai sẽ làm sao?»
Lúc bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất ở nơi nhàn tĩnh, nghĩ như
vầy: «Vị Đẳng chánh giác nào có phạm hạnh tu
tập và Phật pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng
chánh giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp không
tồn tại lâu dài?» Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất
từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y
phục, đến chỗ Thế tôn, đầu mặt đảnh
lễ, ngồi qua một bên. Một lát sau, rời chỗ
ngồi, đứng dậy thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, vừa rồi ở chỗ
nhàn tĩnh, con nghĩ: ‹Vị Đẳng chánh giác nào có
phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu
dài? Vị Đẳng chánh giác nào có phạm hạnh tu
tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?› Cúi xin đức
Thế tôn khai thị cho con.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Tỳ-bà-thi, đức Phật Thức-khí, đức
Phật Câu-lưu-tôn, đức Phật Ca-diếp, các
vị Phật này có phạm hạnh tu tập và Phật
pháp tồn tại lâu dài. Pháp của Phật Tùy-diệp,
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, th́ không tồn tại lâu dài.»
Tôn giả
Xá-lợi-phất bạch Phật:
«Do nhơn
duyên ǵ mà [569b1] Phật Tỳ-bà-thi,[11] đức Phật
Thức,[12] đức Phật
Câu-lưu-tôn,[13] đức Phật
Ca-diệp,[14] các vị Phật này có phạm
hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài; Pháp
của Phật Tùy-diệp,[15] Phật Câu-na-hàm Mâu-ni,[16] th́ không tồn tại lâu dài?»[17]
Đức
Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diệp không
công bố pháp rộng răi như: Khế kinh, Kỳ-dạ
kinh, Thọ kư, Phương đẳng kinh, Vị tằng
hữu kinh, Thí dụ kinh, Ưu-bà-đề-xá kinh.[18] Không v́ người rộng nói
Khế kinh, cho đến Ưu-bà-đề-xá kinh, không
kết giới cũng không thuyết giới, cho nên các đệ
tử mỏi mệt nhàm chán,[19] v́ vậy cho nên pháp không tồn
tại dài lâu. Khi đức Thế tôn kia biết tâm các đệ
tự mỏi mệt nhàm chán th́ chỉ dạy như
vầy:[20] ‹Điều này nên niệm;
điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy;
điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn;
điều này nên thành tựu và an trú.›
«Này
Xá-lợi-phất, xa xưa về trước, đức
Phật Tùy-diệp cùng với một ngàn tỳ-kheo
sống trong rừng Kinh sợ
.[21] Này Xá-lợi-phất, nếu có
người nào chưa ĺa dục mà vào trong rừng kia, th́
lông trong người đều bị dựng ngược
lên, cho nên gọi là rừng Khủng úy.[22]
«Lại
nữa, này Xá-lợi-phất, đức Phật Câu-na-hàm
Mâu-ni, đức Phật Tùy-diệp Như lai, là bậc Chí chơn, Đẳng chánh giác, quán trong tâm
một ngàn vị tỳ-kheo mỏi mệt nhàm chán, th́ v́
họ nói pháp: ‹Điều này nên niệm; điều này
không nên niệm. Điều này nên tư duy; điều này
không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều
này nên thành tựu và an trú.›
«Này
Xá-lợi-phất, nên biết, lúc bấy giờ đức
Phật kia và các vị Thinh văn c̣n ở đời th́
Phật pháp được truyền rộng răi. Nhưng
sau khi đức Phật kia và các Thinh văn[23] diệt độ, mọi người
trong thế gian đời sau, đủ mọi thành
phần, đủ các ḍng họ, đủ các gia tộc
xuất gia. Đó là lư do khiến cho Phật pháp mau
diệt, không tồn tại lâu dài. Tại sao vậy? V́
không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
«Này
Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên
mặt bàn, gió thổi th́ bay. Tại sao vậy? V́ không dùng
sợi chỉ xâu nó lại, cho nên như vậy.
«Này
Xá-lợi-phất, đức Phật kia và các chúng Thinh văn
khi c̣n ở đời th́ Phật pháp lưu bố. Nhưng
sau khi đức Phật kia và chúng Thinh văn diệt độ,
người trong thế gian, đủ mọi thành
phần, đủ các ḍng họ, đủ các gia tộc
xuất gia khiến cho chánh pháp mau diệt, không tồn
tại lâu dài. Tại sao? V́ không được thâu
nhiếp bằng kinh pháp.»
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn bảo Tôn giả
Xá-lợi-phất:
«Đức
Phật Tỳ-Bà-thi, đức Phật Thức, đức
Phật Câu-lưu-tôn, đức Phật Ca-diếp v́ các đệ
tử rộng nói kinh pháp, từ Khế kinh cho đến Ưu-bà-xá
kinh, cũng kết giới, cũng thuyết giới. Khi
tâm chúng đệ tử [569c1] mỏi mệt nhàm chán, đức
Phật biết tâm của họ mỏi mệt nhàm chán,
chỉ dạy như vầy: ‹Điều này nên niệm;
điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy;
điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn;
điều này nên thành tựu và an trú.›
«Như
vậy, này Xá-lợi-phất, các đức Phật kia và
chúng Thinh văn khi c̣n ở đời th́ Phật pháp lưu
bố. Nếu các đức Phật kia và chúng Thinh văn
sau khi diệt độ; người trong thế gian đời
sau, đủ mọi thành phần, đủ các ḍng họ,
đủ các gia tộc xuất gia, không khiến cho
Phật pháp mau diệt. Tại sao vậy? V́
được thâu nhiếp bằng kinh pháp.
«Này
Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên
mặt bàn được xâu lại bằng sợi
chỉ; tuy bị gió thổi nhưng không bị phân tán.
Tại sao vậy? Nhờ sợi chỉ khéo xâu giữ
lại.
«Cũng
vậy, này Xá-lợi-phất, đức Phật kia cùng
chúng Thinh văn ở đời rộng nói Phật pháp, như
trên.
«Này
Xá-lợi-phất, do nhân duyên này mà Phật pháp thời đức
Phật Tỳ-bà-thi, cho đến đức Phật
Ca-diệp được tồn tại lâu dài, và cũng do
nhân duyên này mà Phật pháp thời đức Phật
Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không tồn
tại lâu dài.»
Lúc bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng
dậy, mặc y trống vai bên hữu, đầu gối
hữu chấm đất, chấp tay bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế tôn, nay chính là lúc. Cúi xin đức
Đại Thánh v́ các tỳ-kheo kết giới, thuyết
giới, khiến cho phạm hạnh được tu
tập, pháp được tồn tại lâu dài.»
Đức
Thế tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Hăy thôi![24] Như Lai tự biết
thời. Này Xá-lợi-phất, v́ sao Như Lai chưa v́ các
tỳ-kheo kết giới? V́ trong chúng tỳ-kheo chưa có
ai phạm pháp hữu lậu. Nếu có người nào
phạm pháp hữu lậu, nhiên hậu Thế tôn mới v́
các tỳ-kheo kết giới để đoạn pháp
hữu lậu kia. Này Xá-lợi-phất, khi tỳ-kheo chưa
được lợi dưỡng th́ chắc chắn chưa
sanh pháp hữu lậu. Nếu tỳ-kheo được
lợi dưỡng th́ pháp hữu lậu liền sanh.
Nếu pháp hữu lậu đă sanh, Thế tôn mới v́ các
tỳ-kheo kiết giới, v́ muốn khiến cho họ đoạn
pháp hữu lậu vậy.
«Này
Xá-lợi-phất, tỳ-kheo chưa sanh pháp hữu lậu
chỉ v́ chưa có danh tiếng, chưa ai biết đến
nhiều, chưa có tiếng đồn nhiều, chưa có
tài nghiệp nhiều. Nếu tỳ-kheo được danh
tiếng, cho đến nhiều tài nghiệp th́ pháp hữu
lậu liền sanh. Nếu có pháp hữu lậu sanh, nhiên
hậu Thế tôn sẽ v́ đệ tử kiết
giới để đoạn pháp hữu lậu. Này
Xá-lợi-phất, hăy thôi! Như lai tự biết
thời.»
Bấy
giờ Thế tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Khi ấy, có
Tu-đề-na Tử ở thôn Ca-lan-đà
.[25] Trong thôn này, ông là người
có nhiều tiền của, lắm đồ châu báu,
với ḷng tin kiên cố, xuất gia hành đạo.
[570a1] Vào lúc
bấy giờ, lúa thóc khan hiếm, các tỳ-kheo khất
thực khó được. Tu-đề-na Tử tự
nghĩ như vầy: «Hiện nay mất mùa, các tỳ-kheo
khất thực khó được. Ta nên hướng
dẫn các tỳ-kheo đến thôn Ca-lan-đà để
khất thực. Các tỳ-kheo sẽ nhân bởi ta mà được
lợi dưỡng lớn để có thể tu phạm
hạnh. Cũng khiến cho ḍng họ ta tích cực hành
bố thí, làm các phước đức.» Nghĩ như
vậy rồi, Tu-đề-na Tử liền dẫn các
tỳ-kheo về thôn Ca-lan-đà.
Mẹ
của ông Tu-đề-na nghe con ḿnh dẫn các tỳ-kheo
về lại bổn thôn, liền đến đón. Khi đến
chỗ con, bà nói với con trai của ḿnh:
«Con nên
bỏ đạo, trở về làm người bạch y.
Tại sao vậy? V́ cha con đă qua đời, mẹ
sống đơn độc, sợ gia tài sẽ rơi vào
cửa nhà quan. Của cải của cha con vốn đă
nhiều, huống là tài sản của tổ phụ để
lại vô lượng. Thật là đáng tiếc! Do
vậy, nay con hăy bỏ đạo để trở về
đời.»
Tu-đề-na
trả lời mẹ:
«Con không
thể bỏ đạo, để làm những việc phi
pháp này. Hiện tại con rất thích phạm hạnh, tu đạo
vô thượng.»
Ba lần người
mẹ bảo như vậy, cũng ba lần người
con thưa:
«Không
thể bỏ đạo để trở về thế
tục được!»
Bà mẹ
liền bỏ ra về. Bà ta đến chỗ người
con dâu, nói:
«Khi nào
nguyệt kỳ của con đến, tin cho mẹ
biết.»
Người
dâu tự biết nguyệt kỳ sắp đến, nên đến
thưa với mẹ chồng:
«Thưa
đại gia, nguyệt kỳ của con sắp đến.»
Bà mẹ
chồng bảo:
«Con nên dùng y
phục và nữ trang của ngày cưới trang điểm
thân con rồi đến đây.»
Người
con dâu theo lời mẹ chồng dạy, liền tự
trang điểm thân ḿnh; rồi cùng mẹ đến
chỗ người chồng. Đến nơi, bà mẹ
chồng nói với con bà:
«Nay đă đến
lúc, con phải bỏ đạo về đời. Tại
sao vậy? V́ nếu con không bỏ đạo, tài vật
của nhà ta sẽ bị thu vào cửa nhà quan.»
Người
con thưa với mẹ:
«Con không
thể bỏ đạo!»
Sau khi ba
lần nói như vậy, bà nói với con trai:
«Hôm nay hoa
thủy của vợ con đă xuất. Con nên lưu
lại đứa con để ḍng dơi của con không
bị đứt.»
Người
con thưa:
«Việc này
rất dễ. Con có thể làm được.»
Lúc bấy
giờ, trước khi Phật chế giới, Ca-lan-đà
Tử không thấy được dục là ô uế,
liền nắm tay người vợ cũ dẫn vào trong
vườn, nơi chỗ khuất vắng, ba lần làm
việc bất tịnh. Ngay khi ấy, trong vườn có
con quỷ vừa mệnh chung liền gá vào thai. Nương
nơi thai đủ chín tháng, sanh ra một hài nhi nam, dung
mạo đoan chánh, có một không hai trên đời, được
đặt tên là Chủng Tử,[26] các căn đầy đủ.
Theo thời gian, Chủng Tử khôn lớn, cạo tóc,
mặc cà sa, với ḷng tin vững chắc xuất gia
học đạo, tinh cần không biếng nhác, đắc
quả A-la-hán, thần thông biến hóa, oai đức vô lượng,
cho nên có hiệu là Tôn giả Chủng Tử.[27]
Tu-đề-na
tập oai nghi của Sa-môn, không việc ǵ không biết,
gặp việc ǵ cũng làm được; [570b1] và cũng có thể dạy
bảo người khác.
Từ khi
Tu-đề-na làm việc bất tịnh rồi, về sau
thường ôm ḷng sầu ưu. Các đồng học
thấy vậy hỏi:
«Thầy có điều
ǵ sầu ưu phải chăng? Thầy tu phạm hạnh
lâu, oai nghi lễ tiết không việc ǵ không biết,
tại sao sầu ưu? Hay là không thích sống đời
sống phạm hạnh nữa?»
Tu-đề-na
nói:
«Tôi rất
thích đời sống phạm hạnh. Nhưng gần đây,
nơi chỗ khuất vắng, tôi đă phạm ác
hạnh; cùng vợ cũ[28] làm việc bất tịnh, nên ưu
sầu.»
Các
tỳ-kheo nói với Tu-đề-na:
«Tại sao
thầy lại làm việc xấu như vậy? Trong pháp
thanh tịnh của đức Như Lai, ở trong dục
mà không dục, ở trong cấu bẩn mà không cấu
bẩn, hay đoạn trừ khát ái, phá bỏ hang ổ,
trừ các trói buộc, ái diệt tận chứng
Niết-bàn. Tại sao nay Thầy lại ở trong pháp thanh
tịnh này cùng vợ cũ làm bất tịnh hạnh?»
Lúc bấy
giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế
tôn, cúi đầu lễ dưới chân, rồi ngồi qua
một bên, đem nhân duyên này tŕnh bày đầy đủ
lên đức Thế tôn. Lúc ấy đức Thế tôn do
nhơn duyên này mà tập hợp các tỳ-kheo.
Đức
Thế tôn có khi biết mà vẫn hỏi, có khi biết mà
không hỏi; đôi khi đúng lúc th́ hỏi, đôi khi đúng
lúc mà không hỏi; hợp nghĩa[29]. Bấy giờ đức
Thế tôn biết đúng thời, hợp nghĩa, cho nên
hỏi Tu-đề-na:
«Thật
sự ông có cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh hay
không?»
«Đúng
như vậy, bạch Thế tôn. Con đă phạm bất
tịnh hạnh.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách:
«Việc ông
làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận. Ông đă làm điều chẳng nên
làm.
«Tu-đề-na,
tại sao ở trong pháp thanh tịnh này, (như trên, cho đến)
ái diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ
cũ làm hạnh bất tịnh?»
Đức
phật bảo các tỳ-kheo:
«Thà để
nam căn vào trong miệng con rắn độc, không nên để
vào nữ căn. Tại sao vậy? V́ duyên này không đọa
nơi đường ác, c̣n nếu phạm vào người
nữ th́ thân hoại mạng chung đọa vào ba đường
ác. Tại sao vậy? Ta đă dùng vô số phương
tiện nói pháp đoạn dục, đoạn dục tưởng,
diệt dục niệm, trừ tan sức nóng của
dục, vượt ra khỏi sự kết buộc
của ái. Ta đă dùng vô số phương tiện nói,
dục như lửa, dục như bó đuốc cỏ
khô trong tay, cũng như trái cây, lại như vật
tạm mượn, cũng như xương khô, như
cục thịt, như cảnh mộng, như mũi dao
nhọn được dẫm lên, như đồ gốm
mới làm đựng nước để dưới
nắng sáng giữa ngày, như đầu con rắn độc,
như con dao xoay ṿng, như trên cọc nhọn, như
ngọn lao bén đâm.[30] Dục rất là nhớp nhúa,
rất là xấu ác, là điều mà Phật quở trách.
«Tu-đề-na,
ngươi ở trong giáo pháp thanh tịnh của Ta,
(như trên, cho đến) ái diệt tận chứng
Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh bất
tịnh.»
[570c01] Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Tu-đề-na
là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới đầu tiên.
Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới,
nhắm đến mười cú nghĩa
:[31] 1. Nhiếp thủ đối
với Tăng. 2. Khiến cho Tăng hoan hỷ. 3. Khiến
cho Tăng an lạc. 4. Khiến cho người chưa tín
th́ có tín. 5. Người đă có tín khiến tăng tưởng.
6. Để điều phục người chưa
được điều phục. 7. Người có tàm quư
được an lạc. 8. Đoạn hữu lậu
hiện tại. 9. Đoạn hữu lậu đời
vị lai. 10. Chánh pháp được tồn tại lâu dài
.[32]
«Muốn
thuyết giới, nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo
nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục,
tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.»
Đức
Thế tôn đă kết giới như vậy cho các
tỳ-kheo.
Bấy
giờ, tỳ-kheo Bạt-xà Tử[33] sầu ưu không muốn
sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng với
vợ cũ hành bất tịnh hạnh. Sau đó suy
nghĩ, «Đức Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết
giới: ‹Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh,
hành pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.› Song ta v́ sầu ưu, không muốn sống
tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ làm
bất tịnh hạnh. Như vậy ta có phạm ba-la-di
không? Ta sẽ làm như thế nào đây?» Bèn nói với các đồng
học:
«Thưa Trưởng
lăo, đức Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới:
‹Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm
dục, Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.› Song tôi v́ sầu ưu, không muốn sống
tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ hành
bất tịnh hạnh. Như vậy tôi có phạm ba-la-di
không? Tôi sẽ làm như thế nào đây? Lành thay, Trưởng
lăo v́ tôi đem việc này bạch lên đức Phật.
Tùy theo đức Phật dạy như thế nào, tôi
sẽ phụng hành như thế ấy.»
Lúc bấy
giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế
tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua
một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Lúc bấy giờ đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp các Tăng
tỳ-kheo. Ngài dùng vô số phương tiện quở
trách tỳ-kheo Bạt-xà Tử:
«Việc ông
làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận. Ông đă làm điều chẳng nên
làm.
«Thế nào,
người ngu si, không thích tịnh hạnh, trở về
nhà cùng vợ cũ làm bất tịnh hạnh? Vừa
mới để vào là ba-la-di. Ông là người ngu si,
phạm ba-la-di, không được sống chung. Cho nên, này
các tỳ-kheo, nếu có ai không thích tịnh hạnh, cho phép
xả giới về nhà. Sau đó, muốn xuất gia
lại, ở trong Phật pháp tu tịnh hạnh, nên độ
cho xuất gia, thọ đại giới. Từ nay về
sau [571a01] nên thuyết giới như
vầy:
«Tỳ-kheo
nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không xả
giới, giới sút kém không tự phát lồ,[34] phạm bất tịnh
hạnh, làm pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ
ba-la-di, không được sống chung.»
Thế tôn
v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy.
Tỳ-kheo
khất thực[35] sống ở trong rừng.
Trong khu
rừng này, trước đó có một con vượn cái[36]
đă ở. Tỳ-kheo
khất thực này mỗi khi vào thôn khất thực,
rồi trở về lại rừng, ăn xong, mang thức
ăn c̣n dư cho con vượn cái này ăn. Cứ như
vậy, dần dần thuần phục được nó.
Nó đi theo sau tỳ-kheo, thậm chí dùng tay bắt, nó
vẫn không chạy. Tỳ-kheo này liền bắt con
vượn cái này, cùng làm bất tịnh hạnh.
Bấy
giờ, có một số đông tỳ-kheo đi xem xét các trú
xứ,[37] tuần tự đến khu
rừng này. Lúc ấy, con vượn cái ở trước
mặt các tỳ-kheo, xoay lưng lại, bày tỏ dấu
hiệu hành dâm. Các tỳ-kheo suy nghĩ: «Con vượn cái
này ở trước mặt chúng ta, xoay lưng lại, bày
tỏ dấu hiệu hành dâm, đâu không cùng với
tỳ-kheo khác làm bất tịnh hạnh hay chăng?» Các
tỳ-kheo cùng bảo nhau ẩn ḿnh nơi chỗ vắng để
ŕnh xem.
Tỳ-kheo
khất thực kia trở lại khu rừng, ăn xong,
dùng thức ăn dư cho con vượn. Con vượn ăn
rồi, cùng làm bất tịnh hạnh. Các tỳ-kheo
thấy vậy, liền đến nói với tỳ-kheo
khất thực ấy rằng:
«Đức
Như Lai há không chế cấm tỳ-kheo không được
làm bất tịnh hạnh hay chăng?»
Vị
tỳ-kheo kia bảo:
«Đức
Như Lai cấm chế nam phạm với phụ nữ
chứ không chế cấm với súc sanh.»
Các
tỳ-kheo nghe nói lời như vậy rồi, đến
chỗ đức Phật, đảnh lễ, đem nhơn
duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế
tôn. Đức Thế tôn v́ nhơn duyên này liền tập
hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện
quở trách vị tỳ-kheo khất thực kia:
«Tỳ-kheo,
sao lại cùng với vượn cái làm bất tịnh
hạnh? Vừa để vào liền phạm ba-la-di. Nay
muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo
nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không hoàn
giới, giới sút kém, không tự phát lồ, cho
đến cùng với loài súc sanh, phạm bất tịnh
hạnh; Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.
Tỳ-kheo
nào: gồm có tỳ-kheo danh
tự, tỳ-kheo tương tợ, tỳ-kheo tự xưng,
tỳ-kheo thiện lai, tỳ-kheo khất
cầu,[38] tỳ-kheo mặc y cát tiệt,[39] tỳ-kheo phá kiết sử,
tỳ-kheo thọ đại giới do bạch tứ
yết-ma như pháp thành tựu hợp cách.[40] Trong số các tỳ-kheo này,
tỳ-kheo ở đây đề cập đến là
tỳ-kheo thọ đại giới bạch tứ
yết-ma như pháp thành tựu hợp cách. Trụ trong pháp
tỳ-kheo đó gọi là tỳ-kheo.
Cùng
với tỳ-kheo:[41] ở đây chỉ các
tỳ-kheo khác thọ đại giới bạch tứ
yết-ma [571b01]
như pháp thành
tựu hợp cách, trụ trong pháp tỳ-kheo. Đó là
nghĩa ‹cùng với tỳ-kheo.›
Thế nào
gọi là đồng giới?[42] Đối với giới mà Ta
(Phật) đă kết cho các đệ tử, thà chết
chứ không phạm. Trong đây, cùng với các tỳ-kheo
khác duy nhất giới, đồng nhất giới, b́nh
đẳng giới; đó gọi là đồng giới.
Thế nào
gọi là không xả giới? Xả giới khi
đang điên cuồng; xả giới trước người
điên cuồng; xả giới khi đau đớn;
xả giới trước người đau đớn;
xả giới khi điếc; xả giới khi câm; xả
giới khi câm điếc; xả giới trước
người câm; xả giới trước người
điếc; xả giới trước người câm
điếc. Người trung quốc xả giới trước
người biên địa; người biên địa
xả giới trước người trung quốc.
Chỗ không tĩnh, tưởng là tĩnh mà xả
giới. Tĩnh tưởng là không tĩnh mà xả
giới. Giỡn cười xả giới. Trước
trời, rồng, dạ xoa, ngạ quỷ, người
ngủ, người chết, người không biết ǵ,
không tự nói hoặc nói mà người nghe không hiểu...,
các trường hợp như vậy không gọi là xả
giới.
Thế nào
gọi là xả giới? Nếu tỳ-kheo không thích tu
phạm hạnh, muốn được trở về nhà,
nhàm chán pháp tỳ-kheo, thường ôm ḷng hổ thẹn
,[43] tham thú vui tại gia, tham
muốn pháp ưu-bà-tắc, hoặc chỉ niệm
tưởng pháp sa-di,[44] hoặc ưa pháp ngoại đạo,
ưa pháp đệ tử ngoại đạo,[45] ưa pháp phi sa-môn, phi Thích
tử, bèn nói lên lời nói như vầy: «Tôi xả Phật,
xả Pháp, xả tỳ-kheo Tăng, xả Ḥa-thượng,
xả đồng Ḥa-thượng, xả A-xà-lê, xả đồng
A-xà-lê, xả các phạm hạnh,[46] xả giới, xả luật,
xả học sự, nhận pháp ở nhà. Tôi làm tịnh nhơn.
Tôi làm ưu-bà-tắc. Tôi làm sa-di. Tôi làm ngoại đạo.
Tôi làm đệ tử ngoại đạo. Tôi làm phi Sa-môn,
phi Thích chủng tử.»
Hoặc
lại nói như vầy: «Thôi, không cần Phật. Phật
đối với tôi đâu có ích ǵ. Tôi ĺa bỏ chỗ
Phật.» Cho đến đối với học sự
cũng nói như vậy. Hoặc lại nói những
lời nói khác hủy báng Phật, Pháp và Tăng cho đến
học sự; khen ngợi gia nghiệp, cho đến phi
Sa-môn, phi Thích tử. Bằng lời nói như vậy
một cách rơ ràng để nói th́ gọi là xả giới.
Giới
sút kém
:[47] hoặc có giới sút kém mà không
xả giới, hoặc có giới sút kém mà xả giới.
Tại sao
gọi là giới sút kém mà không xả giới? Nếu
tỳ-kheo sầu ưu, không thích phạm hạnh, muốn được
về nhà, nhàm chán pháp tỳ-kheo, ôm ḷng xấu hổ, ư
muốn ở nhà, cho đến ưa muốn làm pháp phi
Sa-môn, phi Thích tử, bèn nói như vầy: «Tôi nghĩ đến
cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xóm làng, thành ấp, [571c01] ruộng vườn, ao
hồ. Tôi muốn xả Phật, Pháp, Tăng, cho đến
học sự.» Liền muốn thọ tŕ gia nghiệp, cho đến,
phi Sa-môn, phi Thích tử. Như vậy gọi là giới sút
kém mà không xả giới.
Thế nào
gọi là giới sút kém mà xả giới? Nếu
khởi tư duy như vầy: ‹Tôi muốn xả
giới.› Rồi xả giới. Như vậy gọi là
giới sút kém mà xả giới.
Bất
tịnh hạnh:[48] là pháp dâm dục.
Cho đến
cùng với súc sanh
là chỉ đối tượng có thể hành dâm.
Thế nào
là ba-la-di
?[49] Ví như cái đầu của
con người đă bị chặt th́ không thể mọc
trở lại. Tỳ-kheo cũng như vậy, người
phạm pháp này không c̣n thành tỳ-kheo nữa, cho nên gọi
là ba-la-di.
Thế nào
gọi là không được sống chung?[50] Có hai trường hợp
gọi là được sống chung: đồng một
yết-ma, đồng một thuyết giới. Không được
cùng chung làm hai việc này cho nên gọi không được
sống chung.
Có ba
trường hợp hành bất tịnh hạnh thành
ba-la-di: loài người, phi nhơn, súc sanh.
Lại có năm
loại hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di: thuộc
loài người là phụ nữ, đồng nữ, có hai
h́nh,[51] huỳnh môn,[52] người nam. Nơi năm đối
tượng này hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di.
Đối
với ba loại giống cái hành bất tịnh hạnh,
thành ba-la-di. Những ǵ là ba? Người nữ, phi nhân[53] nữ, súc sanh cái. Đối
với ba đối tượng này hành bất tịnh
hạnh, thành ba-la-di. Ba loại đồng nữ, ba
loại nhị h́nh, ba loại bất năng nam, ba loại
người nam; đối với những loại này hành
bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Cũng như vậy,
phạm ba nơi của người phụ nữ, thành
ba-la-di. Ba nơi là, đường đại tiện, đường
tiểu tiện và miệng. Cũng vậy, ba nơi
của loài phi nhân cái, súc sanh giống cái, đồng nữ
loài người, đồng nữ loài phi nhơn, súc sanh
mới lớn, người nhị h́nh, phi nhân nhị h́nh,
súc sanh nhị h́nh.
Hành bất
tịnh hạnh ở hai nơi của người
huỳnh môn, thành ba-la-di. Hai nơi là đường đại
tiện và miệng. Phi nhân huỳnh môn, súc sanh huỳnh môn
cũng vậy. Ở hai nơi loại bất năng nam,
súc sanh đực cũng như vậy.
Tỳ-kheo
với tâm dâm, hướng đến nơi đường
đại tiện, đường tiểu tiện và
miệng của người phụ nữ; vừa vào th́
phạm; không vào không phạm. Hai bên có vật cách; hoặc
bên có vật cách, bên kia không; hoặc bên kia không có vật
cách, bên này có; hoặc cả hai bên đều không có vật
cách; thảy đều thành ba-la-di.
Nếu
tỳ-kheo với ư dâm, hướng đến ba nơi
của hạng phi nhân nữ, súc sanh cái, đồng nữ
người, đồng nữ phi nhân, súc sanh nhị h́nh
cũng như vậy. Hay hướng đến hai nơi
của người huỳnh môn, phi nhân huỳnh môn, súc sanh
huỳnh môn; người nam, phi nhân nam; súc sanh đực
lại cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo với ư dâm hướng đến đường
đại tiện, đường tiểu tiện và
miệng của người phụ nữ đang ngủ
hoặc chết mà chưa hư hoại hay phần
nhiều hư hoại, vừa để vào liền
phạm, không vào th́ không phạm. Có vật ngăn cách hay
không vật ngăn cách cũng vậy... cho đến, người
nam cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến
chỗ người phụ nữ, cưỡng đem nam căn
đặt vào trong ba nơi. Khi mới để vào có
cảm giác thích thú, khi vào rồi, khi ra cũng như
vậy, phạm ba-la-di. Khi mới vào, và khi vào rồi có
cảm giác thích thú, nhưng khi ra th́ không, vẫn phạm
ba-la-di. Khi mới vào, khi vào rồi không cảm thấy thích
thú, nhưng khi ra có cảm thọ lạc, cũng phạm
ba-la-di. Khi vào thọ lạc, khi vào rồi và khi ra không
thọ lạc cũng mắc tội ba-la-di. Khi mới vào
không thọ lạc, khi vào rồi và khi ra có thọ lạc,
mắc tội ba-la-di. Khi mới vào và khi vào rồi không
thọ lạc, khi ra thọ lạc, mắc tội ba-la-di.
Có vật ngăn cách, không vật ngăn cách cũng như
vậy... từ giống cái chẳng phải người
cho đến người nam cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến
chỗ người phụ nữ đang ngủ, hoặc
là thây chết chưa hoại, hay phần lớn chưa
hoại... mà có cảm giác thọ lạc cũng như
vậy. Có vật cách hay không vật cách cũng như
vậy. Từ giống cái phi nhân cho đến người
nam cũng như vậy.
Nếu oan
gia cưỡng nắm nam căn của tỳ-kheo đặt
vào trong đường đại tiện để làm
việc bất tịnh, khi đặt vào có cảm giác
thọ lạc, mắc tội ba-la-di. Khi vào rồi thọ
lạc, khi ra thọ lạc cũng như trên đă nói, cho đến
có vật cách hay không vật cách cũng như vậy.
Từ
đạo vào đạo; từ đạo vào phi
đạo;[54] từ phi đạo vào
đạo. Hoặc vào có chừng mức, hoặc vào
hết; hoặc nói hoặc không nói. Nếu, với tâm dâm,
cho đến chỉ vào như sợi lông, đều
phạm ba-la-di. Phương tiện mà không vào, phạm
thâu-lan-giá.[55]
Nếu
tỳ-kheo phương tiện muốn t́m cầu làm
bất tịnh hạnh, thành th́ phạm ba-la-di, không thành th́
phạm thâu-lan-giá.
Nếu
tỳ-kheo dạy tỳ-kheo làm bất tịnh hạnh;
tỳ-kheo kia làm theo lời dạy (th́ tỳ-kheo dạy)
phạm thâu-lan-giá; (tỳ-kheo kia) không làm theo lời dạy
(th́ tỳ-kheo dạy) mắc đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni dạy tỳ-kheo, làm phạm thâu-lan-giá, không
làm th́ mắc đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, các chúng khác dạy nhau làm hạnh bất
tịnh, làm hay không làm đều mắc
đột-kiết-la.
Nếu
tử thi phân nửa bị hư hoại mà làm bất
tịnh hạnh, khi để vào liền phạm
thâu-lan-giá. Nếu phần lớn bị hư hoại, hay
bị hoại hết th́ phạm thâu-lan-giá. Nơi kẽ
hở của xương làm hạnh bất tịnh,
phạm thâu-lan-giá. Đào đất làm thành lỗ, hoặc
nơi miệng b́nh, phạm thâu-lan-giá. Tưởng là
đạo hay nghi như vậy, tất cả đều
phạm thâu-lan-giá.
Nếu nơi
đạo mà khởi ư tưởng là đạo, phạm
ba-la-di. Nếu nghi là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nơi
đạo mà tưởng phi đạo, phạm ba-la-di. Phi
đạo mà tưởng là đạo, phạm thâu-lan-giá.
Phi đạo mà nghi, phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni mắc đột-kiết-la
diệt tẫn. Đó là phạm.[56]
Sự
không phạm: khi
ngủ không hay biết, không thọ lạc, hoàn toàn không có ư
dâm th́ không phạm.
Người
không phạm: phạm
đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống năo, bức bách. bức bách th́ không
phạm.[57]
Một
thời, đức Thế tôn du hóa nơi thành La-duyệt,
trong núi Kỳ-xà-quật.[58] Bấy giờ trong thành
La-duyệt có tỳ-kheo tự là Đàn-ni-ca,[59] con người thợ đồ
gốm, lưu trú trong một thảo am nơi chỗ
khuất vắng.[60] Sau khi vị tỳ-kheo kia vào
trong thôn khất thực, có người lấy củi, phá
thảo am của tỳ-kheo đem về làm củi.
Tỳ-kheo kia khất thực xong trở về thấy
thảo am không c̣n, bèn khởi ư nghĩ: «Ta đă sống
một ḿnh nơi khuất vắng; tự ḿnh lấy
cỏ cây làm am để ở. Khi vào thôn khất thực,
người lấy củi phá am thất của ta đem đi.
Bản thân ta có tay nghề; ta có thể trộn bùn đất
làm thành căn nhà toàn bằng gạch[61].»
Tỳ-kheo
kia nghĩ xong, liền trộn bùn đất làm thành căn
nhà toàn bằng gạch; rồi lấy củi và phân ḅ mà
nung, căn nhà có màu sắc đỏ tươi như
lửa.
Lúc bấy giờ,
đức Thế tôn từ trên núi Kỳ-xà-quật đi
xuống. Từ xa trông thấy cái nhà màu đỏ như
lửa rồi, Ngài biết mà cố hỏi các tỳ-kheo:
«Cái ǵ màu đỏ
vậy?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế tôn, có một tỳ-kheo tên là Đàn-ni-ca,
con người thợ đồ gốm. Tỳ-kheo ấy
một ḿnh ở nơi khuất vắng, làm một cái
thất bằng cỏ để ở. Khi đi khất
thực, bị những người
lấy củi phá cái thất mang đi. Vị tỳ-kheo
ấy khi về, thấy thất của ḿnh bị phá liền nghĩ: ‹Ta có tay nghề, ta có thể làm một cái thất toàn bằng gạch.›
Nghĩ như vậy rồi liền làm. Cái nhà sắc đỏ
đó là của tỳ-kheo Đàn-ni-ca.»
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương
tiện để quở trách vị tỳ-kheo kia:
«Việc
ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều
không nên làm. Tại sao, tỳ-kheo Đàn-ni-ca, con người
thợ gốm, tự ḿnh làm thất, tập trung với
nhiều số lượng củi, phân ḅ v.v... rồi nung.
Ta thường dùng vô số phương tiện nói đến
ḷng từ mẫn đối với chúng sanh. Tại sao người
ngu si này tự ḿnh trộn bùn đất làm thất,
dồn chứa gai củi và phân ḅ để nung? Từ nay
về sau, các ông không được làm thất toàn bằng
gạch có màu đỏ như lửa như thế.[62] Nếu làm, phạm đột-kiết-la.»
Lúc bấy
giờ đức Thế tôn ra lệnh cho các tỳ-kheo:
«Các ông
tập hợp lại, cùng nhau nhanh chóng đến chỗ
thất của Đàn-ni-ca mà phá bỏ đi.»[63]
Các
tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đến đập
phá cái thất đó. Đàn-ni-ca thấy các tỳ-kheo đập
phá cái thất của ḿnh bèn hỏi:
«Tôi có
lỗi ǵ mà đập phá thất của tôi ?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Thầy
không có lỗi. Chúng tôi cũng không ghét Thầy. Song chúng tôi
vừa nhận lời dạy của đức Thế
tôn, nên đến đây phá thất của Thầy.»
Tỳ-kheo Đàn-ni-ca
nói:
«Nếu đức
Thế tôn đă dạy, các Thầy cứ tùy nghi.»
Lúc bấy
giờ B́nh-sa, Vua nước Ma-kiệt[64] có người giữ cây
gỗ nhà nước,[65] cùng với tỳ-kheo Đàn-ni-ca
là bạn thân từ thời c̣n nhỏ, nên tỳ-kheo Đàn-ni-ca
đến chỗ người giữ cây gỗ ấy nói
rằng:
«Ông bạn
có biết chăng, Vua B́nh Sa cho tôi cây gỗ. Nay tôi cần
gỗ, ông bạn có thể cho tôi nhận được
không ?»
Người
giữ gỗ nói:
«Nếu nhà
Vua đă cho, th́ loại tốt hay loại xấu, cần
nhiều hay ít, cứ tùy ư lấy.»
Loại cây
gỗ thiết yếu của nhà Vua[66]
để dành, bị
tỳ-kheo Đàn-ni-ca chặt mang đi.
Khi ấy có
một vị Đại thần tổng giám sát các sự
việc của thành,[67]
đến chỗ chứa
gỗ, thấy những cây gỗ thiết yếu, mà nhà Vua
lưu trữ, bị chặt lung tung, liền hỏi người
giữ gỗ rằng:
«Những
cây gỗ thiết yếu này nhà Vua lưu trữ ở đây,
ai chặt mang đi ?»
Người
giữ gỗ nói:
«Tỳ-kheo Đàn-ni-ca
đến nơi tôi và nói, ‹Nhà Vua cho tôi gỗ. Nay tôi
cần, có thể lấy được không?› Tôi trả
lời: ‹Nhà Vua cho th́ Thầy cứ lấy.› Tỳ-kheo
liền vào vựa chứa cây lưu trữ chặt mang đi.»
Khi Đại
thần nghe nói như vậy rồi, liền phiền trách
nhà Vua rằng: ‹Tại sao đem loại gỗ thiết
yếu này cho tỳ-kheo? Trong khi c̣n có những thứ
gỗ khác có thể cho được không cho, mà khiến
tỳ-kheo này chặt đứt gỗ thiết yếu mang
đi!› Rồi vị Đại thần đến chỗ
nhà Vua tâu:
«Tâu Đại
vương, số cây gỗ thiết yếu
được lưu trữ, tại sao nay lại cho
tỳ-kheo chặt mang đi? C̣n có nhiều thứ gỗ
khác có thể cho được, sao lại phá hoại
loại gỗ quí đó?»
Nhà Vua
bảo rằng:
«Ta hoàn toàn
không nhớ đă đem gỗ cho ai. Nếu Đại thần
có nhớ th́ nhắc lại cho ta.»
Khi ấy
vị Đại thần liền cho đi bắt người
giữ cây gỗ đến chỗ nhà Vua. Người
giữ cây gỗ từ xa thấy tỳ-kheo Đàn-ni-ca,
liền kêu nói:
«Đại
đức, v́ Thầy lấy gỗ mà tôi bị bắt. Đại
đức hăy v́ tôi, đi đến đó để
giải quyết. Xin thương xót tôi.»
Tỳ-kheo
trả lời:
«Ông cứ đến
đó. Tôi cũng đi ngay đây.»
Sau đó
tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ nhà Vua, đứng
im lặng trước mặt Vua.
Nhà Vua
liền hỏi:
«Đại
đức, có thật là tôi cho Thầy gỗ hay không?»
Tỳ-kheo đáp:
«Sự
thật nhà Vua có cho tôi gỗ.»
Nhà Vua nói:
«Tôi không
nhớ là có cho người gỗ. Thầy hăy nhắc
lại để tôi nhớ.»
Tỳ-kheo
báo rằng:
«Đại
vương c̣n nhớ chăng? Khi mới đăng
vị, từ miệng nhà Vua nói ra rằng, ‹Trong thời tôi
c̣n trị nước, [573a1] trong phạm vi quốc
giới, có các Sa-môn, Bà-la-môn nào biết tàm quư, ưa học
giới, cho th́ lấy, không cho không lấy; cho th́ dùng, không
cho không dùng. Kể từ hôm nay, các Sa-môn, Bà-la-môn được
phép tùy ư dùng cỏ cây và nước. Không được
không cho mà dùng. Từ nay về sau cho phép Sa-môn, Bà-la-môn tùy ư
dùng cỏ cây và nước.›»
Nhà Vua nói:
«Này Đại
đức, khi tôi mới đăng vị, thật sự
có nói như vậy. Đại đức, tôi nói đối
với vật vô chủ chứ không nói đối với
vật có chủ. Tội của Đại đức đáng
chết.»
Nhà Vua
lại tự nghĩ: «Ta là Vua Quán đỉnh, ḍng
Sát-lợi,[68]
đâu có thể chỉ v́
một ít gỗ mà đoạn mạng người xuất
gia. Điều ấy không nên.»
Bấy
giờ, nhà Vua dùng vô số phương tiện quở trách
tỳ-kheo rồi ra lệnh các thần thuộc, phóng thích
tỳ-kheo. Các thần thuộc y lệnh Vua, phóng thích
tỳ-kheo.
Sau đó các
thần thuộc này lớn tiếng b́nh luận, bất
b́nh, rằng, ‹Nhà Vua nghĩ sao? Tội đáng chết
như vậy mà chỉ khiển trách rồi thả.›
Lúc ấy,
trong thành La-duyệt có các cư sĩ không tin ưa Phật
pháp, họ đều chỉ trích rằng, «Sa-môn Thích
tử không có tàm quư, không biết sợ là ǵ, nên lấy
vật không cho. Bên ngoài tự nói ta biết chánh pháp. Như
vậy làm ǵ có chánh pháp! Gỗ của nhà Vua c̣n lấy,
huống là của người khác? Chúng ta từ nay về
sau đừng gần gũi với sa-môn Thích tử,
lễ bái hỏi chào, cúng dường cung kính. Đừng
cho vào thôn ta, cũng đừng cho nghỉ ngơi.»
Bấy
giờ có các tỳ-kheo nghe chuyện ấy. Trong số đó
có những kẻ thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà,
biết tàm quư, ưa học giới, hiềm trách Đàn-ni-ca:
«Sao lại ăn trộm cây gỗ của Vua B́nh-sa.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn v́ nhơn
duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo; tuy biết vẫn
cố hỏi tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
«Có thật
ngươi lấy gỗ mà nhà Vua không cho?»
Đàn-ni-ca
thưa:
«Bạch
Thế tôn, thực sự đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
«Việc
ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp Sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải pháp tùy thuận, làm đều
không nên làm. Này, Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà nhà Vua
không cho? Ta dùng vô số phương tiện khen ngợi
sự lấy những ǵ đă được cho. Nay
ngươi sao lại lấy gỗ mà nhà Vua không cho?»
Khi ấy có
một tỳ-kheo tên là Ca-lâu
, vốn là Đại thần
của nhà Vua,[69] rành về thế pháp, ngồi
trong chúng, cách đức Thế tôn không xa. Đức
Thế tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo Ca-lâu:
«Theo pháp
luật của nhà Vua, không cho mà lấy, vật trị giá
bao nhiêu phải tội chết?»[70]
Tỳ-kheo
Ca-lâu bạch Phật:
«Nếu
lấy năm tiền[71] hay vật trị giá năm
tiền sẽ bị tội chết.»
«Tỳ-kheo Đàn-ni-ca,
sao lại lấy gỗ mà nhà Vua không cho?»
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Đàn-ni-ca,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo Đàn-ni-ca
là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu
lậu, là người đầu tiên phạm giới.
Từ nay về sau Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới,
tập mười cú nghĩa,... cho đến
để chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo
nào, nơi thôn xóm hay chỗ trống vắng, với tâm
trộm cắp, lấy vật không được cho. Tùy theo vật không
được cho mà lấy, hoặc bị Vua hay Đại
thần của Vua bắt, hoặc giết, hoặc trói,
hoặc đuổi ra khỏi nước, rằng ‹Ngươi
là giặc, ngươi ngu si, ngươi không biết ǵ.› Tỳ-kheo
ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.[72]
Tỳ-kheo: Nghĩa như trên.
Thôn
: có bốn loại, 1. Chung quanh đều
có tường xây thấp. 2. Chung quanh có hàng rào. 3. Có rào và tường
nhưng không giáp ṿng. 4. Chung quanh đều có nhà.[73]
Chỗ
trống vắng:[74] khoảng đất trống
không và vắng vẻ ở ngoài thôn.
Vật
không được cho: vật mà người khác không vất bỏ.[75]
Trộm cắp: lấy với tâm
trộm cắp.[76]
Tùy theo
vật không được cho mà lấy: là năm tiền hay trị giá năm
tiền.[77]
Vua: là người tự tại,
không lệ thuộc ai.
Đại
thần: Chỉ
chung cho các vị Đại thần trợ giúp nhà Vua.
Ba-la-di
không được sống chung: như trên đă nói.
Có ba
trường hợp lấy vật không được cho
phạm ba-la-di: tự tay lấy, giám sát sự lấy,
khiến người lấy.
Lại có ba
trường hợp lấy vật không được cho
phạm ba-la-di: lấy vật với ư tưởng không
phải của ḿnh, lấy vật với ư
chẳng phải tạm dùng, lấy vật không được đồng ư.
Lại có ba
loại[78] lấy: lấy vật của
người, tưởng vật của người,
dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có ba
loại lấy: lấy vật có chủ, tưởng là có
chủ, di chuyển khỏi nguyên vị trí.
Lại có ba
loại lấy: lấy vật có người khác giám
hộ, tưởng có người khác giám hộ, dời
khỏi nguyên vị trí.
Lại có
bốn loại lấy vật không cho thành ba-la-di:[79] tự tay ḿnh lấy, giám sát
sự lấy, sai người lấy, dời khỏi nguyên
vị trí.
Lại có
bốn loại lấy thành ba-la-di: lấy vật với ư
tưởng chẳng phải của ḿnh, không phải
lấy tạm, không được đồng ư mà lấy,
và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có
bốn loại lấy: lấy vật của người,
tưởng vật của người, trọng vật,[80] dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có
bốn loại lấy: có chủ, tưởng là có chủ,
trọng vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có
bốn loại lấy: người khác giám hộ, tưởng
có người khác giám hộ, trọng vật, dời
khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm
loại không cho mà lấy thành ba-la-di: tự tay ḿnh lấy,
giám sát người khác lấy, khiến người khác
lấy, trọng vật, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm
loại: lấy vật với ư tưởng chẳng
phải của ḿnh, không có ư tạm lấy, chẳng
phải đồng ư mà lấy, trọng vật, dời
khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm
loại lấy: lấy vật của người, tưởng
là vật của người, trọng vật, với tâm
trộm, và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có
năm loại: có chủ, tưởng có chủ,
trọng vật, với tâm trộm, dời khỏi nguyên
vị trí.
Lại có năm
loại lấy: vật có người khác giám hộ, trọng
vật, với tâm trộm cắp, dời khỏi nguyên
vị trí.
Lại có
sáu loại không cho mà lấy thành ba-la-di: tự tay ḿnh
lấy, giám sát người lấy, sai người lấy,
trọng vật, với tâm trộm cắp, và dời
khỏi chỗ cũ. Chẳng phải vật của ḿnh,
tưởng là chẳng phải vật của ḿnh, có sáu
loại như vậy. Đó gọi là sáu loại lấy
trộm phạm tội ba-la-di.
Vị trí
:[81] vị trí trong ḷng đất,
vị trí trên đất, vị trí trên cộ, vị trí
trong gánh, vị trí trong hư không, vị trí trên cây, vị
trí thôn, vị trí a-lan-nhă, vị trí ruộng, vị trí
xứ sở, vị trí ghe thuyền, vị trí nước.
Hoặc lén qua ải mà không đóng thuế. Hoặc lấy
vật của người khác kư thác. Hoặc lấy nước;
lấy tăm, trái cây, thảo mộc, chúng sanh không chân, hai
chân, bốn chân, nhiều chân, sản
nghiệp chung. Hoặc cùng
hẹn,[82] hoặc ŕnh chờ,[83] hoặc canh giữ,[84] hoặc chặn lối
đường hiểm. Như vậy gọi là vị
trí.[85]
Vị trí
trong ḷng đất
:[86] các kho tàng chôn dưới
đất chưa ai phát hiện, như bảy báu gồm
vàng, bạc, lưu ly, chơn châu, bích ngọc, xa cừ, mă năo;
các thứ vàng ṛng,[87] vật báu làm bằng vàng, áo,
chăn; hoặc lại có những nhu yếu phẩm khác có
chủ và được chôn trong ḷng đất. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí; vật
vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn nhắc lên, nhưng không
nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí
trên đất
:[88] các thứ không chôn dưới
đất như bảy báu gồm vàng, bạc, v.v… cho
đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ và ở trên mặt đất. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi,
hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc lên,
nhưng không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí
trên cộ
:[89] cộ có bốn loại,
cộ voi, cộ ngựa, cộ xe, cộ đi bộ.
Hoặc lại có các phương tiện chuyên chở khác đều
gọi là cộ. Các thứ trên cộ như bảy báu
gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc
những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật
này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi,
hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí; vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương
tiện muốn nhắc lên, [574a1] nhưng không nhắc, phạm thâu-lan-giá. Hoặc dẫn xe cộ
từ đường chính đến đường
chính, từ đường chính đến đường
phụ, từ đường phụ đến đường
chính, từ trong hầm lên trên bờ hầm, từ trên
bờ hầm đến trong hầm, như vậy lấy
cộ rời khỏi nguyên vị trí. Vừa rời
khỏi nguyên vị trí, phạm ba-la-di. Nếu phương
tiện muốn lấy mà không lấy, phạm tội
thâu-lan-giá.
Vị trí
gánh
: vật đội trên đầu,
vật vác trên vai, vật cơng sau lưng, hay ôm trước
ngực; hoặc lại có các vật khuân vác khác. Trên
những gánh này có các vật như bảy báu gồm vàng,
bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu
yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị
năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi
chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển
khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương
tiện muốn nhắc lên, nhưng không nhắc, phạm
thâu-lan-giá. Hoặc mang gánh từ đường chính đến
đường chính, từ đường chính đến
đường phụ, từ đường phụ đến
đường chính, từ trong hầm lên trên bờ
hầm, từ trên bờ hầm đến trong hầm.
Như vậy với tâm trộm mà mang khỏi chỗ
cũ; vừa rời khỏi vị trí của vật, thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn lấy mà không
lấy mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí
trống không
:[90] những vật mà gió thổi
bay như lông, kiếp-bối, câu-giá-la, sai-la-ba-ni, sô ma, gai,
bông, bát-đam-lam-bà, đầu-đầu-la, chim nhạn,
chim hạc, chim khổng tước, chim anh vơ, chim bồ
câu. Lại có vật hữu dụng khác, có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp;
lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn
dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc
lên, nhưng mà không nhắc nỗi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí
bên trên
:
[91] vật được nhấc
lên để trên cây, trên tường, trên rào, trên vực,
trên cọc bằng ngà voi,[92] trên giá móc áo, trên vơng, trên giường
cây, trên nệm lớn nhỏ, trên gối, trên chiếu
trải trên đất. Trên những thứ này mà có vàng,
bạc, v.v... cho đến, áo, chăn;
hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc lên,
nhưng mà không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí
thôn
: Có bốn loại thôn xóm như trên đă
nói.[93] Trong thôn xóm này, có vàng, bạc,
v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu
phẩm khác có chủ. Những vật này có giá trị
năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn
dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành
ba-la-di. Nếu phương
tiện muốn nhắc lên, nhưng mà không nhắc nổi,
phạm thâu-lan-giá. Dùng máy móc công kích, phá hoại thôn xóm;
hoặc cho nước ngập, hoặc dựa
vào cường lực của người quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện bác mê hoặc lừa
dối mà lấy; vừa lấy được,
thành ba-la-di; phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí
a-lan-nhă
: vùng đất trống ở ngoài
thôn mà có chủ. Nơi chỗ đất trống nầy
mà có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc
những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những vật
này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi
nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhắc lên, nhưng
không nhắc, phạm thâu-lan-giá. Hoặc bằng
phương tiện phá hoại vùng đất trống
của người khác, hoặc cho nước ngập,
hoặc dựa vào cường lực của người
quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện luận mê
hoặc lừa dối để lấy. Vừa lấy được, thành
ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí
ruộng
: ruộng trồng lúa dé,
ruộng trồng lúa mạch, ruộng trồng mía. Hoặc
lại có các loại ruộng khác mà nơi đó có vàng,
bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu
yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá
trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi
nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu dùng phương tiện phá hoại ruộng
của người hoặc cho nước ngập,
hoặc dựa vào cường lực của người
quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện luận mê
hoặc lừa dối để lấy. Vừa lấy được, thành
ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Xứ
sở
:[94] hoặc là khu vực của
nhà, hoặc khu vực chợ quán, hoặc là vườn
cây, hoặc là vườn rau, hoặc ao hồ, hoặc sân
trước, hoặc sau nhà, hoặc là những nơi khác
mà ở đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn;
hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn
dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí, thành ba-la-di. Nếu dùng phương tiện phá
hoại xứ sở của người, hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường
lực của người quen thân, hoặc dùng lời
lẽ biện luận mê hoặc lừa dối để
lấy. Vừa lấy được,
thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc
tội thâu-lan-giá.
Vị trí
ghe thuyền
: thuyền nhỏ, thuyền
lớn, thuyền bầu,[95] thuyền độc mộc,[96] thuyền bành, thuyền
buồm, thuyền h́nh con rùa, thuyền h́nh con ba ba,
thuyền bằng da, thuyền bằng phao nổi,
thuyền bằng trái cây,[97] thuyền treo,[98] thuyền cánh bè; hoặc
những loại thuyền khác mà nơi đó có vàng,
bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu
yếu phẩm khác có chủ. Những vật này có giá
trị năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di
chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí, thành ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá. Hoặc từ bờ này đến
bờ kia, từ bờ kia đến
bờ này; hoặc ngược ḍng,
hoặc xuôi ḍng; hoặc cho ch́m dưới đáy nước,
hoặc dời lên trên bờ; hoặc cởi (thuyền)
rồi dời đi chỗ khác, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà
không được, mắc tội Thâu-lan-giá.
Vị trí
nước
: kho tàng chứa vàng bạc bảy
báu và các thứ áo chăn ch́m dưới đáy nước,
hoặc con rái cá, hoặc cá, hoặc ba ba, hoặc cá
sấu,[99] hoặc hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma,
hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi,[100] và các vật khác ở trong nước,
có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm
trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác,
hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên
vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí,
thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
lấy được, mắc tội thâu-lan-giá. Nếu
dùng phương tiện phá hoại chỗ nước
của người... cho đến, mắc tội
thâu-lan-giá, như trên đă nói.
Không đóng
thuế
:[101] theo pháp luật, tỳ-kheo không
phải đóng thuế. Nếu vật của bạch y
cần phải đóng thuế mà tỳ-kheo với tâm ăn
trộm mang hộ cho người khác qua khỏi chỗ đóng
thuế, hoặc ném ra ngoài cửa ải, vật trị giá
năm tiền hay trên năm tiền, hoặc chôn dấu, di
chuyển, hoặc dùng lời lẽ biện luận mê
hoặc lừa dối, hoặc dùng chú thuật để đưa
qua... cho đến, phương tiện, th́ phạm
thâu-lan-giá, như trên.
Lấy
vật kư thác của người: vật của người gởi
mang đi mà đem tâm trộm cắp, trị giá năm
tiền hay trên năm tiền; từ trên đầu dời
xuống vai, từ trên vai dời lên đầu;[102] từ bên vai hữu dời qua
bên vai tả, từ bên vai tả dời qua bên vai hữu;
từ nơi tay tả dời qua tay hữu, từ tay
hữu dời qua tay tả; hoặc ôm trong ḷng, hoặc để
nơi đất mà dời khỏi nguyên vị trí. Vừa
dời khỏi vị trí cũ, thành ba-la-di. Phương
tiện... thâu-lan-giá.
Nước: các loại nước
thơm, hoặc nước thuốc, được
đựng trong các đồ đựng nước
như lu, vại lớn nhỏ, hoặc các loại
dụng cụ chứa nước khác, có giá trị năm
tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi
chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển
khỏi nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy
mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Tăm:[103] hoặc một hoặc hai,
hoặc nhiều cây, hoặc một nắm, một bó,
một ôm, một gánh; hoặc có ướp hương,
hoặc có thoa thuốc, có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Vườn: tất cả cỏ cây
rừng rú hoa quả có chủ, có giá trị năm tiền
hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm
trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác,
hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên
vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí,
thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng sanh
không chân: như rắn, cá, và tất
cả các loài chúng sanh không có chân khác có chủ, có giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di
chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi
nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Chúng sanh
hai chân: loài người, loài phi nhơn,
chim và các loại chúng sanh hai chân, có chủ, có giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di
chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời
khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc
tội thâu-lan-giá.
Chúng sanh
bốn chân
: [575a1] như voi, ngựa, ḅ, lạc đà,
lừa, nai, dê và các loại chúng sanh bốn chân, có chủ,
có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi,
hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng sanh
nhiều chân
: như ong, uất-châu-long-già,[104] hoặc rết,[105] hay chúng sanh nhiều chân khác, có
chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Sản
nghiệp chung:[106] tài vật kiếm
được do sự nghiệp chung cần phải chia
chung, có giá trị năm tiền hoặc hơn năm
tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Cùng
hẹn:[107] cùng với người khác giao
ước, lúc nào đó đi, lúc nào đó đến;
hoặc đục vách lấy của, hoặc giữa đường
cướp lấy, hoặc đốt cháy; từ đó được
tài vật chung. Những vật ấy có giá trị năm
tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Ḍ xét: «Tôi sẽ đến quan sát
thôn kia; hoặc thành ấp, chỗ thuyền đ̣, hang núi,
hoặc chỗ dân cư, chỗ chợ quán, nơi làm
việc.» Những tài vật thu được từ
những nơi đó thành của chung, có giá trị năm
tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương
tiện muốn lấy mà không lấy được,
mắc tội thâu-lan-giá.
Canh giữ: «Tôi sẽ canh giữ tài vật kiếm được từ bên ngoài. Những vật kiếm được chia chung.» Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Canh đường: «Tôi sẽ canh gác nơi đường. Nếu có quân của nhà Vua đến, quân của giặc đến, quân của trưởng giả đến sẽ báo cho nhau biết. Tài vật kiếm được sẽ chia chung.» Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Nếu phương tiện t́m cầu hơn năm tiền, được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Nếu phương tiện t́m cầu hơn năm tiền mà được năm tiền, thành ba-la-di. Nếu phương tiện t́m cầu hơn năm tiền được dưới năm tiền, thâu-lan-giá. Nếu phương tiện t́m cầu hơn năm tiền mà không được, thâu-lan-giá. Nếu phương tiện t́m cầu năm tiền mà được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Phương tiện t́m cầu năm tiền mà được dưới năm tiền, thành thâu-lan-giá. Phương tiện t́m cầu năm tiền mà không được, thành thâu-lan-giá. Phương tiện t́m cầu dưới năm tiền, được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Phương tiện t́m cầu năm tiền mà được, thành ba-la-di. Phương tiện t́m cầu dưới năm tiền, được dưới năm tiền, thành thâu-lan-giá. Phương tiện t́m cầu dưới năm tiền mà không được, đột-kiết-la.
Sai người phương tiện t́m cầu năm tiền, được hơn năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người t́m cầu hơn năm tiền, được năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, được dưới năm tiền cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu hơn năm tiền mà không được, cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, được hơn năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, mà được năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, mà không được dưới năm tiền, cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, mà không được, cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu dưới năm tiền mà hơn năm tiền, người lấy phạm ba-la-di; người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu dưới năm tiền, được năm tiền; người lấy phạm ba-la-di; người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu dưới năm tiền, được dưới năm tiền, cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu dưới năm tiền mà không được, cả hai đều phạm đột-kiết-la. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền hoặc hơn năm tiền; nhưng người được dạy lấy vật khác; người lấy phạm ba-la-di, người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền, hoặc hơn năm tiền; nhưng người nhận lời dạy lại lấy vật ở chỗ khác, người lấy phạm ba-la-di, người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền hoặc hơn năm tiền; người nhận lời dạy là người bị sai chứ không có tâm trộm cắp, lấy được năm tiền hoặc hơn năm tiền, người dạy phạm ba-la-di, kẻ bị sai không phạm. Nếu sai người lấy vật,[108] người nhận lời dạy hiểu là dạy lấy trộm; nếu lấy được trị giá năm tiền hoặc hơn năm tiền, người nhận lời dạy phạm ba-la-di, người dạy không phạm.
Có chủ, biết rơ là có chủ, không cho mà lấy, trị giá năm tiền hay hơn năm tiền, phạm ba-la-di. Nghi là có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền, phạm thâu-lan-giá. Không chủ, tưởng có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm thâu-lan-giá. Không chủ tưởng có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm thâu-lan-giá. Nghi là vật không chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền, phạm thâu-lan-giá. Lấy vật có chủ, tưởng vật có chủ, dưới năm tiền, phạm đột-kiết-la. Không chủ tưởng là có chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la. Nghi là vật không chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di-ni: đột-kiết-la,
tẫn xuất. Đó là phạm.
Sự
không phạm:
lấy với ư tưởng được cho, tưởng
là của ḿnh, với ư tưởng là đồ vất
bỏ, với ư tưởng tạm lấy, với ư tưởng
là thân hữu... tất cả những trường hợp
trên không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới, si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách. Đó là không
phạm.[109]
Một
thời, đức Thế tôn du hóa Tỳ-xá-ly,[111] ở trong giảng đường,
bên sông Di hầu.[112] Bằng vô số phương
tiện, Phật giảng cho các tỳ-kheo thực hành (quán)
bất tịnh,[113] khen ngợi sự thực hành
(quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự
thực hành quán bất tịnh.
Các
tỳ-kheo khởi ư nghĩ: «Nay đức Thế tôn v́
chúng ta nói thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi
sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư
duy về sự thực hành quán bất tịnh.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo liền dùng vô số phương
tiện tu tập quán bất tịnh. Sau khi từ thiền
định tỉnh giác, các vi ấy sinh ghê tởm thân
mạng, sầu ưu, không an lạc. Cũng như con trai
hay con gái yêu thích bản thân,[114]
đem rắn chết, chó
chết, người chết cột nơi cổ ḿnh, để
rồi ghê tởm mùi hôi thối ấy. Các tỳ-kheo
cũng như vậy, bằng vô số phương
tiện tu tập quán bất tịnh, ghê tởm thân mạng,
sầu ưu, không an lạc, bèn t́m dao muốn tự sát,
khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết.
Các
tỳ-kheo ở trong một khu vườn, bên sông
Bà-cầu,[115] khởi ư nghĩ: «Đức
Thế tôn đă từng dùng vô số phương tiện
nói về sự thực hành (quán) bất tịnh, khen
ngợi sự thực hành (quán) bất tịnh, khen
ngợi tư duy về sự thực hành quán bất
tịnh. Tỳ-kheo kia dùng vô số phương tiện
tập tu quán bất tịnh, sinh ghê tởm thân mạng,
sầu ưu, không an lạc, t́m dao muốn tự sát, khen
ngợi sự chết, khuyến khích cho chết.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo tên là Vật-lực-già Nan-đề,[116] ḍng sa-môn xuất gia,[117] tay cầm dao bén vào trong vườn
Bà-cầu.[118] Có một tỳ-kheo đang ghê
tởm thân mạng ô uế bất tịnh,[119] từ xa thấy tỳ-kheo
Vật-lực-già Nan-đề đến, bèn nói rằng:
«Đại
đức, hăy đoạn mạng tôi. Tôi đem y bát cho ông.»
Vật-lực-già
liền chịu thuê bằng y bát, tức th́ đoạn
mạng vị tỳ-kheo ấy. Y đi đến bờ
sông kia để rửa dao. Ḷng sanh hối hận, tự
nói: «Hôm nay thật bất lợi cho ta; [576a1] thật chẳng lành cho ta.
Tỳ-kheo kia không tội lỗi ǵ, ta lại nhận
lời đoạn mạng căn của ông ấy.»
Vào lúc đó,
có một Thiên ma[120] biết tâm niệm của
tỳ-kheo này, liền dùng thần túc đến trước
Vật-lực-già Nan-đề. Đứng trên mặt nước
mà không ch́m; khen ngợi, khuyến khích rằng:
«Lành thay, lành thay thiện nam tử! Hôm nay ông được công đức lớn; đă độ người chưa được độ.»
Tỳ-kheo Nan-đề nghe Thiên ma khen rồi, sự hối hận kia tan biến, liền khởi ư nghĩ: «Nay ta đặng công đức lớn; độ người chưa được độ.» Nghĩ như vậy rồi, lại cầm dao vào trong vườn[121] mà hỏi:
«Ai chưa độ, nay tôi sẽ độ cho.»
Khi ấy, có tỳ-kheo chưa ly dục, thấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề, th́ quá kinh hoảng, lông trong người dựng ngược lên. Vật-lực-già Nan-đề thấy vậy, nói các tỳ-kheo rằng:
«Các ngài chớ sợ. Các căn chưa thuần thục, th́ chưa thể hóa kiếp được. Đợi đến lúc thành thục, tôi sẽ hoá kiếp cho.» Trong số các tỳ-kheo ái dục đă diệt tận, thấy Vật-lực-già Nan-đề, ḷng không sợ sệt, lông trong người không dựng ngược lên.
Khi ấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề hoặc một ngày giết một tỳ-kheo, hoặc giết hai, ba, bốn, năm cho đến sáu mươi người. Xác chết trong vườn kia vất bỏ bừa băi, hôi thối, bất tịnh, giống như một băi tha ma.
Lúc bấy giờ, có các cư sĩ lễ bái các chùa. Lần hồi đến vườn kia, thấy vậy, ai nấy đều kinh sợ, lấy làm kỳ quái, cùng nhau chê bai: «Trong vườn này có sự đại biến. Sa-môn Thích tử không có ḷng từ mẫn; giết hại nhau. Tự xưng rằng ta tu chánh pháp. Như vậy đâu có ǵ là chánh pháp? Họ giết hại lẫn nhau. Các tỳ-kheo c̣n tự giết nhau huống là đối với người khác. Từ nay chúng ta chớ nên kính phụng, thừa sự, cúng dường Sa-môn Thích tử nữa.»
Họ rao truyền trong thôn ấp, đừng cho cư trú và văng lai. Khi ấy các cư sĩ thấy trong vườn này uế ác như vậy nên không tới lui nữa.
Bấy giờ, tỳ-kheo trú tại Tỳ-xá-ly, có nhân duyên nhỏ, tập hợp lại một chỗ.[122] Lúc ấy, đức Thế tôn quan sát số lượng các chúng tỳ-kheo giảm thiểu, và các đại tỳ-kheo có tiếng tăm đều không có mặt. Đức Thế tôn tuy đă biết nhưng vẫn hỏi A-nan:
«Chúng tăng tại sao giảm thiểu? Các Đại đức nổi tiếng ở đâu mà không thấy mặt hôm nay?»
Tôn giả A-nan đem nhơn duyên đă xảy ra tŕnh bày đầy đủ với Phật:
«Thế tôn trước đây dùng vô số phương tiện v́ các tỳ-kheo thuyết giảng một cách rộng răi về sự thực hành (quán) bất tịnh, khen sự thực hành (quán) bất tịnh, khen tư duy sự thực hành (quán) bất tịnh. Các tỳ-kheo nghe rồi tu tập, nhàm tởm thân mạng, t́m người đoạn mạng. Do vậy mà số lượng bị giảm thiểu. Cúi xin đức Thế tôn v́ các tỳ-kheo mà phương tiện thuyết pháp khác, khiến cho tâm mọi người khai mở, vĩnh viễn không nghi hoặc.»
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Nay hăy tập hợp các tỳ-kheo nơi giảng đường.»
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, tập hợp các tỳ-kheo nơi giảng đường; rồi đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, thưa:
«Kính bạch đức Thế tôn, nay chúng Tăng đă họp, nguyện đức Thánh biết thời.»
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn liền đến giảng đường, ngồi giữa đại chúng, bảo các tỳ-kheo:
«Có A-na-ba-na tam-muội ,[123] tịch nhiên khoái lạc. Các pháp bất thiện đă sanh, nó có khả năng diệt trừ, vĩnh viễn không phát sanh trở lại. Ví như tiết trời mùa thu, sau cơn mưa th́ không c̣n bụi nhơ. Lại như một trận mưa lớn có khả năng chận đứng luồng gió mạnh. A-na ban-na tam-muội cũng lại như vậy, tịch tịnh khoái lạc. Với các pháp bất thiện đă sanh, nó có khả năng diệt trừ.»
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện v́ các tỳ-kheo nói a-na ban-na tam-muội, khen a-na ban-na tam muội, khen sự tu tập a-na ban-na tam-muội. Các tỳ-kheo liền khởi ư nghĩ: «Đức Thế tôn hôm nay dùng vô số phương tiện v́ chúng ta nói a-na ban-na tam-muội, khen a-na ban-na tam muội, khen sự tu tập a-na ban-na tam-muội. Chúng ta hăy tinh cần tu tập.»
Rồi các tỳ-kheo liền bằng đủ phương tiện khác nhau tư duy, nhập a-na ban-na tam- muội. Sau khi từ a-na ban-na tam-muội tỉnh giác, họ tự biết ḿnh chứng đắc pháp tăng thượng thù thắng, an trụ nơi quả chứng.
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bằng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu:
«Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Làm sao các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu này lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau?»
Đức Thế tôn sau khi dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau Ta v́ các tỳ-kheo mà kiết giới, tập mười cú nghĩa… cho đến, để chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Người muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo nào, cố ư tự tay dứt sinh mạng người,[124] cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‹Này nam tử, ích ǵ cuộc sống xấu ác này, thà chết c̣n hơn sống!› Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.[125]
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Người :[126] từ khi thức đầu tiên[127] cho đến khi thức sau cùng mà dứt mạng sống của nó.
Giết :[128] tự ḿnh giết, chỉ sai người giết, sai sứ giết, sai người đi và về mà giết, hoặc trùng sứ mà giết, hoặc sai sứ luân chuyển giết, hoặc nhờ ngườ́ đàn ông giết, hoặc sai người t́m người đàn ông giết, t́m cầu người cầm dao giết, sai người t́m cầu cầm dao giết, ra dấu bằng thân, miệng nói, thân miệng đều hiện tướng, hoặc gởi thư, sai khiến người đưa thư, giết bằng hầm hố, bằng ỷ phát,[129] cho uống thuốc, đặt dụng cụ giết.
- Tự ḿnh giết: dùng tay hoặc gạch đá, dao, trượng, và các vật khác để tự ḿnh giết. Người giết phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Chỉ sai người giết:[130] khi giết, tự ḿnh giám sát việc giết,[131] sai người trước[132] ném vào trong nước, lửa; hoặc từ trên núi xô xuống hố sâu, hoặc khiến voi chà chết; hoặc khiến ác thú ăn, hoặc khiến rắn cắn, và các lệnh giết khác. Người giết phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- Sai sứ giết: tỳ-kheo sai khiến sứ giả đoạn mạng người nào đó. (Người ấy) vâng lời mà đi,[133] nếu đoạn được mạng, thành ba-la-di. Phương tiện mà không đoạn được mạng, thâu-lan-giá.
- Sai người đi và về mà giết:[134] Tỳ-kheo sai sứ đi đoạn mạng người nào đó. Vâng theo lời nói mà đi, muốn giết mà chưa được trở về, sau đó lại vâng theo lời dạy trước mà đi giết lần nữa. Nếu giết được, thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- Trùng sứ mà giết:[135] tỳ-kheo sai sứ giả, «Ngươi hăy đi đoạn mạng người đó.» Lại nối tiếp sai sứ như vậy, cho đến bốn, năm lần. Người được sai liền đến giết. Giết được, thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- Sứ giả luân chuyển mà giết:[136] tỳ-kheo sai sứ, «Ngươi hăy đoạn mạng người đó.» Người bị sai lại sai người khác, cho đến một trăm hay một ngàn lần sai như vậy để đoạn mạng người kia. Đoạn được thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- T́m cầu nam tử giết: như nói, «Trong đây ai biết có người như vậy, có khả năng dùng dao, có phương tiện, học tập lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có thể đoạn mạng của người nào đó?» Người được sai liền đi đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người t́m cầu) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- Sai người t́m cầu nam tử giết: như sai người, «Trong đây ai biết có người như vậy, có khả năng dùng dao, có phương tiện, học tập lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có thể đoạn mạng của người nào đó?» Người bị sai liền đến đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người sai) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết, phạm thâu-lan-giá.
- T́m cầu người cầm dao giết: tự ḿnh t́m cầu, nói «Ai là người dũng kiện có khả năng cầm dao đoạn mạng người nào đó?» Người kia liền đến giết. Giết được, thành ba-la-di, không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Sai [577a1] người t́m cầu kẻ cầm dao giết: cũng như vậy.
- Ra dấu bằng thân:[137] thân làm dấu hiệu giết. Như làm cho rớt vào trong nước, trong lửa, từ trên cao rớt xuống đáy hang sâu; hoặc khiến voi chà chết, khiến ác thú ăn, độc xà cắn. Người kia do nơi dấu hiệu bằng thân nầy mà tự ḿnh giết, phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Miệng nói:[138] hoặc nói thế này, «Ngươi đă làm điều ác, không có tâm nhân từ, ḷng ôm sự độc hại, không làm các điều thiện; ngươi không làm việc cứu hộ. Ngươi sống sẽ chịu nhiều tội báo, không bằng chết.» Hoặc là nói như vầy: «Ngươi không làm các điều bạo ác, có nhân từ, không ôm ḷng độc hại, ngươi đă làm các điều thiện như vậy, ngươi đă làm công đức, ngươi đă làm việc cứu hộ. Ngươi sống để chịu các khổ. Nếu ngươi chết sẽ sanh Thiên.» Nhơn lời nói nầy, người kia tự sát; thành ba-la-di. Phương tiện mà không sát được, phạm thâu-lan-giá.
- Ra dấu bằng thân và miệng: cũng như vậy.
- Sai sứ:[139] sai sứ đến người kia nói, «Ngươi đă làm điều ác,... điều thiện», nói đầy đủ như trên. Nhơn nơi miệng của người sứ khen sự chết này, mà người kia tự sát; thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết được, phạm thâu-lan-giá.
- Gởi thư:[140] viết thư[141] nói, «ngươi đă làm điều ác,... điều thiện», nói đầy đủ như trên.
- Sai bảo khiến sứ viết thư: cũng như vậy.
- Hầm hố:[142] xét biết người kia sẽ đi qua lại trên tuyến đường đó; giữa đường đào một cái hầm sâu, trong hầm để lửa hoặc dao, hoặc rắn độc, hoặc chông nhọn, hoặc dùng thuốc độc bôi lên vật nhọn bén. Người kia rơi vào trong đó, nếu chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Ỷ phát:[143] biết người kia sẽ đứng tựa[144] nơi chỗ nào đó, hoặc nơi cây, nơi tường, nơi rào; bên ngoài đó để lửa, dao, chông, rắn độc, thoa chất độc nơi vật nhọn bén, bẫy gài, khiến người kia rơi vào đó; nếu chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết, phạm thâu-lan-giá.
- Cho uống thuốc: biết người kia bệnh, cho loại thuốc không đúng[145], hoặc tạp độc, hoặc quá hạn, cùng các loại thuốc khiến cho chết, thành ba-la-di. Cho thuốc mà chẳng chết, thành thâu-lan-giá.
- Đặt dụng cụ giết:[146] trước đă biết người kia vốn đă nhàm chán cái thân hèn hạ này nên đem dao, đồ độc, hoặc dây và các thứ dụng cụ làm cho chết để đó. Người kia dùng một trong những vật này để tự sát; nếu chết, (người đặt) ba-la-di. Phương tiện mà không chết, (người đặt) thành thâu-lan-giá.
Nếu làm các việc như vậy, cho đến các phương tiện khác để giết, người kia do đó mà chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết, phạm thâu-lan-giá.
Nếu con của trời, con của rồng, con của a-tu-la, con của kiền-thát-bà, con của dạ-xoa, ngạ quỷ; hoặc trong loài súc sanh mà con nào có trí hiểu biết được tiếng người, hoặc lại có khả năng biến h́nh, phương tiện t́m cầu giết chết. Người giết, thâu-lan-giá. Phương tiện mà không chết, đột-kiết-la. Súc sanh không thể biến h́nh, giết nó thành ba-dạ-đề. Phương tiện mà không chết, đột-kiết-la.
Thật người, tưởng là người mà giết, ba-la-di. Nghi là người, thâu-lan-giá. Người, tưởng chẳng phải người, thâu-lan-giá. Chẳng phải người tưởng là người, thâu-lan-giá. Nghi chẳng phải người, thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, diệt tẫn, Đó là trường hợp phạm.[147]
Sự không phạm: là ném dao, trượng, gạch, đá nhầm trúng người kia chết. Xây cất pḥng xá, làm rơi đá, gỗ, cây, đ̣n tay... chết người. Người bệnh nặng mà d́u, đỡ nằm, ngồi, đi, đứng, tắm rửa, khi uống thuốc, từ chỗ lạnh đến chỗ nóng, từ chỗ nóng đến chỗ lạnh, vào pḥng, ra pḥng, đến nhà xí, trở về... tất cả không có tâm sát hại mà (người bịnh) chết th́ (người đỡ) không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một thời, đức Thế tôn du hóa tại Tỳ-xá-ly,[148] ở trong giảng đường Cao-các bên sông Di hầu. Bấy giờ gặp lúc lúa gạo quư hiếm,[149] nhơn dân đói khổ, khất thực khó được. Đức Thế tôn bảo Tôn giả A-nan:
«Hăy tập họp tất cả tỳ-kheo trú ở Tỳ-xá-ly vào giảng đường.»
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, tập hợp các tỳ-kheo tại giảng đường. Chúng tăng tập hợp xong, Tôn giả đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, thưa:
«Tất cả các tỳ-kheo có mặt tại Tỳ-xá-ly đă tập hợp tại giảng đường. Cúi xin đức Thánh biết thời.»
Khi ấy, đức Thế tôn liền đến giảng đường, ngồi giữa đại chúng, bảo các tỳ-kheo:
«Các ngươi nên biết, hiện nay gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó được. Các ngươi ai có thân hữu tri thức đồng Ḥa thượng, cùng thầy, ở gần Tỳ-xá-ly này, th́ đến đó nương nhờ, cùng tùy theo sự thích hợp mà an cư. Ta cũng sẽ an cư nơi nầy. Tại sao vậy? V́ thức ăn khó khăn, nên khiến cho chúng tăng mệt nhọc.»
Các tỳ-kheo nghe đức Thế tôn dạy rồi, mỗi người đều theo thân hữu tri thức đồng Ḥa thượng, đồng thầy, ở gần Tỳ-xá-ly mà an cư. Đức Thế tôn cũng an cư trong thành Tỳ-xá-ly.
Khi ấy, có số đông tỳ-kheo an cư ở trong Tăng-già-lam bên sông Bà-cừu, khởi ư niệm: «Như hiện nay trong nước này lúa gạo quư hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó được. Chúng ta nên dùng phương tiện thế nào để khỏi khổ sở v́ ẩm thực?» Họ nghĩ ra phương tiện như sau: «Nay ta nên đến các nhà cư sĩ nói: ‹Tôi đạt được pháp thượng nhơn. Tôi là A-la-hán, đạt được thiền, đạt được thần thông, biết được tâm người khác.› Rồi lại khen tỳ-kheo nào đó chứng đắc A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác. Trong đó có những cư sĩ tin ưa, có thức ăn uống ǵ không dám tự ăn riêng, không cho vợ con, mà lại mang đến cúng dường chúng ta. Các cư sĩ kia cũng sẽ khen ngợi chúng ta: ‹Các vị tỳ-kheo này thật sự là ruộng phước, đáng tôn kính.› Như vậy chúng ta có thể nhận được thức ăn uống ngon bổ, có thể sống an lạc, không bị vấn đề khất thực gây khó khổ.»
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo ở bên sông Bà-cừu suy nghĩ như vậy rồi liền đến nhà các cư sĩ, tự nói:
«Tôi chứng đắc pháp thượng nhân. Tôi là A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.»
Lại khen vị tỳ-kheo nào đó chứng đắc A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.
Khi ấy các cư sĩ tin ưa, tin nhận lời nói kia, liền đem thức ăn uống có được và phần của vợ con không dám cho ăn hết, mang đến cúng dường cho các tỳ-kheo và nói: «Đây là bậc đáng tôn kính của thế gian.»
Các tỳ-kheo này nhờ thọ sự cúng dường của các vị cư sĩ nên nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. Các tỳ-kheo khác an cư tại Tỳ-xá-ly nhan sắc tiều tụy, h́nh thể khô héo, y phục rách rưới. An cư xong, thu xếp y bát đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn hỏi han các tỳ-kheo:
«Các ngươi đi đứng có được ḥa hiệp an lạc chăng? Không khổ v́ ẩm thực chăng?»
Các tỳ-kheo thưa:
«Kính bạch đức Thế tôn, chúng con đi đứng ḥa hiệp, an lạc; nhưng gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó được. V́ vậy mà khổ.»
Trong khi đó, các tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam, bên sông Bà-cừu th́ nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. An cư xong thu xếp y bát, đến chỗ đức Thế tôn. Đến nơi, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế tôn hỏi han các tỳ-kheo:
«Các ngươi đi đứng có được ḥa hiệp an lạc chăng? Không khổ v́ ẩm thực chăng?»
Các tỳ-kheo bạch Phật:
«Kính bạch đức Thế tôn, chúng con đi đứng ḥa hợp an lạc; không gặp phải khó khăn về ẩm thực.»
Đức Phật hỏi:
«Hiện nay gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó được. Các ngươi dùng phương tiện nào mà không gặp phải khó khăn v́ vấn đề ẩm thực?»
Các tỳ-kheo liền đem nhơn duyên trước tŕnh bày đầy đủ với đức Thế tôn và thưa:
«Nhờ vậy chúng con không gặp phải khó khăn về ẩm thực.»
Đức Thế tôn hỏi các tỳ-kheo:
«Sự thật các ngươi có chứng đắc như vậy không?»
Các tỳ-kheo thưa:
«Hoặc có người chứng thật. Hoặc có người không chứng thật.»
[578a1] Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Các ngươi, những kẻ ngu si, thật có mà c̣n không nên nói với người, huống là không thật mà lại đến nói với người!»
Đức Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
«Trong đời
có hai hạng giặc:[150] một là thật chẳng
phải tịnh hạnh mà tự xưng là tịnh
hạnh. Hai là v́ miệng và bụng nên không chơn thật,
chẳng phải ḿnh có mà ở trong chúng cố ư nói lời
vọng ngữ, tự xưng rằng đạt được
pháp thượng nhân. Trong hai hạng giặc này, kẻ v́
miệng và bụng nên không chơn thật, chẳng
phải ḿnh có mà ở trong đại chúng cố ư nói
lời vọng ngữ: tự xưng ḿnh đạt được
pháp thượng nhơn, là kẻ giặc lớn nhất
không ǵ bằng. Tại sao vậy? V́ chúng ăn trộm
thức ăn uống của người.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các
tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam bên sông Bà-cừu
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây là
những người ngu si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là những người đầu
tiên phạm giới này. Từ nay về sau Ta v́ các
tỳ-kheo mà kiết giới, tập mười cú
nghĩa, cho đến, để chánh pháp tồn tại
lâu dài.››
Người
muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‹Tôi
chứng đắc pháp thượng nhơn, tôi biết như
vậy, tôi thấy như vậy.› Vào lúc khác, tỳ-kheo
ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc
không người cật vấn, muốn tự thanh
tịnh nên nói như vầy: ‹Tôi thật không biết, không
thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối
vọng ngữ.› Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, lúc ấy có một tỳ-kheo tăng thượng
mạn nói với người rằng: «Tôi đắc đạo.»
Thời gian sau, vị ấy tinh tấn không giải đăi,
cần cầu phương tiện, chứng đắc
pháp thù thắng tối thượng. Vị ấy nghĩ
như vầy: «Đức Thế tôn v́ các tỳ-kheo
kiết giới: ‹Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà
tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc pháp thượng
nhơn, tôi biết như vậy, tôi thấy như
vậy.’ Vào lúc khác, Tỳ-kheo ấy hoặc bị người
cật vấn, hoặc không người cật vấn,
muốn tự thanh tịnh nên nói như vậy: ‘Tôi
thật không biết, không thấy, mà nói có biết có
thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’
Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.› Với tâm kiêu mạn, tôi đă tự nói tôi đắc
đạo. Thời gian sau với tâm siêng năng, phương
tiện tinh tấn, không giải đăi, chứng
đắc pháp thù thắng tối thượng. Như
vậy tôi há không phạm ba-la-di? Nay phải làm thế nào?»
Vị ấy t́m các tỳ-kheo đồng ư:[151] «Đức Thế tôn v́ các
tỳ-kheo kiết giới: ‹Tỳ-kheo nào, thật không
sở tri mà tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc
pháp thượng nhơn, tôi biết như vậy, tôi thấy
như vậy.’ Vào lúc khác, Tỳ-kheo ấy hoặc bị
người cật vấn, hoặc không người
cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như
vậy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có
biết có thấy, nói lời hư dối vọng
ngữ.’ Tỳ-kheo này là kẻ ba-la-di, không được
sống chung.› Tôi với tâm tăng thượng mạn
tự xưng là tôi đắc đạo. Thời gian sau do
sự siêng năng, phương tiện tinh tấn không
giải đăi, chứng đắc pháp thù thắng tối
thượng. Như vậy tôi há không phạm ba-la-di sao?
Lành thay, Đại đức v́ tôi bạch Phật. Tùy theo
lời Phật dạy, tôi sẽ vâng làm.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đem
nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ lên đức
Thế tôn. Lúc ấy, đức Thế tôn do nhơn này
tập hợp tỳ-kheo Tăng, v́ các tỳ-kheo tùy
thuận thuyết pháp, dùng vô số phương tiện tán
thán đầu-đà, tán thán[152] thiểu dục tri túc, ưa
xuất ly, và bảo các tỳ-kheo:
«Người
tăng thượng mạn không phạm.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‹Tôi
chứng đắc pháp thượng nhơn, tôi biết như
vậy, tôi thấy như vậy.› Vào lúc khác, tỳ-kheo
ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc
không người cật vấn, muốn tự thanh
tịnh nên nói như vầy: ‹Tôi thật không biết, không
thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối
vọng ngữ,› trừ tăng thượng
mạn,
Tỳ-kheo
ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Không
biết không thấy: thật sự không thấy biết.
Tự xưng: tự ḿnh xưng nói có tín,
giới, thí, văn, trí tuệ, biện tài.
Pháp
của người: ấm của con người, giới của con
người, nhập của con người.[153]
Pháp thượng
nhơn
: các pháp có khả năng thành
tựu xuất ly.[154]
Tự nói:[155] tự nói niệm tại thân,
tự nói chánh ức niệm, tự nói tŕ giới, tự
nói có dục, tự nói không buông lung, tự nói tinh tấn,
tự nói đắc định, tự nói đắc chánh
thọ, tự nói có đạo, tự nói tu tập, tự
nói có huệ, tự nói kiến, tự nói đắc,
tự nói quả.
- Tự
nói niệm tại thân:[156] có niệm có khả năng
dẫn đến xuất ly; chuyên cần, thân cận pháp
này, tu tập và phát triển rộng lớn, như
điều khiển cỗ xe, thủ hộ và quán sát, khéo đạt
được b́nh đẳng, đă được
quyết định, không c̣n khó khăn, được[157] tự tại. Như vậy
gọi là tự ḿnh nói đặng thân niệm xứ.
- Tự
nói chánh ức niệm: có niệm có khả năng
dẫn đến xuất ly; chuyên cần, thân cận pháp
này, tu tập và phát triển rộng lớn, như
điều khiển cỗ xe, thủ hộ và quán sát, khéo
đạt được b́nh đẳng, đă
được quyết định, không c̣n khó khăn,
được tự tại. Như vậy gọi là
tự ḿnh nói chánh ức niệm.
- Tự
nói đắc giới, tự nói có dục, tự nói không
buông lung, tự nói tinh tấn, cũng được nói
như trên.
- Tự
nói đắc định: nói chứng đắc
tam-muội có giác có quán;[158] tam-muội không giác có quán;[159] tam-muội không giác, không quán;[160] tam muội không - vô tướng
- vô tác;[161] chuyên cần, thân cận tư
duy định này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự
nói đắc chánh thọ:[162] chánh thọ có tưởng,
chánh thọ không tưởng, chánh thọ tùy pháp, chánh
thọ tâm tưởng, chánh thọ trừ sắc tưởng,
chánh thọ không trừ sắc tưởng, chánh thọ
trừ nhập,[163] chánh thọ nhất thiết
nhập,[164] làm quen, học tập, gần
gũi, tư duy chánh thọ này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự
nói có đạo:
từ đạo có một chi đạo cho đến
đạo có mười một chi; chuyên cần, thân
cận tư duy đạo này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự
nói tu: tu giới, tu
định, tu trí, tu giải thoát huệ, tu kiến
giải thoát huệ, chuyên cần, thân cận. Ngoài ra như
trên đă nói.
- Tự
nói có trí: pháp trí,[165] tỉ trí,[166] đẳng trí,[167] tha tâm trí làm quen, học
tập, gần gũi, tư duy trí này. Ngoài ra như trên đă
nói.
- Tự
nói kiến:[168] thấy khổ, thấy
tập, thấy tận và thấy đạo. Hoặc
lại nói như vầy: thiên nhăn thanh tịnh quán các chúng
sanh, hoặc sanh, hoặc tử, hoặc có sắc
đẹp, hoặc có sắc xấu, hoặc thiện thú,
ác thú; hoặc biết có tốt xấu, quư tiện, tùy theo
nghiệp báo của chúng sanh. Biết điều đó đúng
như thật, chuyên cần, thân cận. Ngoài ra như trên đă
nói.
- Tự
nói đắc: đắc
Tu-đà-hoàn, đắc Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, làm
quen, học tập, gần gũi. Ngoài ra như trên đă
nói.
- Tự
nói quả: Tu-đà-hoàn
quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán
quả, làm quen, học tập, gần gũi... ngoài ra như
trên đă nói.
Với
những sự hư vọng, không thiệt như vậy;
không biết, không thấy mà nói với người: «Tôi đạt
được pháp thượng nhơn.» Tự miệng
ḿnh nói với người mà người ấy hiểu,
phạm ba-la-di. Nói mà người ấy không hiểu,
phạm thâu-lan-giá.
Hoặc dùng
tay làm dấu, hoặc sai sứ, hoặc viết thư,
hoặc ra dấu hiệu cho biết, mà người ấy
biết, phạm ba-la-di, không biết phạm thâu-lan-giá.
Tự ḿnh
ở chỗ vắng người, khởi ư tưởng là
không vắng người, miệng nói: «Tôi đạt được
pháp thượng nhơn», phạm thâu-lan-giá. Chỗ không
vắng khởi ư tưởng là vắng, miệng ḿnh nói:
«Tôi đạt được pháp thượng nhơn»,
phạm thâu-lan-giá. Nói với chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà,
Dạ-xoa, ngạ quỷ, súc sanh có thể biến h́nh, có
trí, là ḿnh đắc pháp thượng nhơn, mà những
hàng ấy hiểu, phạm thâu-lan-giá; chúng không hiểu,
phạm đột-kiết-la. Làm dấu bằng tay, sai
sứ, viết thư, ra dấu mà người kia hiểu,
phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm
đột-kiết-la. Nói với súc sanh không thể biến
h́nh, là ḿnh đắc pháp thượng nhơn, phạm
đột-kiết-la.
Nếu
thật sự người đắc đạo mà nói
với vị đại tỳ-kheo không đồng ư,[169] ḿnh đạt được
pháp thượng nhơn, phạm đột-kiết-la.
Nếu giảng cho người về căn, lực, giác
ư, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà lại nói
rằng: «tôi đạt được», [579a1] phạm ba-la-di.
Người, khởi ư tưởng là người, phạm ba-la-di. Nghi là người, phạm thâu-lan-giá. Người mà tưởng chẳng phải người, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà tưởng là người, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà nghi cũng phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni ba-la-di; thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, phạm đột-kiết-la, tẫn xuất. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: người tăng thượng mạn tự nói là nghiệp báo nhơn duyên chứ chẳng phải tu đạt được, hoặc hướng đến vị đại tỳ-kheo đồng ư[170] mà nói pháp thượng nhơn. Hoặc giảng cho người về căn, lực, giác ư, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà không tự xưng là «tôi đạt được.» Hoặc vui đùa mà nói; hoặc nói lướt nhanh; nói chỗ vắng, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này nói nhầm việc kia th́ không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo, bức bách.
[1] (T22n1428, tr.568c6
四波羅夷法之一)
[2]
Tô-la-bà quốc
蘇羅婆國; Ngũ
phần: Tu-lại-bà quốc
須賴婆國; cả hai phiên âm từ Skt. Śūrasena
(Pali: Sūrasena), 1 trong 16 đại quốc
thời Phật; xem Trường A-hàm 5, «Kinh Xà-ni-sa;»
D.18. Javasabha. Tăng kỳ: Xá-vệ
quốc
舍衛國,
(Skt. Śrāvasti, Pali:
Sāvatthī). Thập tụng: Phật
tại T́-da-li
毘耶離, Skt.
Vaiśāli (Pali:
Vesālī).
[3]
T́-lan-nhă
毘籣若.
Pali: Verañjā, thị trấn gần
Sāvatthī, trên đường đi Vesālī.
[4]
Na-lân-la-tân-châu-mạn-đà-la
那隣羅濱洲曼陀羅;
Pali: Naḷerupucimanda, cây
pucimanda (Nimba) có miếu thờ dạ-xoa Naḷeru.
Ngũ phần: trú lâm thọ hạ
住林樹下.
[5] Vô
trước nhân
無著人
, một dịch
nghĩa khác của từ A-la-hán.
[6] Ba-li
quốc
波離國;
Ngũ phần: Ba-lị quốc
波利國. Pali
(Vin.iii. 6): Uttarāpathakā assavāṇijā,
những người buôn ngựa từ Uttarāpatha, địa
danh chỉ chung vùng Bắc Ấn.
[7] Uất-đan-việt
鬱單越;
Skt.(=Pali): Uttarāpatha.
[8] Tự
nhiên canh mễ
自然粳米, một
thứ lúa tự nhiên mọc, không do người trồng;
xem Trường A-hàm 6, kinh Tiểu duyên, Đại 1 tr.
38a1. Cf., D.iii.88 (Aggañña-suttanta):
akaṭṭha-pāko sāli pātur ahosi akaṇo
athuso, xuất hiện loại lúa chín tự nhiên không
do gieo trồng, không vỏ, không cám.
[9] Pali
(Vin.iii. 7), Mahāmoggallāna bạch
Phật: «Phần dưới kia của đại địa
này rất sung túc. Con sẽ chuyển ngược đại
địa để các
tỳ-kheo
có thể có thức ăn.»
[10]
Nguyên Hán: trượng phu
丈夫.
[11] Tỳ-bà-thi
Phật
毘婆尸佛;
Ngũ
phần: Duy-vệ Phật
維衛佛. Pali: Vipassī
[12] Thức
Phật
式佛;
Ngũ
phần: Thi-khí Phật
尸葉佛. Pali: Sikhī.
[13]
Câu-lưu-tôn Phật
拘留孫佛;
Ngũ phần:
Câu-lâu-tôn Phật
拘樓孫佛. Pali: Kakusandha.
[14] Ca-diệp
Phật
迦葉佛.
Pali: Kassapa.
[15] Tuỳ-diệp Phật
隨葉佛.
Pali:
Vissabhu.
[16]
Câu-na-hàm Mâu-ni Phật
拘那含牟尼佛
Konāgamana.
[17] Pali,
Pārājikā I, tr.7: các Thế tôn
Vipassī, Sikkhī và Vessabhu, phạm hạnh không tồn tại
lâu dài. Các Thế tôn Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa có phạm
hạnh tồn tại lâu dài. Ngũ phần
(T22n1421, tr.1b26) cũng nói như Pali.
[18] 12 bộ
phận Thánh điển
: Khế kinh
契經, Kỳ-dạ kinh
祇夜經, Thọ kư
授記經, Cú
kinh
句經, Nhân duyên
kinh因緣經, Bản
sanh kinh本生經, Thiện đạo kinh善道經,
Phương đẳng kinh
方等經, Vị tằng hữu kinh
未曾有經, Thí
dụ kinh
譬喻經,
Ưu-bà-đề-xá kinh
優波提舍經.
Liệt kê theo Pali, chỉ có
9: suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ
gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ
abbhutadhammaṃ vedallaṃ.
[19] Có
điểm ngữ pháp đáng lưu ư trong bản Hán dịch.
Trong bản Pali (Vin. iii. 8): (...) kilāsuno
ahesuṃ sāvakānaṃ vitthārena dhammaṃ desetuṃ,
«(Các đức Thế tôn này) không tích cực (=mệt mỏi)
thuyết pháp cho các đệ tử.» Tính từ
kilāsuno (mệt mỏi = không tích cực,
chủ cách, số nhiều, Hán: b́ yếm
疲厭) phẩm
định các danh từ Thế tôn (bhagavā
) chứ không phẩm định cho danh từ
sāvakānaṃ (chỉ định
cách, số nhiều, Hán: chư đệ tử
諸弟子)
như trong Hán dịch.
[20]
Ngũ phần (T22n1421, tr.1c10): «Thuyết
pháp cho đệ tử bằng tâm niệm chứ không nói
ra miệng rằng...»
[21] Khủng
úy lâm
恐畏林.
Ngũ phần: khủng bố lâm
恐怖林.
Pali.: aññtarasmiṃ bhiṃsanake vanasaṇḍe,
trong một khu rừng có nhiều sự kinh sợ kia. H́nh
như không chỉ khu rừng có tên là Kinh sợ (Khủng bố
hay Khủng uư). Trong thời Thích tôn, cũng có một khu rừng
mang tên như vậy, Pali: Bhesakalāvana
(Khủng bố lâm) thuộc nước Bhagga (Bà-kỳ);
Cf. A.ii. 61, iii. 295; S.iii. 1, iv. 116.
[22] Pali
kết luận: «Do nguyên nhân này, phạm hạnh (brahmacariya) của các Thế tôn Vipassī,
Sikkhī, Vessabhu không tồn tại lâu dài (na
ciraṭṭhitikaṃ ahosi).»
[23] Pali:
buddhānubhānaṃ
sāvakānaṃ, các đệ tử
đă giác ngộ theo Phật.
[24] Hán:
thả chỉ
且止. Pali: āgamehi
tvaṃ Sāriputta, «Hăy chờ đợi, này Xá-lợi-phất.»
[25] Con
trai của Tu-đề-na ở thôn Ca-lan-đà
迦蘭陀村須提那子.
Ngũ phần: con trai của trưởng
giả Na-lan-đà tên là Tu-đề-na. Tăng
kỳ: thành Tỳ-da-ly có con trai trưởng
giả tên là Da-xá
耶舍.
Thập tụng: Con trai trưởng giả
tên là Tu-đề-na Gia-lan-đà
加蘭陀 Căn bản:
Con trai của Yết-lan-đạc-ca tên là Tô-trần-na
羯蘭鐸迦子蘇陳那. Pali
(Vin.iii. 11): Sudinno nāma Kalanda(ka)putto seṭṭhiputto,
Sudinna, con trai của phú hộ Kalandaka.
[26]
Tứ phần, Căn
bản: Chủng Tử
種子.
Tăng kỳ,
Thập tụng: Tục
Chủng
續種.
Pali: Bījaka.
[27] Pali,
Vin.iii.19, về sau, Bījaka và mẹ đều xuất
gia, và cả hai đều đắc quả A-la-hán.
[28]
Nguyên Hán: cố nhị
故二. Pali: purāṇadutiyakā.
[29]
Nghĩa
義;
đây hiểu là phù hợp với mục đích giải
thoát.
[30] Các
thí dụ về tai hại của dục, xem
Trung A-hàm 54 (T1,
tr.763c17); Cf. Pali, M.22. Alagaddūpama.
[31] Tập
thập cú nghĩa
集十句義. Ngũ
phần, Thập tụng: dĩ thập lợi cố
以十利故; Tăng-kỳ:
thập sự lợi ích
十事利益. Pali: dasa
atthavase paṭicca, căn cứ trên 10 ư nghĩa (mục
đích).
[32]
Ngũ
phần (T22n1421, tr.3c1): 1. Tăng hoà hiệp; 2. Tăng đoàn
kết; 3. Chế ngự người xấu; 4. Để
cho người biết hổ thẹn được yên
vui; 5. Đoạn hữu lậu đời này; 6. Diệt hữu
lậu đời sau; 7. Khiến người chưa tin có
tín tâm; 8. Khiến người có tín tâm được
tăng trưởng; 9. Để Chánh pháp lâu dài; 10. Phân biệt
t́-ni phạm hạnh tồn tại lâu dài.
Tăng kỳ (T22n1425, tr.228c24): 1.
Nhiếp Tăng; 2. Cực
nhiếp Tăng; 3. Để Tăng an lạc; 4. Chiết
phục người không biết hỗ thẹn; 5. Để
người có tàm quư sống yên vui; 6. Người chưa
tin được tin; 7. Người đă tin th́ tin thêm; 8.
Trong đời này được lậu tận; 9. Các lậu
đời vị lai không sinh; 10. Để chánh pháp cửu
trụ.
Căn bản (T23n1442, tr.629b22), như Pali. Pali,
Vin.iii. tr.32:
saṅghasuṭṭhutāya (v́ sự ưu mỹ
của Tăng);
saṅghaphāsutāya (v́ sự an lạc của
Tăng);
dummaṅkūnaṃ
puggalānaṃ niggahāya (để chế phục
hạng người không biết hỗ thẹn) ;
pesalānaṃ bhikhūnaṃ
phāsuvihārāya
(để các tỳ-kheo nhu ḥa sống an lạc);
diṭṭhadhammikānaṃ
āsavānaṃ
saṃvarāya (để ngăn chặn
hữu lậu đời này);
sampāratikānaṃ āsavānaṃ
paṭighātāya (để đối trị hữu lậu đời
sau);
appasannānaṃ
pasādāya (v́ tịnh tín của người chưa có tín);
pasannānaṃ
bhiyyobhāvāya (v́ sự tăng trưởng của người có
tín);
saddhammaṭṭhitiyā (v́ sự trường
tồn của chánh pháp);
vinayānuggahāya
(để nhiếp hộ
t́-ni).
[33] Bạt-xà Tử
跋闍子
. Tăng kỳ (T22n1425, tr.231b24), Phật trụ T́-xá-li, có hai người
Li-xa
離車子. Thập
tụng (T23n1435, tr.1c22), Phật tại Xá-vệ, tỳ-kheo tên Bạt-ḱ
Tử
跋耆子. Ngũ phần (T22n1421, tr.4a1), một số đông các tỳ-kheo;
nhưng sự kiện được đề cập sau
nhân duyên vượn cái. Pali, Vin.iii.23, sambahulā
vesālikā vajjiputtakā bhikkhū, một số
đông các tỳ-kheo người Vajji ở Vesālī.
Nhưng sự kiện đề cập sau nhân duyên vượn
cái như Ngũ phần.
[34] Nguyên Hán: Giới luy bất tự hối
戒羸不自悔
. Thập tụng: giới
luy bất xuất
戒羸不出. Pali: dubbalyaṃ
anāvikatvā, không tuyên bố sự bất
lực của ḿnh (không kham nổi đời sống tỳ-kheo).
[35] Khất thực tỳ-kheo
乞食比丘; Tỳ-kheo sống chỉ bằng khất thực;
một trong 12 hạnh đầu đà. Ngũ
phần (T22n1421, tr.3c6): a-lan-nhă tỳ-kheo
阿練若比丘;
Thập tụng (T23n1435, tr.2a1), một
tỳ-kheo sống một ḿnh trong rừng, ở Câu-tát-la.
Pali (Vin. iii. 22), một tỳ kheo sống trong rừng Đại
lâm (Mahāvana), Vesāli.
[36] Hán: thư di hầu
雌獼猴; Pali: makkaṭī.
[37] Hán: án hành trú xứ
案行住處; Ngũ phần: án
hành ngoạ cụ
案行臥具. Pali, nt., senāsanacarikaṃ
āhiṇḍantā, du hành để t́m chỗ ngủ
nghỉ.
[38] Khất cầu tỳ-kheo
乞求比丘; Ngũ phần: khất tỳ-kheo
乞比丘; Thập tụng (T23n1435, tr.2b30): khất tỳ-kheo,
v́ xin ăn nơi người khác. Như bà-la-môn khi đi
xin ăn cũng tự nói ‹Ta là tỳ-kheo.› Pali:
bhikkhakoti bhikkhu, tỳ-kheo, là người
hành khất.
[39] Cát tiệt y
割截衣;
Ngũ phần: hoại sắc cát tiệt
y
壞色割截衣. Pali: bhinnapaṭadharoti
bhikkhu, tỳ-kheo, là người mặc
y từ những miếng vải rách.
[40]
Pali:
samaggena saṅghena ñatticatutthena kammena akuppena ṭhānārahena
upasampanno ti bhikkhu, tỳ-kheo, là người thọ cụ
túc (=đă thành tựu) với sự hợp cách không di
động do bạch tứ yết-ma bởi Tăng hoà hiệp.
[41] Hán: cộng tỳ-kheo
共比丘. Pali: bhikkhūnaṃ,
sở hữu cách số nhiều của bhikkhu:
(học xứ) của các tỳ-kheo. Bản Hán hiểu là
chỉ định cách: ‹đối với (=dành cho) các Tỳ-kheo›.
[42] Đồng giới
同戒; Ngũ phần: đồng
học giới pháp
同學戒法; Thập tụng:
đồng nhập
tỳ-kheo học pháp
同入比丘學法 ; Căn bản: đồng
đẳng học xứ. Pali: sikkhā-sājīva-samāpanno,
đă chấp nhận đời sống và học xứ
(của các tỳ-kheo); giải thích (Vin. iii. 23):
sikkhā (học) chỉ cho ba học:
tăng thượng giới, tăng thượng tâm,
tăng thượng tuệ (adhisīla,
adhicitta, adhipaññā); sājīvaṃ
(đời sống): chỉ các học xứ mà Phật
đă qui định (bhagavatā paññattaṃ
sikkhāpadaṃ).
[43] Nghĩa là, cảm thấy xấu hổ
khi nghĩ ḿnh là tỳ-kheo. Cf. Pali, Vin.iii.24: bhikkhubhāvaṃ aṭṭīyamāno
harāyamāno, khó chịu và xấu hổ v́ ḿnh là tỳ-kheo.
[44] Cf. Pali, nt., sāmaṇerabhāvaṃ
patthayamāno, ước muốn làm sa-di (hơn là làm
tỳ-kheo).
[45] Cf. Pali, nt.,
titthayasāvakabhāvaṃ patthayamāno, ước
muốn làm đệ tử của ngoại đạo
[46] Chư phạm hạnh
諸梵行
; cũng nói là đồng phạm hạnh
(Pali: sabrahmacārin) đây chỉ các tỳ-kheo
đồng học, hay bạn đồng tu.
[47] Hán: giới luy
戒羸
.
Pali, nt.,
dubbalyaṃ, sự yếu đuối (của
ḿnh).
[48] Bất tịnh hạnh (hành)
不淨行
, cũng nói là phi phạm hạnh. Phạm
hạnh (Skt.=Pali: brahmacariya) nguyên
nghĩa, sống cuộc đời (đoạn dục
để) phụng sự Phạm thiên. Trong Phật giáo, chỉ
sự đoạn trừ dâm dục. Luận
trí độ 20: «Chư thiên đoạn trừ dâm dục
đều được gọi là Phạm.» Hán dịch «tịnh
hạnh» theo nghĩa ly dục thanh tịnh.
[49] Ngũ phần (T22n1421, tr.4c21): «Ba-la-di, gọi là đọa pháp, là ác
pháp, là đoạn đầu pháp.»
Tăng kỳ (T22n1425, tr.237b24): «Ba-la-di, là đối với pháp trí mà thối thất,
đọa lạc, không có đạo quả phần.»
Thập tụng (T23n1435, tr.4b13):
«Ba-la-di, là đọa lạc, không bằng
墮不如; là tội cực ác, sâu nặng.»
Căn bản (T23n1442, tr.630c6):
«Ba-la-thị-ca
波羅市迦, là tội cực trọng,
rất đáng ghê tởm, rất đáng bị ruồng bỏ...
mất thể tính Bí-sô, trái ngược với thể tính
Niết-bàn; là sự đọa lạc, sụp đổ,
bị kẻ khác đánh bại không c̣n cứu được
nữa.» Pali, Vin.iii.28:
pārājiko hotī ti seyyathāpi nāma
puriso sīrascchinno abhobbo tena sarīrabandhanena jīvituṃ, «Pārājika,
người phạm ba-la-di, như một người mà
cái đầu đă bị chặt không thể sống với
thân được ráp nối lại.»
[50] Bất cộng trú
不共住. Pali,
nt., asaṃvāso ti saṃvāso nāma
ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatā, «Bất cộng trú:
đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết
giới, đồng đẳng học xứ, đó là cộng
trú.»
[51] Nhị h́nh
二形
. Ngũ
phần, Thập
tụng: nhị căn
二根.
Pali: ubhatovyañjana,
lưỡng tính, ái nam ái nữ.
[52] Huỳnh
môn
黃門
, bất
năng nam
不能男.
Căn bản: bán-trạch-ca
半擇迦.
Pali: paṇḍaka, người bị
hoạn/ thiến.
[53] Phi
nhân
非人
, chỉ
các loại trời, thần, và tương tự. Pali:
amanussa.
[54]
Đạo
道, chỉ
các đường đại và tiểu tiện; phi đạo
非道, chỉ
các đường khác. Pali: magga:
passāva-magga, vacca-magga.
[55]
Thâu-lan-giá
偷蘭遮
. Ngũ
phần: thâu-la-giá
偷羅遮. Pali: thulla/thūlaccaya; Skt. sthūlātyaya,
dịch: thô tội, đại tội, trọng tội;
Thiện kiến 9: «Thâu-lan
(Pali: thulla, thūla;
Skt. sthūla), nghĩa là
lớn.
Giá
遮, chỉ sự chướng ngại đạo,
về sau đọa ác đạo.»
[56]
Thập tụng
(T23n1435, tr.2c29), nhân duyên Nan-đề: Phật tại Xá-vệ.
Bấy giờ Nan-đề tu thiền trong rừng, bị
Ma thiên thần dụ, dẫn đến chỗ hành dâm với
con ngựa cái đă chết. Ngay sau đó tức th́ tỉnh
ngộ, chạy thẳng về tinh-xá, khẩn thiết xin
Tăng đừng diệt tẫn. Phật khiến các tỳ-kheo
tác pháp bạch tứ yết-ma cho Nan-đề sám tội
ba-la-di, gọi là «Yết-ma dữ học pháp
與學法
.» Nhân đó, Phật quy
định các điều kiện và các phận sự cho tỳ-kheo
được dữ học pháp. Cf. Tứ
phần 35 (T22n1428, tr.809a8), về
yết-ma dữ học pháp cho Nan-đề.
[57]
Tăng
kỳ (T22n1425, tr.238a23) phần kết,
«Thế tôn trú tại thành Tỳ-da-ly, sau thành đạo
năm thứ 5, nửa tháng thứ năm, ngày 12, sau bữa
ăn trưa, bóng ngả về phía đông cỡ nửa
người đang ngồi, nhân trường hợp
Trưởng lăo Da-xá Ca-lan-đà Tử, chế giới này.»
[58]
La-duyệt thành Kỳ-xà-quật sơn
羅閱城耆闍崛山.
Ngũ phần (T22n1421,
tr.5b1), Phật tại Vương-xá thành王舍城.
Căn bản (T23n1442, tr.635c24): Phật tại
Vương-xá, bên bờ ao Yết-lan-đạc, trong vườn
Trúc lâm
王舍城羯闌鐸迦池竹林園中.
Pali, Vni.iii.41: rājagahe
viharati gijjhakūṭe pabbate.
[59] Đàn-ni-ca đào sư tử 檀尼迦陶師子 . Ngũ phần, Thập tụng: Đạt-ni-ca 達尼迦. Tăng kỳ: ngoă sư tử trưởng lăo Đạt-nị-già 瓦師子長老達膩伽