PHẦN 1 - TỨ PHẦN LUẬT - TĂNG SỰ
Việt dịch quyển 1
Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.[3] Bấy giờ, đức
Thế tôn cho phép các tỳ-kheo thọ tŕ ba y không được
dư.
Lúc ấy,
nhóm sáu tỳ-kheo chứa y dư. Hoặc có y mặc buổi sáng.
Hoặc có y mặc buổi trưa. Hoặc có y mặc
buổi xế. Nhóm sáu thường kinh doanh trang nghiêm y
phục, cất chứa như vậy. Các tỳ-kheo
thấy, bảo nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
«Đức
Phật cho phép thọ tŕ ba y, không được dư. Đây
là y của ai?»
«Y dư
của chúng tôi đấy.» Nhóm sáu trả lời.
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Đức
Như Lai cho phép thọ tŕ ba y, tại sao các thầy
cất chứa y dư, hoặc có y mặc buổi sáng,
hoặc có y mặc giữa ngày, hoặc có y mặc buổi
xế?»
Các
tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhân duyên này tập họp Tăng tỳ-kheo,
dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao, nhóm sáu Tỳ-kheo, Như Lai cho phép thọ tŕ
ba y, các ông lại chứa cất y dư?»
Đức
Phật dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các Tỳ-kheo:
«Nhóm sáu
Tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng
nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm
giới này ban đầu. Từ nay về sau, ta v́ các
tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa,
cho đến, Chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, Tôn giả A-nan nhận được một
tấm y phấn tảo quư giá[4] từ nơi một
người kia, muốn dâng cúng cho đại Ca-diếp.[5] V́ ngài Ca-diếp thường
sống hạnh đầu đà, mặc loại y này. Nhưng
lúc ấy, ngài không có ở đó. Tôn giả A-nan có ư
nghĩ: «Đức Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết
giới, ‹Tỳ-kheo nào chứa y dư, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.› Nay, ta nhận được y
phấn tảo quư giá, muốn [602a1] dâng cúng cho đại
Ca-diếp. V́ đại Ca-diếp thường sống
hạnh đầu đà, mặc loại y này. Mà ngài không có
ở đây. Không biết làm sao đây?»
A-nan
liền đến chỗ đức Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên,
bạch đức Thế tôn:
«Bạch
Thế tôn, Ngài v́ các tỳ-kheo kiết giới, ‹tỳ-kheo
nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.› Nay con
nhận được một y phấn tảo quư giá,
muốn dâng cúng lên đại Ca-diếp. V́ đại
Ca-diếp thường tu hạnh đầy đà, mặc
y phấn tảo.» Phật hỏi A-nan:
«Khi nào
Ca-diếp về?»
A-nan
bạch Phật:
«Sau mười
ngày sẽ về.»
Đức
Thế tôn v́ nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo,
tùy thuận thuyết pháp cho các tỳ-kheo, dùng vô số phương
tiện nói về thiểu dục tri túc, hạnh đầu
đà, ưa pháp xuất ly, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Từ nay
về sau cho phép chứa y dư, không quá muời ngày.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, y đă xong, ca-thi-na đă xả, cất chứa y dư,
trong mười ngày không tịnh thí được phép
chứa. Nếu quá mười ngày, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đă
xong: chỉ là ba y.[6]
Y ca-thi-na đă
xả.[7]
Y:[8] có mười loại
: y kiều-xa-da, y
kiếp-bối (vải), y khâm-bà la, y sô-ma (bố), y
sấm-ma, y phiến-na, y ma (vải gai), y bí-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni.[9]
Y dư:[10] cho đến miếng vải
chiều dài bằng tám ngón tay, chiều rộng bằng
bốn ngón tay của Như Lai trở lên đều
gọi là y dư.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y,
được chứa. Ngày thứ hai được y, cho
đến ngày thứ mười được y, được
chứa. Qua đến ngày thứ mười một, khi
b́nh minh[11] xuất hiện, tất cả
y đó trở thành ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày
thứ hai được y, ngày thứ ba không được.
Ngày thứ tư được (như vậy lần
lần lên đến ngày thứ mười không được,
xây dựng câu văn cũng như trên).[12]
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày
thứ hai, ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư
được, cho đến ngày thứ mười được
y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh
minh xuất hiện, số y nhận được trong
tám ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày
thứ hai được y, ngày thứ ba và ngày thứ tư
không được. Ngày thứ năm được, (như
vậy lần lần xuống, cho đến ngày thứ chín,
ngày thứ mười không được y, xây dựng câu
văn cũng như trên).[13]
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không được
y. Ngày thứ năm được y, cho đến ngày
thứ mười được y. Nếu đến ngày
thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện,
số y được trong bảy ngày đó, đều
phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày
thứ hai được y, ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu được
y, (như vậy chuyển, xuống cho đến ngày
thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười, không được
y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm
không được y. Ngày thứ sáu được y, cho đến
ngày thứ mười được y. Nếu đến
ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện,
số y được trong sáu ngày đó, đều
phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được. Ngày
thứ bảy được y (như vậy lần
xuống cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám,
ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y, xây dựng câu văn cũng như vậy).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu không được y. Ngày thứ bảy được
y, cho đến ngày thứ mười được y.
Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh
minh xuất hiện, số y được trong năm ngày
đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được
y. Ngày thứ tám được y (như vậy lần
xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được y. Ngày
thứ tám được y, cho đến ngày thứ mười
được y, nếu qua ngày thứ mười một,
khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong
bốn ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày
thứ tám không được y. Ngày thứ chín được
y (như vậy lần xuống cho đến ngày
thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày
thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được
y. Ngày thứ chín, ngày thứ mười được y;
số y được trong ba ngày đó, nếu đến
ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, đều
phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày
thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ
mười được y (như vậy lần
xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày
thứ chín, ngày thứ mười không được y,
xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày
thứ chín không được y. Ngày thứ mười được
y. Nếu qua ngày thứ mười một, khi b́nh minh
xuất hiện, số y được trong hai ngày đó, đều
phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư,
ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày
thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y (như vậy lần xuống cho đến ngày
thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ
sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày
thứ mười không được y, xây dựng câu văn
cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm,
ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày
thứ chín, ngày thứ mười không được y.
Nếu qua ngày mười một, khi b́nh minh xuất
hiện, số y nhận được trong một ngày đó,
đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y không
tịnh thí.[14] Ngày thứ hai được y
tịnh thí. Ngày thứ ba được y, cho đến
ngày thứ mười được y không tịnh thí. Qua
đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh
xuất hiện, số y nhận được trong chín
ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày
thứ hai được y không tịnh thí. Ngày thứ ba được
y tịnh thí. Ngày thứ tư được y không
tịnh thí (như vậy lần xuống cho đến
ngày thứ mười được y tịnh thí, không
tịnh thí, xây dựng câu văn cũng như trên).* Nếu
y bị mất (xây dựng câu văn cũng như trên).
Nếu làm phi y (đặt câu văn cũng như trên).*
Nếu với ư nghĩ là người quen biết lấy (đặt
câu văn cũng như trên).* Nếu quên đi (xây
dựng câu văn cũng như trên).* Tất cả đều
phạm ni-tát-kỳ.
Nếu y
phạm xả đọa mà không xả, đem đổi
lấy y khác, phạm một ni-tát-kỳ
ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Y xả đọa
nầy nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người,
hoặc một người. Không được xả
biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm
đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến
trong Tăng, mặc y trống vai bên hữu, cởi bỏ
giày dép, đến kính lễ Thượng tọa, quỳ
gối, chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe. Tôi, tỳ-kheo tên là..., cố ư chứa
y dư như vậy, quá mười ngày, phạm xả đọa.
Nay, tôi xả cho Tăng sử dụng.»
Xả y
rồi phải sám hối. Người thọ sám phải
tác bạch, sau đó mới thọ sám. Lời tác bạch
như sau:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe. Tỳ-kheo này tên là..., cố ư chứa
y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối
của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
như vậy xong, sau đó mới thọ sự sám
hối. Vị thọ sám nên nói với phạm nhơn
rằng:
«Hăy tự
trách tâm ông!»
Phạm nhơn
trả lời:
«Xin vâng.»
Nếu Tăng
đông, khó tập hợp, mà tỳ-kheo này có duyên sự
muốn đi xa th́ nên hỏi tỳ-kheo ấy rằng: «Y
này, ông muốn cho ai?» Tùy theo lời nói của vị ấy
mà cho, và Tăng phải hoàn y nầy lại liền cho
tỳ-kheo ấy bằng pháp bạch nhị yết-ma. Nghi
thức trao như sau:
Trong Tăng
nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo
sự việc trên tác bạch như sau:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., cố ư chứa y
dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, đem y nầy trao cho tỳ-kheo
tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại
cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là... cố ư chứa
y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng, Tăng đem y này cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo
tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng
lăo nào chấp thuận, Tăng đem y này trao cho [603a1] tỳ-kheo tên là... kia và Tỳ-kheo tên
là... kia sẽ hoàn cho tỳ-kheo này, th́ im lặng; vị nào
không đồng ư, xin nói.
«Tăng đă
chấp thuận cho Tỳ-kheo tên là... kia y nầy rồi. Tăng
chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như
vậy.»
Tỳ-kheo
này ở giữa Tăng xả y rồi, mà không được
trả lại; Tăng mắc đột-kiết-la.[15] Khi trả lại, có người
nói «đừng trả», người ấy mắc
đột-kiết-la.
Nếu tác
pháp tịnh thí,[16] hoặc gởi cho người
khác, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[17] hoặc cố ư làm cho hư
hoại, hoặc đốt cháy, hoặc làm phi y,[18] hoặc thường xuyên
mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không
phạm:
không quá mười ngày. Hoặc chuyển tịnh thí.[19] Hoặc gởi cho người.
Hoặc tưởng bị giặc cướp; hoặc tưởng
bị mất; hoặc tưởng bị cháy; hoặc tưởng
bị trôi. [Trong các trường hợp này] không tịnh
thí, không gởi cho người, không phạm.
Nếu y
bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị
trôi, lấy mặc,[20] hoặc người khác
đưa cho mặc,[21] hoặc người khác
đưa cho làm,[22] th́ người kia không
phạm.
Người
nhận gởi gắm y kia hoặc mạng chung, hoặc đi
xa, hoặc thôi tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi,
hoặc bị ác thú hại, hoặc nước trôi ch́m. Các
trường hợp như vầy mà không tác tịnh thí,
không gởi cho cho người, cũng không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế
giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo,
bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đem y gởi nơi tỳ-kheo
thân hữu để du hành trong nhân gian. Tỳ-kheo được
gởi y, thường thường đem y phơi
nắng. Các tỳ-kheo thấy, hỏi:
«Đức
Phật cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư.
Đây là y của ai?»
Tỳ-kheo
phơi y trải lời:
«Đây là y
của nhóm sáu tỳ-kheo. Họ là bạn thân của tôi, đem
gởi cho tôi, để du hành trong nhân gian. Sợ bị sâu
bọ phá nên tôi đem phơi.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao các
thầy đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; ĺa y mà du
hành trong nhân gian?»
Hiềm
trách rồi, các tỳ-kheo đến chỗ đức
Thế tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại đem y gởi cho tỳ-kheo thân
hữu; ĺa y mà du hành trong nhân gian?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm sáu
tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng
nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới
này ban đầu. Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo
kiết giới, tập mười cú nghĩa... cho đến,
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, y đă xong, y ca-thi-na đă xả, ĺa một trong ba y
ngủ đêm nơi khác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các Tỳ-kheo kiết giới như vậy,
bấy giờ có một tỳ-kheo bị bệnh càn tiêu,[24] có y phấn tảo tăng-già-lê
nặng quá. Tỳ-kheo này v́ có nhơn duyên muốn du hành
trong nhơn gian, không thể mang nó theo được,
tự nghĩ rằng: «Đức Thế tôn đă v́ các
tỳ-kheo kiết giới, không được ĺa y ngủ
đêm. Ĺa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nay ta bị bệnh càn tiêu, mà ta có y phấn tảo tăng-già-lê
quá nặng, lại có nhơn duyên muốn du hành trong nhơn
gian, không thể mang theo được. Nay ta nên như
thế nào đây?» Vị ấy nói với các tỳ-kheo đồng
bạn rằng:
«Đức
Thế tôn đă v́ các tỳ-kheo kiết giới, không được
ĺa y ngủ đêm. Ĺa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Nay tôi bị bệnh càn tiêu, mà tôi có y
phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhơn
duyên muốn du hành trong nhơn gian, không thể mang theo được.
Nay tôi nên như thế nào? Các Đại đức v́ tôi đến
bạch đức Thế tôn, Thế tôn dạy thế nào,
tôi sẽ phụng hành như vậy.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ. Đức
Thế tôn liền tập hợp các Tăng tỳ-kheo,
bảo rằng:
Từ nay
về sau, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo bệnh này pháp
bạch nhị yết-ma, kiết không mất y. Nghi
thức trao như vầy:
Tỳ-kheo
kia nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giầy dép, đến lễ Thượng
tọa, qú gối, chấp tay, bạch xin như vầy:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh
càn tiêu, phấn tảo tăng-già-lê này nặng, có nhân duyên
muốn du hành trong nhơn gian, không thể mang theo được.
Nay tôi đến xin Tăng pháp không mất y.»
Nên cầu
xin như vậy ba lần. Trong Tăng nên sai một vị
có thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh
càn tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có
nhân duyên muốn du hành trong nhơn gian, nên không thể mang
theo được, đến xin Tăng pháp không mất y.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, trao cho tỳ-kheo này pháp không mất y. Đây
là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh
càn tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có
nhân duyên muốn du hành trong nhơn gian, mà không thể mang
theo được, nay đến xin Tăng pháp không mất
y. Nay, Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y. Trưởng
lăo nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp
không mất y th́ im lặng; vị nào không đồng ư xin
nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y
rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc nầy
tôi ghi nhận như vậy.»
Từ nay
về sau sẽ nói giới như sau:
Tỳ-kheo
nào y đă xong, y ca-thi-na đă xả, ĺa
một trong ba y ngủ đêm chỗ khác, trừ tăng
yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đă
xong: đủ ba y.
Y ca-thi-na đă
xả. (như trên)
Ba y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng,
an-đà-hội.
Y: có mười loại, như
trên đă nói.
Tăng: cùng một thuyết giới,
cùng một yết-ma.
Không mất
y: trong Tăng-già-lam có một giới. Mất y: trong
Tăng-già-lam có nhiều giới.[25]
Không mất
y: cây có một giới. Mất y: cây có nhiều giới.
Không mất
y: sân[26] có một giới. Mất y: sân
có nhiều giới.
Không mất
y: xe có một giới. Mất y: xe có nhiều giới.
Không mất
y: thuyền có một giới. Mất y: thuyền có
nhiều giới.
Không mất
y: thôn có một giới. Mất y: thôn có nhiều giới.
Không mất
y: nhà có một giới. Mất y: nhà có nhiều giới.
Không mất
y: giảng đường có một giới. Mất y:
giảng đường có nhiều giới.
Không mất
y: kho chứa có một giới. Mất y: kho chứa có
nhiều giới.
Không mất
y: lẫm có một giới. Mất y: lẫm có nhiều
giới.
Tăng-già-lam: có bốn loại như trên.[27]
Cây: cao bằng người, có bóng
che đủ để ngồi kiết già.
Sân: nơi đập và phơi
ngũ cốc
Xe: chỗ đủ cho xe quay đầu
lại.
Thuyền: chỗ đủ cho chiếc
thuyền xoay lại.
Thôn: [604a1] có bốn loại
như trên.[28]
Giảng đường: có nhiều khoảng trống.
Kho: nơi chứa các vật mua
bán, ngựa xe v.v...
Lẫm: chỗ chứa ngũ cốc.
Giới
Tăng-già-lam:
giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới
Tăng-già-lam kia. Giới Tăng-già-lam này, chẳng phải
giới của cây kia. Cho đến giới của kho
chứa này chẳng phải giới của kho chứa kia,
cũng như vậy.
Giới cây
này chẳng phải giới cây kia. Cho đến giới
kho chứa, giới của Tăng-già-lam cũng như
vậy.
Giới
của sân này chẳng phải giới của sân kia. Cho đến
giới Tăng-già-lam, giới cây, cũng như vậy.
Ngoài ra xây dựng câu văn cũng như trên.
Giới
Tăng-già-lam:
ở đường biên của Tăng-già-lam, với
sức người trung b́nh, dùng đá hoặc gạch quăng
đến chỗ nào th́ nơi đó gọi là giới.[29] Cho đến giới của
kho chứa cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo để y ở trong Tăng-già-lam, lại
ngủ ở dưới gốc cây, khi b́nh minh chưa
xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay cầm y,
hoặc đến chỗ đá quăng tới. Nếu
không xả y, hoặc tay cầm y, hoặc đến
chỗ đá quăng tới; khi b́nh minh xuất hiện,
tùy theo chỗ ĺa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Trừ ba y,
ĺa các y khác, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo để
y trong Tăng-già-lam, đến chỗ sân phơi. B́nh minh chưa
xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay phải
nắm y, hoặc đến chỗ đá quăng tới.
Nếu không xả y, không đến chỗ đá quăng
tới, mà b́nh minh xuất hiện, tùy theo chỗ ĺa y
ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Cho đến
ngủ nơi kho chứa, mỗi mỗi câu cũng như
vậy. Nếu tỳ-kheo để y dưới gốc
cây, đến ngủ chỗ sân phơi lúa cho đến
ngủ nơi kho chứa, Tăng-già-lam th́ cũng như
vậy.
Không
mất y: Nếu nơi
a-lan-nhă không có giới, trong khoảng tám cây.[30] Một cây là bảy cung. Cung
pháp nước Giá-ma-lê[31] trung b́nh dài bốn khủy tay.
Nếu
tỳ-kheo nơi a-lan-nhă có thôn, để y trong khoảng
tám cây, ngủ chỗ khác, b́nh minh chưa xuất hiện.
Không xả y, tay không nắm y, hoặc không đến
chỗ đá quăng tới, khi b́nh minh xuất hiện,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trừ ba y, ĺa các y khác,
đột-kiết-la.
Y xả đọa
này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người,
hoặc một người; không được xả
biệt chúng. Nếu xả biệt chúng, không thành xả
phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, đương sự nên đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, đến
lễ Thượng tọa quỳ gối, chấp tay, thưa
như vậy:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là..., đă ĺa y ngủ,
phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng.»
Phạm nhơn
xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám hối
phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Tác bạch
như vầy:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., ĺa y ngủ,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi nhận sám hối cho vị tỳ-kheo này. Đây
là lời tác bạch.»
Bạch như
vậy rồi, sau mới nhận sám hối. Vị
nhận sám hối nên nói với phạm nhân rằng:
«Hăy tự
trách tâm ông!»
Phạm nhân
trả lời:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo này, liền bạch nhị
yết-ma. Thể thức trao lại y như vầy: trong Tăng
nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo
sự việc trên, tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., ĺa y ngủ, phạm
xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận
đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., ĺa y ngủ,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem
y nầy hoàn lại cho tỳ-kheo tên... Các trưởng lăo
chấp thuận, Tăng đem y nầy hoàn lại cho tỳ-kheo...
kia th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.
«Tăng đă
chấp thuận trao y cho tỳ-kheo... kia rồi. Tăng đă
chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như
vậy.»
Nếu
ở trong Tăng xả y rồi, mà không hoàn lại, Tăng
phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, có người
nói: đừng hoàn, người ấy phạm
đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[32]
hoặc cố làm cho hư,
hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho
hư, tất cả đều phạm
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là
phạm.
Sự
không phạm: Đă
được Tăng tác yết-ma. Khi b́nh minh chưa xuất
hiện, tay nắm y, hoặc cả y, hoặc đến
chỗ đá quăng tới, hoặc tưởng bị cưỡng
đoạt, hoặc tưởng bị mất, hoặc tưởng
bị cháy, hoặc tưởng bị nước trôi,
hoặc tưởng bị hư hoại. Nếu đường
thủy bị đứt đoạn, đường
bộ bị hiểm nạn, hoặc bị giặc cướp,
hoặc nạn ác thú, hoặc nước lên lớn,
hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị
trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không
xả y, tay không nắm tới y, không đến chỗ đá
quăng tới th́ không phạm.
Người không phạm: người phạm
đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo, y tăng-già-lê bị
cũ rách hư hoại, tự nghĩ rằng: «Thế tôn đă
v́ các tỳ-kheo kiết giới: ‹Y đă xong, y ca-thi-na đă
xả, cho phép chứa y dư trong mười ngày. Chứa
quá hạn định ni-tát-kỳ ba-dật-đề.›
Song, tăng-già-lê này của ta bị cũ hư mục,
trong ṿng mười ngày không thể may xong. Bây giờ, ta nên
như thế nào?» Vị ấy liền nói với
tỳ-kheo đồng ư rằng:
«Lành thay! Đại
đức v́ tôi bạch lên đức Thế tôn. Ngài
dạy thế nào tôi sẽ phụng hành thế ấy.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua
một bên, đem nhân duyên nầy bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn
duyên này tập hợp các tỳ-kheo và bảo:
«Từ nay
về sau cho phép các tỳ-kheo được chứa y dư,
v́ chờ cho đủ.»
Nhóm sáu
tỳ-kheo nghe đức Thế tôn cho phép chứa y dư
v́ chờ cho đủ. Họ có y phấn tảo và các
loại y khác, cùng loại mà chưa đủ, liền
lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm,
bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem đến
gởi các tỳ-kheo thân hữu rồi du hành trong nhân gian.
V́ họ đi lâu quá không trở lại, tỳ-kheo nhận
gởi sợ y ẩm ướt đem phơi. Các
tỳ-kheo thấy, hỏi:
«Thế tôn đă
chế giới, cho phép chứa ba y, không được quá.
Y nầy của ai?»
Tỳ-kheo
nhận gởi trả lời:
«Y nầy là
của nhóm sáu tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo nói: ‹Đức
Thế tôn chế giới, cho phép được chứa y
dư cho đến khi nào có đủ.› Họ có y phấn
tảo và các loại y khác, cùng loại mà chưa đủ,
nên lấy trong đó y phấn tảo, giặt và nhuộm,
bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi
cho tôi để du hành trong nhơn gian. Sợ hư mục
nên tôi đem hong phơi.»
Lúc ấy,
trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri
túc, sống hạnh đầu đà, ưa học
giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Tại sao
nói đức Thế tôn cho phép chứa y dư v́ chờ cho
đủ, mà v́ cùng loại y chưa đủ, lấy trong
đó y phấn tảo giặt và nhuộm, bốn đầu
góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo thân
hữu để du hành trong nhơn gian?»
Các
tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn v́ nhơn
duyên này tập hợp các tỳ-kheo quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Này, nhóm sáu tỳ-kheo! Tại sao Thế tôn cho
phép tỳ-kheo chứa y dư v́ chờ cho đủ, mà v́
cùng loại y [605a1] chưa đủ lại
lấy trong đó y phấn tảo giặt nhuộm,
bốn đầu điểm tác tịnh, đem gởi cho
tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhơn gian?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là
những người ngu si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu.
Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới
gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào y đă đủ, y ca-thi-na đă xả, nếu
tỳ-kheo được y vải phi thời, cần th́
nhận; nhận rồi mau chóng may thành y; đủ th́
tốt, không đủ th́ được phép chứa
một tháng v́ chờ cho đủ; nếu chứa quá
hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y đă
xong: đủ ba y
và y ca-thi-na đă xả.
Thời: không thọ y ca-thi-na th́ sau
lễ tự tứ một tháng; có thọ y ca-thi-na th́ sau
lễ tự tứ năm tháng.
Phi
thời: nếu quá
thời hạn của y nầy.
Y: có mười loại như
trên đă nói.
Nếu trong
mười ngày, cùng loại y,[34] đủ th́ nên cắt
rọc ra, lược may thành y. Hoặc tác pháp tịnh thí
hoặc khiến cho người. Nếu không cắt
rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không gởi
cho người, ngày thứ mười một, khi b́nh minh
xuất hiện, tùy theo số y (vải) nhiều hay ít,
phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu y cùng
loại không đủ, đến ngày thứ mười
một, y cùng loại mới đủ, trong ngày liền
phải cắt rọc, lược may thành y. Nếu không
cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không
sai cho người, đến ngày thứ mười hai,
khi b́nh minh xuất hiện, tùy theo số y nhiều hay ít, đều
phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Như vậy, cho đến
ngày thứ hai mươi chín cũng thế. Nếu cùng
loại y không đủ, ngày ba mươi đủ hay
không đủ, cùng loại hay không cùng loại, trong ngày đó cũng phải cắt rọc, lược may thành y,
hoặc tịnh thí, hoặc sai cho người. Nếu không
cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không
sai cho người, đến ngày thứ ba mươi
mốt, khi b́nh minh xuất hiện, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người,
hoặc một người; không được xả
biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm
đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giầy dép đến lễ Thượng
tọa, đầu gối bên hữu chấm đất,
chấp tay, bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có y như vậy,
chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa.
Nay tôi xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Người nhận sám hối
phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có y như vậy,
chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự
sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
như vậy rồi, sau đó mới nhận sự sám
hối. Khi nhận sự sám hối nên nói với phạm
nhơn rằng:
«Hăy tự
trách tâm ông!»
Phạm nhơn
đáp:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo này ngay, bằng pháp bạch
nhị yết-ma như sau: Trong Tăng nên sai một vị
có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như
vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả
đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem
y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như
vậy, chứa quá ngày như vậy, phạm xả đọa;
nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y nầy hoàn lại
cho tỳ-kheo có tên… Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng
đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... th́ im lặng. Vị
nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng
ư nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Nếu trong
Tăng, xả y rồi, không hoàn lại, phạm
đột-kiết-la. Khi hoàn lại, nếu có người
bảo «đừng trả», th́ người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu không trả lại, chuyển tịnh thí, hoặc
khiến cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm
y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt,
hoặc làm phi y, hoặc luôn luôn mặc cho hư, đều
phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề; Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là
phạm.
Sự
không phạm:
Chứa trong ṿng mười ngày. Y cùng loại đủ,
cắt rọc, lược may thành y. Cùng loại y không đủ,
đến ngày thứ mười một cùng loại y đủ,
đă được cắt rọc, lược may thành y.
Hoặc tịnh thí, sai cho người. Cho đến ngày
hai mười chín cũng như vậy. Ngày thứ ba mươi
đủ hay không đủ, cùng loại hay không đồng
loại, nội nhật phải cắt rọc, lược
may thành y, hoặc tịnh thí, sai cho người, th́ không
phạm.
Tưởng
bị đoạt, tưởng bị mất, tưởng
bị cháy, tưởng bị nước trôi mà không
cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không
sai cho người th́ không phạm. Nếu y bị đoạt,
y bị mất, y bị cháy, y bị nước trôi,
lấy mặc, hoặc người cho mặc, hoặc làm
mền th́ không phạm. Nếu tỳ-kheo nhận gởi y,
mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, bị
giặc, hoặc bị ác thú hại, hoặc bị nước
trôi không cắt rọc, không lược, không may thành y, không
sai cho người th́ không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế
giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn trúc
Ca-lan-đà, tại thành La-duyệt.
Bấy
giờ, có người thiếu nữ tên là Liên Hoa Sắc,[36] cha mẹ nàng gả nàng cho người
Uất-thiền.[37] Sau đó, nàng mang thai, muốn
trở về nhà cha mẹ. Nàng sanh được một đứa
con gái, dung mạo đoan chánh.
Liên Hoa
Sắc cùng người con gái ở chung một nhà. Trong
thời gian này, chồng của Liên Hoa Sắc tư thông
cùng với mẹ của Liên Hoa Sắc, bị đứa
tớ gái của Liên Hoa Sắc bắt gặp, và thưa
lại với Liên Hoa Sắc việc ấy. Liên Hoa Sắc
nghe sự việc như vậy, thầm nghĩ và than
rằng: «Sao con gái lại cùng với mẹ lấy chung
một chồng. Thân người con gái để làm ǵ?»
Liên Hoa Sắc đành bỏ hài nhi đang bồng trong tay,
cải trang ra đi, đến nơi thành Ba-la-nại, đứng
ngoài cửa thành. Thân h́nh đầy bụi bậm, và gót
chân bị rách. Lúc đó, trong thành có ông trưởng
giả, vợ ông vừa mạng chung, cỡi xe ra khỏi
thành Ba-la-nại, để đến công viên ngắm
cảnh. Ông trưởng giả gặp Liên Hoa Sắc đang
đứng bên ngoài cửa thành, dung mạo đoan chánh mà
thân h́nh lại đầy bụi bặm, gót chân rách nát, nên để
ư Liên Hoa Sắc. Ông liền đến trước người
nữ, hỏi:
«Cô thuộc
về ai?»
Liên Hoa
Sắc trả lời:
«Tôi không
thuộc về ai cả.»
Ông trưởng
giả lại hỏi:
«Nếu chưa
thuộc về ai th́ có thể v́ tôi làm vợ được
không?»
Liên Hoa
Sắc trả lời:
«Cũng
được.»
Ông trưởng
giả liền bảo lên xe, chở về nhà làm vợ.
Sau một
thời gian, ông trưởng giả, chồng của Liên
Hoa Sắc, tập trung nhiều của quư từ
Ba-la-nại đến nước Uất-thiền để
buôn bán. Nơi đây, lúc bấy giờ gặp ngày đại
hội, đồng nữ trong nước đến vui chơi.
Người con gái của Liên Hoa Sắc, trang sức đẹp
đẽ, cũng ở trong số đông những người
nữ đó. Thấy người con gái nầy đoan
chánh, nên ông trưởng giả để ư, liền
hỏi người bên cạnh:
«Cô gái này là
ai?»
Đáp
rằng:
«Cô gái này tên
như vậy»
Lại
hỏi:
«Nhà cô ở
đâu?»
Đáp
rằng:
«Nhà cô ở
tại chỗ ấy.»
Lại
hỏi:
«Đường
ǵ?»
Đáp
rằng:
«Đường
tên như vậy.
Trưởng
giả lại hỏi:
«Cửa ngơ
của nhà xoay về hướng nào?»
Đáp:
«Cửa ngơ
của nhà xoay về hướng ấy.»
Ông trưởng
giả liền đến nhà đó, hỏi người cha
rằng:
«Cô gái này là
con của ông phải không?»
Đáp
rằng:
«Con gái
của tôi đó.»
Lại
hỏi:
«Ông có
thể gả cho tôi không?»
Đáp
rằng:
«Vâng, có
thể được.»
Ông trưởng
giả hỏi:
«Ông cần đ̣i
bao nhiêu của?»
[606a1] Người cha của cô gái
trả lời:
«Trao cho tôi
trăm ngàn lượng vàng.»
Ông trưởng
giả bèn trao đủ số. Cha của cô gái trang điểm
cho con ḿnh.
Từ nước
Uất-thiền họ trở về Ba-la-nại. Liên Hoa
Sắc nh́n thấy liền có cảm tưởng như
đang nh́n đứa con gái ḿnh. Cô gái này thấy Liên Hoa
Sắc cũng với ư nghĩ là mẹ ḿnh. Hai người
gần gũi nhau thời gian lâu, Liên Hoa Sắc chải đầu
cho người nữ kia và hỏi rằng:
«Cô em là người
nước nào? Con gái nhà ai?»
Người nữ kia trả
lời:
«Em là người
nước Uất-thiền.»
Liên Hoa
Sắc lại hỏi:
«Nhà ở
chỗ nào? Đường nào? Cửa ngơ xoay về hướng
nào? Cha mẹ là ai?»
Người
nữ kia trả lời:
«Nhà của
em ở chỗ nọ, chỗ kia, vân vân. Cha em tên như
vậy như vậy.»
Liên Hoa
Sắc lại hỏi:
«Mẹ
của em họ ǵ?»
Nữ đáp
rằng:
«Em không
biết mẹ. Chỉ nghe người ta nói mẹ tên là
Liên Hoa Sắc. Bỏ nhà đi lúc em c̣n nhỏ.»
Lúc ấy,
Liên Hoa Sắc ḷng tự nghĩ rằng: «Đây chính là con
của ta.» Nàng tự oán trách ḿnh, «Ôi! Thân người
nữ để làm ǵ? Tại sao ngày nay, mẹ và con
lại cùng lấy một chồng?» Liên Hoa Sắc liền
bỏ nhà ra đi.
Khi Liên Hoa
Sắc đến vườn Trúc khu Ca-lan-đà nơi thành
La-duyệt, lúc bấy giờ, đức Thế tôn đang
nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Từ xa thấy
đức Thế tôn tướng mạo đoan chánh, các căn
tịch tịnh, đạt được chế ngự
tối thượng như con voi chúa đă thuần, như
nước lóng trong, không có bụi dơ, Liên Hoa Sắc phát
tâm hoan hỷ, liền đến chỗ đức Thế
tôn đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua
một bên.
Bấy
giờ, đức Thế tôn tuần tự nói pháp vi
diệu, nói về bố thí, về tŕ giới, về sanh
thiên và chê trách dục là bất tịnh; tán thán sự
xuất ly. Đức Thế tôn nói về bốn Thánh
đế: Khổ, Tập, Tận, Đạo, phân biệt
đầy đủ.
Bấy
giờ, từ chỗ ngồi, Liên Hoa Sắc đạt được
pháp nhăn tịnh. Ví như tấm lụa trắng mới và
sạch, không có bụi bẩn, dễ nhuộm màu sắc.
Liên Hoa Sắc đặng pháp thanh tịnh cũng lại như
vậy; thấy pháp, đắc pháp, đắc thành quả
chứng, bèn bước lên phía trước, bạch
Phật rằng:
«Nguyện đức
Thế tôn cho con xuất gia, ở trong pháp của Phật,
tu hạnh thanh tịnh.»
Đức
Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Ông dẫn
Liên Hoa Sắc này đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề,
cho phép cô xuất gia.»
Tôn giả
A-nan liền vâng lời đức Phật dạy, dẫn
Liên Hoa Sắc đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói
rằng:
«Đức
Thế tôn có dạy, Bà hăy độ người phụ
nữ này xuất gia.»
Liên Hoa
Sắc liền được cho phép
xuất gia.
Một
thời gian sau đó, Liên Hoa Sắc nhờ nổ lực tư
duy ngày càng tinh tấn, nên chứng đặng A-la-hán, đạt
được đại thần lực.[38]
Bấy
giờ, có số đông tỳ-kheo-ni trụ nơi chỗ
không nhàn,[39] nhưng Liên Hoa Sắc
tỳ-kheo-ni ngồi riêng trong một khu rừng khác[40] tư duy. Nơi trú xứ
của Liên Hoa Sắc, lại có tên đầu lĩnh
của bọn cướp thường ở tại đó.
Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chấp tŕ oai nghi lễ
tiết, khoan thai, nên tên đầu lĩnh giặc thấy
vậy liền sanh thiện tâm.
Thời gian
sau đó, tướng giặc bắt được
nhiều thịt heo. Ăn xong c̣n dư, gói lại đem
treo trên nhánh cây và nói: «Trong rừng này, nếu có Sa-môn,
Bà-la-môn nào, có đại thần lực th́ lấy đem đi.»
Tuy nói như vậy, nhưng tâm th́ v́ tỳ-kheo-ni Liên Hoa
Sắc.
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc nhờ thiên nhĩ nghe,
thiên nhăn thanh tịnh thấy, nên dùng tấm lụa
trắng gói thịt heo treo lên nhánh cây. Sáng ngày nói với
thức-xoa-ma-na, sa-di-ni rằng:
«Các con đến
nơi chỗ đó. Trên nhánh cây, có cái gói bằng lụa
trắng, trong đó có thịt heo. Lấy mang về.»
Cô ấy
liền đến lấy về, đưa cho
tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc. Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc bảo
nấu, rồi đến giờ ăn, tự tay ḿnh đem
lên trên núi Kỳ-xà-quật, dâng lên cúng dường các
tỳ-kheo Thượng tọa.
Bấy
giờ, có một tỳ-kheo mặc chiếc tăng-già-lê
cũ rách vá chằm. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc thấy
vậy, phát tâm từ mẫn, liền hỏi vị
tỳ-kheo rằng:
«Thưa Đại
đức! Sao Ngài mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách đến
thế?»
Vị
tỳ-kheo ấy trả lời:
«Đại
tỷ! Đây là pháp phải diệt tận, nên tệ
hại như vậy.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc đang khoác chiếc tăng-già-lê
quí giá, nên thưa với vị tỳ-kheo ấy rằng:
«Thưa Đại
đức! Con xin cúng chiếc y nầy cho Đại đức.
Đại đức cho con xin chiếc y hiện Đại
đức đang mặc có được không?» Vị
Tỳ-kheo ấy trả lời:
«Được.»
Tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc
liền cởi y tăng-già-lê trao cho tỳ-kheo và lấy chiếc y cũ rách
của tỳ-kheo mặc vào. Sau đó, Liên Hoa Sắc
mặc chiếc y cũ rách này đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân rồi đứng
qua một bên. Đức Thế tôn biết mà cố
hỏi Liên Hoa Sắc:
«Tại sao
cô mặc chiếc y cũ rách đến thế?»
Tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc liền đem nhơn duyên trên bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế
tôn bảo:
«Nầy Liên
Hoa Sắc! Cô không nên làm như vậy. Như lai cho phép cô chứa giữ năm y nguyên vẹn bền
chắc.[41] Ngoài ra c̣n dư, mới tùy ư
tịnh thí hoặc cho người. Tại sao vậy? V́ người
nữ mặc y phục thượng hạng c̣n chưa
tốt, huống chi là mặc y xấu.»
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo. Ngài biết mà cố hỏi tỳ-kheo kia
rằng:
«Thật
sự ông có nhận y từ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chăng?»
Vị
tỳ-kheo kia thưa:
«Bạch đức
Thế tôn đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
vị tỳ-kheo kia:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại nhận y từ tỳ-kheo-ni?»
Quở trách
rồi, đức Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
«Người
này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu.
Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo biết giới
gồm mười cú nghĩa, cho đến, chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vậy:
Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni,[42] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn đă v́ các tỳ-kheo kiết giới như
vậy rồi, các tỳ-kheo đều sợ nên cẩn
thận không dám nhận lấy y từ nơi tỳ-kheo-ni
thân quyến. Đức Phật dạy:
«Từ nay
về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận y từ
tỳ-kheo-ni thân quyến. Tại sao vậy? Nếu không
phải thân quyến th́ không thể trù lượng được
là nên lấy hay không nên lấy; hoặc tốt, hoặc
xấu, hoặc cũ, hoặc mới. Nếu là thân
quyến th́ trù lượng được, biết họ
có khả năng hay không, nên nhận không nên nhận,
hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc
mới.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải
thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như trên
rồi, th́ bấy giờ, trong Kỳ- hoàn, hai bộ Tăng[43] nhận được y cúng dường,
cùng chia.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo nhận nhầm y của tỳ-kheo-ni,
tỳ-kheo-ni nhận nhầm y của tỳ-kheo. Lúc bấy
giờ, tỳ-kheo-ni mới đem y đến trong Tăng-già-lam,
thưa với tỳ-kheo rằng:
«Tôi đem y
nầy đến trao cho Đại đức, Đại
đức trao y của Đại đức cho tôi.»
Các tỳ-kheo
bảo:
«Đức
Phật không cho phép chúng tôi thọ nhận y từ
tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn
bảo các tỳ-kheo:
Từ nay
về sau, cho phép trao đổi y. Muốn nói giới
phải nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải
thân quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng
phải thân quyến:[44] chẳng phải cha mẹ thân
quyến cho đến bảy đời không thân.
Thân
quyến:[45] cha mẹ thân quyến cho đến
bảy đời thân quyến.
Y: có mười loại như đă
nói ở trên.
Đổi
chác:[46] dùng y đổi y, dùng y đổi
phi y, hoặc dùng phi y đổi y, hoặc dùng kim đổi
lấy ống đồng, hoặc dao, hoặc chỉ...
cho đến một viên thuốc để đổi y.
Nếu
tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ nơi tỳ-kheo-ni chẳng
phải thân quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Vật
ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều
người, hoặc một người; không được
xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm
đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, nên đến trong Tăng, [607a1] trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, đến lễ Thượng tọa,
quỳ gối, chấp tay, tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă thọ
nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết người
thọ sám nên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là...., đă thọ
nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo nầy
tên là... Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối
nên nói với phạm nhân rằng:
«Hăy tự
trách tâm ông!»
Phạm nhơn
đáp:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả lại y cho tỳ-kheo nầy liền, bằng
bạch nhị yết-ma để trao. Tăng nên sai
một Tỳ-kheo có khả năng tác yết-ma, theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă thọ nhận
y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm
xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng; Tăng chấp thuận
trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đă thọ
nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến
phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Tăng nay đem
y này hoàn lại cho tỳ-kheo nầy tên là... Các trưởng
lăo nào đồng ư, Tăng đem y này trải lại cho tỳ-kheo
có tên này th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.
«Tăng đă
chấp thuận trao cho y cho tỳ-kheo kia tên là... rồi. Tăng
đă chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận
như vậy.»
Trước
Tăng, đă xả y rồi, mà Tăng không trả
lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả y, nếu
có người bảo «đừng
trả», người ấy phạm
đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí,
hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc
làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt,
hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho cho hư, tất
cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự
không phạm:
Thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến, hoặc đổi
chác. V́ Tăng v́ Phật đồ mà lấy th́ không
phạm.
Người
không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di có nhan
sắc đoan chánh. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà cũng
lại đoan chánh. Ca-lưu-đà-di để ư
Thâu-lan-nan-đà. Thâu-lan-nan-đà cũng để ư
Ca-lưu-đà-di.
Đến
giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát,
đến chỗ Thâu-lan-nan-đà, ngồi ngay trước
mặt, để lộ h́nh. Tỳ-kheo-ni cũng lại
ngồi để lộ h́nh. Hai bên nh́n nhau với dục
tâm. Một lúc sau, Ca-lưu-đà-di xuất đồ
bất tịnh, làm bẩn an-đà-hội. Thâu-lan-nan-đà
thấy vậy nói rằng:
«Đại
đức đưa cái y đây, tôi giặt cho.»
Ca-lưu-đà-di
liền thay đưa cho. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
nhận được y, đến chỗ vắng dùng
ngón tay lấy đồ bất tịnh cho vào miệng,
rồi lại lấy một ít cho vào trong đường
tiểu tiện, sau đó có thai. Các tỳ-kheo-ni thấy
vậy hỏi rằng:
«Cô không
biết hổ thẹn, đă làm hạnh bất tịnh.»
Thâu-lan-nan-đà
nói:
«Đại
tỷ! Tôi không phải không có hổ thẹn. Tôi không
phạm tịnh hạnh.»
Các
tỳ-kheo-ni nói:
«Nếu cô
không phạm tịnh hạnh th́ tại sao có thai? Các
tỳ-kheo-ni không phạm tịnh hạnh sao họ lại
không có thai?»
Bấy
giờ, Thâu-lan-nan-đà mới đem sự việc đă
xảy ra tŕnh bày rơ ràng với các tỳ-kheo-ni.
Trong số
các tỳ-kheo-ni nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, v́ nhơn duyên này hiềm trách
Ca-lưu-đà-di:
«Sao Tôn
giả lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm
việc như vậy?»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo đến bạch Phật.
Lúc bấy
giờ, đức Phật v́ nhơn duyên này tập hợp
các Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi
Ca-lưu-đà-di:
«Có thật
ông đă nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như
vậy chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thừa nhận là có.
Đức
Phật dùng vô số phương tiện quở trách
Ca-lưu-đà-di:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
làm việc như vậy?»
Quở trách
xong, Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú
nghĩa, cho đến, chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vậy:
«Tỳ-kheo
nào, khiến tỳ-kheo-ni giặt y cũ, hoặc nhuộm,
hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo chế giới như vậy
rồi, sau đó các tỳ-kheo đều sợ, cẩn
thận không dám khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y
cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập. Đức
Phật dạy:
«Cho phép các
tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y
cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập... »
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến
giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng
phải thân quyến: như trên đă giải.
Thân
quyến: cũng như
vậy.
Y cũ: là chỉ cần một
lần mặc qua.
Y: nói mười loại như
trên.
Nếu
tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân
quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập,
(tỳ-kheo) phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Bảo
giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni chỉ giặt
nhuộm mà không đập, (tỳ-kheo) phạm hai
ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một
đột-kiết-la.
Bảo
giặt, nhuộm, đập mà cô ni giặt, không nhuộm
mà đập, phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề,
một đột-kiết-la.
Bảo
giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni không giặt mà
nhuộm đập, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ
ba-dật-đề, một đột-kiết-la.
Bảo
giặt, nhuộm, đập, nhưng ni không giặt, không
nhuộm, không đập, (tỳ-kheo) phạm ba
đột-kiết-la.
Nếu
tỳ-kheo khiến thức-xoa-ma-na, sa-di-ni chẳng phải
thân quyến giặt nhuộm, đập y cũ,
(tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.
Nếu
bảo tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt,
nhuộm, đập y mới, (tỳ-kheo) phạm
đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người; không được xả
biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm
đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, đến lễ Thượng
tọa, quỳ gối bên hữu sát đất, chấp tay
thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, Tỳ-kheo tên là..., đă khiến
tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm,
đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho
Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết vị
thọ sám phải bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă khiến tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập
y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
có tên là... Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận
sám hối nên nói với phạm nhân:
«Hăy tự
trách tâm ông!»
Phạm nhân
đáp:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch
nhị yết-ma, như vầy: Tăng sai một vị có
thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập
y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng
chấp thuận, đem y nầy trả lại cho tỳ-kheo
có tên... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đă sai
tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm,
đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho
Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng;
Tăng chấp thuận đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo
có tên... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập
y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay
Tăng đem y này hoàn lại cho [608a1] tỳ-kheo nầy. Các trưởng
lăo nào đồng ư, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo
này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
đồng ư trao y cho tỳ-kheo tên là... rồi. Tăng đă
đồng ư nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Trong Tăng
vị tỳ-kheo này đă xả y rồi, nếu Tăng
không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi
trả lại, có người bảo «đừng trả», người ấy phạm
đột-kiết-la. Nếu không trả lại, mà
chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc đốt,
hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc mặc luôn cho
rách, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó là phạm.
Sự
không phạm: Trao y
cũ cho ni thân quyến giặt, nhuộm, đập;
hoặc v́ người bệnh mà giặt, nhuộm, đập;
hoặc v́ Tăng, Phật đồ giặt nhuộm đập;
hoặc mượn y người khác giặt, nhuộm, đập
th́ không phạm.
Người
không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống năo, bức bách.[48]
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia
chủ,[50] vào buổi sáng, thắng cỗ
xe, cùng đoàn tùy tùng đến công viên, rồi quay xe
trở lại tinh xá Kỳ-hoàn; để xe bên ngoài cửa
ngơ Kỳ-hoàn, đi bộ vào gặp Bạt-nan-đà Thích
tử; lễ kính, hỏi chào. Rồi ngồi phía
trước mặt mà nghe pháp.
Bạt-nan-đà
Thích Tử là người biện tài, trí tuệ, nói pháp khéo
léo. Ông nói pháp cho gia chủ này nghe dưới nhiều h́nh
thức khác nhau, khai hóa, khuyến khích, khiến gia chủ
sanh ḷng hoan hỷ. Gia chủ nghe pháp rồi, liền nói
với Bạt-nan-đà rằng:
«Tôn giả
cần ǵ, xin cho biết.»
Bạt-nan-đà
trả lời:
«Không
cần ǵ cả. Sự thỉnh cầu này cũng là sự
cúng dường rồi.»
Gia chủ
lại nói:
«Xin Ngài
cứ nói. Nếu cần dùng thứ ǵ, không nên ái ngại.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Thôi! Thôi!
Không phiền hỏi nữa. Giả sử tôi có
điều cần th́ gia chủ cũng không thể cho được
đâu.»
Gia chủ
lại nói:
«Xin Ngài
cứ nói. Tôi sẽ theo sự cần dùng mà cung cấp cho.»
Lúc ấy,
gia chủ này mặc chiếc áo lụa trắng, rộng
dài, quư giá. Bạt-nan-đà nói:
«Chiếc y
ông đang mặc, có thể cho tôi. Tôi cần chiếc y đó.»
Gia chủ
trả lời:
«Sáng mai đến
nhà, tôi sẽ trao cho Ngài.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Tôi đă
nói với ông trước rồi, ‹Giả sử tôi có
điều cần th́ Gia chủ cũng không thể cho được
đâu.› Điều đó bây giờ đúng như tôi đă
nói.»
Gia chủ
thưa:
«Tôi cho Ngài
chứ chẳng phải là không cho. Nhưng ngày mai hăy đến,
tôi sẽ cho y này. Hoặc cho cái khác c̣n tốt hơn
nữa. Bây giờ, nếu cởi chiếc y này dâng cho Ngài
th́ cũng được, nhưng tôi không thể không có y
mà vào thành Xá-vệ.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Thôi! Thôi! Tôi không cần nữa.»
Khi ấy,
gia chủ nổi giận, không vui, liền cởi y xếp
lại trao cho Bạt-nan-đà và nói rằng:
«Tôi đă thưa
với Đại đức là ngày mai hăy đến, tôi
sẽ cho y này, hoặc cho cái khác
c̣n tốt hơn nữa. Nhưng Đại đức
không tin, khiến cho bây
giờ tôi chỉ quấn một chiếc y[51] mà vào thành Xá-vệ.»
Rồi, gia
chủ ra khỏi tinh xá Kỳ-hoàn, lên xe, chỉ quấn
một chiếc y mà vào thành. Người giữ cửa
thấy vậy liền hỏi ông gia chủ:
«Ông từ đâu
về? Bị ai cướp y?»
Ông gia
chủ bảo:
«Vừa
bị giặc cướp trong Kỳ-hoàn.»
Lập
tức người giữ cửa liền vớ ngay dao
gậy, định đi đến Kỳ-hoàn. Gia chủ
nói:
«Thôi! Thôi! Khỏi phải đi.»
Người
giữ cửa hỏi:
«Tại sao
vậy?»
Bấy
giờ, gia chủ thuật rơ nhơn duyên. Các cư sĩ
nghe qua đều cơ hiềm rằng: «Sa-môn Thích tử
mong cầu nhiều, không biết đủ, không biết
hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp.
Như vậy th́ có chánh pháp ǵ? Sao lại đ̣i cho kỳ được
chiếc áo mà gia chủ đang mặc trên thân? Đàn-việt
cúng dường tuy không nhàm chán nhưng người thọ
nhận phải biết đủ chứ.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử: «Sao
Thầy lại đ̣i cho kỳ được chiếc áo
quư giá mà ông gia chủ đang mặc trên người?»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế
tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Phật một cách đầy đủ. Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn mới tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi
Bạt-nan-đà:
«Có thật
ông đ̣i cho được chiếc áo mà ông gia chủ đang
mặc trên người hay không?»
Bạt-nan-đà
thưa:
«Bạch
Thế tôn, có như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
Bạt-nan-đà rằng:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại đ̣i xin cho kỳ được
chiếc y mà ông gia chủ đang mặc trên ḿnh?»
Đức
Phật quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
«Bạt-nan-đà
là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu.
Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới,
gồm mười cú nghĩa, cho đến, chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vậy:
«Tỳ-kheo
nào, xin y nơi cư sĩ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận
không dám xin y nơi cư sĩ thân quyến. Đức
Phật dạy:
«Các
tỳ-kheo xin y nơi cư sĩ thân quyến, không
phạm.»
Từ nay
về sau muốn nói giới, nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, xin y nơi cư sĩ chẳng phải thân quyến,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ, có số đông tỳ-kheo ở nước
Câu-tát-la hạ an cư xong, ngày mười lăm tự
tứ rồi, ngày mười sáu mang y cầm bát đến
chỗ đức Thế tôn. V́ ban ngày nắng nóng, các
tỳ-kheo không thể đi được, mới đi
ban đêm. Họ bị lạc vào đường dữ và gặp ổ cướp. Chúng vừa
cướp đoạt được của người
một số của cải lớn đem về đó.
Bọn cướp gặp tỳ-kheo nơi
đường dữ, bèn hỏi:
«Các ông đến
đây t́m chúng tôi phải không?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Không
phải chúng tôi đi t́m các ông. Chúng tôi vừa hạ an cư
ở nước Câu-tát-la xong, ngày mười lăm tự
tứ rồi, nên ngày mười sáu mang y cầm bát
muốn đến gặp đức Thế tôn. Từ đó
đến đây. Ban ngày bị nắng nóng, chúng tôi đi
không được; đi ban đêm mới bị lạc đường
nên đến đây, chứ không phải đi t́m các ông.»
Bọn
giặc hỏi:
«Nếu các
ông không đi t́m chúng tôi th́ tại sao đi con đường
này? Há không muốn hại chúng tôi sao?»
Chúng nói xong
liền đánh các tỳ-kheo gần chết và cướp
lấy y bát. Các tỳ-kheo phải trần truồng mà đi;
đến đứng ngoài cổng Kỳ-hoàn. Các
tỳ-kheo thấy vậy nói rằng:
«Quư vị
là Ni-kiền-tử lơa h́nh, không được vào trong
Kỳ-hoàn.»
Các
tỳ-kheo kia nói rằng:
«Chúng tôi
chẳng phải Ni-kiền-tử. Mà là Sa-môn Thích tử.»
Khi ấy,
Tôn giả Ưu-ba-ly đang kinh hành cách đó không xa, các tỳ-kheo đến hỏi Tôn giả rằng:
«Hiện có
một đám người trần truồng đang đứng
ngoài cửa ngơ. Chúng tôi nói, ‹Các Tôn giả là Ni-kiền-tử, chớ vào tịnh xá
Kỳ-hoàn.› Những người ấy nói, ‹Chúng tôi không
phải Ni-kiền-tử mà là sa-môn Thích tử.›»
Rồi các
tỳ-kheo nói với Tôn giả [609a1] Ưu-ba-ly rằng:
«Tôn giả
nên ra xem, coi thử họ là ai?»
Tôn giả
liền ra ngoài cổng, hỏi:
«Quư vị
là ai?»
Đáp
rằng:
«Chúng tôi là
Sa-môn Thích tử.»
Lại
hỏi:
«Quư vị
bao nhiêu tuổi?»
Đáp
rằng:
«Chúng tôi
chừng ấy tuổi.»
Lại
hỏi:
«Quư vị
thọ giới khi nào?»
Đáp
rằng:
«Chúng tôi
thọ giới năm ấy.»
Lại
hỏi:
«Ḥa thượng
của quư vị là ai?»
Đáp
rằng:
«Ḥa thượng
của chúng tôi hiệu là như vậy.»
«Tại sao
quư vị lại trần truồng?»
Các
tỳ-kheo liền tŕnh bày đầy đủ nhơn duyên
đă xảy ra. Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly trở
lại chỗ các tỳ-kheo nói:
«Những
vị đó chẳng phải là Ni-kiền-tử mà là sa-môn
Thích tử.»
Rồi Tôn
giả Ưu-ba-ly bảo các tỳ-kheo đó rằng:
«Các Thầy
nên tạm mượn y để mặc. Chớ nên
trần truồng đến gặp đức Thế tôn.»
Các
tỳ-kheo liền mượn y mà khoác vào, rồi đến
chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ
dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy
giờ, đức Thế tôn an ủi và hỏi các
tỳ-kheo:
«Các
ngươi thân được an ổn không? Đi
đứng có được ḥa hợp an lạc không? Không
v́ sự ăn uống mà khổ chăng?»
Các
tỳ-kheo thưa:
«Bạch Đại
đức, chúng con thân được an ổn. Đi
đứng có được ḥa hợp an lạc. Không v́
sự ăn uống mà khổ. Chúng con ở nước
Câu-tát-la an cư xong, tự tứ rồi, mang y cầm bát,
muốn đến thăm hỏi đức Thế tôn. Ban
ngày v́ nắng nóng không đi được, đi ban đêm
nên bị lạc đường, gặp bọn ăn cướp...»
Tŕnh rơ nhơn duyên đầy đủ như trên với đức
Thế tôn.
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương
tiện quở trách các tỳ-kheo rằng:
«Các ông làm
việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh,
chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không
nên làm. Các ông là người ngu si, tại sao trần
truồng mà đi? Nếu trần truồng mà đi,
phạm đột-kiết-la. Nếu gặp trường
hợp như vậy nên dùng cỏ mềm hay lá cây che ḿnh, đến
chùa gần nhất. Trước hết, có y dư th́ nên
lấy để mặc. Nếu không có th́ hỏi các
tỳ-kheo quen biết, có y dư nên mượn để mặc.
Nếu bạn quen biết không có y, nên hỏi trong Tăng
có y nào có thể chia. Nếu có th́ chia, c̣n không có th́ nên
hỏi có ngọa cụ hay không? Nếu có ngọa cụ
th́ đưa, nếu không có đưa cho th́ tự ḿnh
mở kho xem có mền, đồ trải đất, điệp,
chăn... trích lấy, cắt thành y dùng để tự che
thân, rồi ra ngoài mà đi xin y.»
Khi ấy
các tỳ-kheo cẩn thận, sợ không dám đem vật
từ chỗ này đến chỗ khác. Đức Phật
dạy:
«Cho phép.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y
bị cháy, y bị trôi, v́ cẩn thận sợ không dám
mặc y của Tăng. Đức Phật dạy:
«Được
phép mặc.»
Các
tỳ-kheo nhận được y rồi, không trả
lại chỗ cũ cho Tăng. Phật dạy: «Không nên như
vậy. Nếu nhận được y rồi nên giặt
nhuộm, chằm vá, an trí lại chỗ cũ. Nếu không
an trí lại chỗ cũ th́ như pháp mà trị.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y
bị cháy, y bị trôi, cẩn thận sợ không dám đến
nơi cư sĩ, vợ cư sĩ không thân quyến xin
y. Đức Phật dạy: «Nếu y bị mất, y
bị cướp, y bị cháy, y bị nước
cuốn trôi th́ được phép đến nơi cư
sĩ hay vợ cư sĩ không thân quyến xin y.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không
phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề,
trừ trường hợp đặc biệt.[52] Trường hợp đặc
biệt là nếu tỳ-kheo y bị cướp, y bị
mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi.[53]
Đây là trường
hợp đặc biệt.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thân
quyến, chẳng phải thân quyến: như trên đă giải.
Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng đă nói ở trên.
Y: có mười loại như trên đă tŕnh bày.
Nếu
tỳ-kheo nào xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ
không phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề,
trừ trường hợp đặc biệt.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người; không được xả
biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho tăng, nên đến trong Tăng trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, đến lễ Thượng
tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă xin y từ
cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết người
nhận sám hối phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ
cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này.
Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận
sám hối nên nói với tỳ-kheo kia rằng:
«Thầy nên
tự trách tâm ḿnh!»
Trả
lời:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho người này liền, bằng bạch
nhị yết-ma như
vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng
tác yết-ma, đựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ
cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận, đem
y này hoàn lại cho tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ
cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem
y này hoàn lại cho tỳ-kheo nầy. Các trưởng lăo nào
chấp thuận Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo
nầy th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đă
chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Phạm nhơn
xả y trong Tăng rồi, Tăng không hoàn lại,
phạm đột-kiết-la. Khi hoàn y lại, có người
bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu không
hoàn lại, mà chuyển làm tịnh khí, hoặc sai cho người,
hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc
cố làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc
mặc luôn cho rách, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là
phạm.
Sự
không phạm: y
bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị nước
cuốn trôi, được phép xin y từ cư sĩ,
vợ cư sĩ không phải thân quyến, hoặc xin nơi
người đồng xuất gia, hoặc xin v́ người
khác, hay người khác xin v́ ḿnh. Hoặc không mong cầu mà
được th́ không phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo đến
tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp
mất y.
Bấy
giờ, có ưu-bà-tắc nghe có số đông tỳ-kheo đến
tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp
mất y, liền đem nhiều y tốt đến
chỗ các tỳ-kheo, hỏi:
«Vừa
rồi nghe có các tỳ-kheo bị mất y đến đây,
là những vị nào?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Chính chúng
tôi. Vậy hỏi có việc ǵ?»
Vị
ưu-bà-tắc thưa:
«Chúng con nghe
các tỳ-kheo gặp giặc cướp, cướp
mất y, đă đến nơi Kỳ-hoàn nầy, nên đem
những y này đến dâng cúng các Đại đức
bị mất y. Xin các Ngài tùy ư nhận.»
Các
tỳ-kheo nói:
«Thôi! Thôi! Thỉnh cầu như thế đă
là cúng dường rồi. Chúng tôi đă đủ ba y,
khỏi phải nhận nữa.»
Nhóm sáu
tỳ-kheo nghe thế, nói với các tỳ-kheo rằng:
«Này các Đại
đức, các Ngài đủ ba y rồi, sao không nhận để
cho chúng tôi, hay là cho người khác.»
Các cư
sĩ đă v́ các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến
cúng. Các tỳ-kheo đủ ba y rồi lại nhận y
của cư sĩ rồi cho nhóm sáu tỳ-kheo và người
khác.
Bấy
giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị
thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa
học giới, biết tàm quư, hiền trách các tỳ-kheo:
«Cư sĩ nơi Xá-vệ đă v́ các tỳ-kheo bị
mất y nên đem y đến cúng. Các vị đủ ba y
rồi, tại sao lại lấy y của họ đem cho
nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?» Hiềm trách xong,
tỳ-kheo thiểu dục đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem [610a1] nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp các tỳ-kheo
lại. Ngài biết mà vẫn cố hỏi:
«Này các
tỳ-kheo, có thật các ngươi đă đủ ba y mà
nhận y của người, đem cho nhóm sáu tỳ-kheo và
các người khác không?»
Các
tỳ-kheo thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, có thật như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các
tỳ-kheo:
«Các ông làm
việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh,
chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không
nên làm. Cư sĩ Xá-vệ đă v́ các tỳ-kheo bị
mất y nên đem y đến cúng, tại sao các
ngươi đủ ba y rồi lại nhận y của
họ để cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?»
Quở trách
rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Các
tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi
trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm
giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta v́ các
tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú nghĩa,
cho đến câu chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, y bị mất, y bị cướp, y bị cháy, y
bị nước cuốn trôi, nếu có cư sĩ,
vợ cư sĩ không phải thân quyến, đem cho
nhiều y yêu cầu tùy ư nhận. Tỳ-kheo ấy nên
biết đủ mà nhận. Nếu nhận quá,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Chẳng
phải thân quyến: cư sĩ, vợ cư sĩ.
Y: có mười loại cũng như trước đă
nói.
Nếu
mất một y, không nên nhận. Nếu mất hai y c̣n
lại một y hai lớp, ba lớp, bốn lớp, th́ nên
tháo ra làm tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng hay an-đà-hội.
Nếu ba y đều bị mất th́ tỳ-kheo ấy nên
tri túc mà nhận y. Tri túc có
hai nghĩa: tri túc của người tại gia và tri túc
của người xuất gia.
- Tri túc của người tại gia: tùy theo khả năng của
người bạch y cho y mà nhận.
- Tri túc của người xuất
gia: tức ba y
vậy.
Nếu cư
sĩ yêu cầu tùy ư,[55] cúng nhiều y cho tỳ-kheo,
hoặc y mịn, hoặc y mỏng, hoặc y không bền
chắc th́ nên xếp lại hai lớp, ba lớp, bốn
lớp để may. Trên vai nên xếp một miếng để
ngăn mồ hôi và làm khâu hoàn. Nếu c̣n dư, hăy nói
với cư sĩ, «Vải này c̣n dư, nên cắt làm ǵ?»
Nếu người đàn-việt bảo, «Không phải tôi
v́ vấn đề mất y dâng cúng, mà do tự nguyện,
xin được dâng cúng cho Đại đức.» Vị
kia muốn nhận th́ cứ nhận. Nếu tỳ-kheo
nhận y quá mức tri túc, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc số đông, hoặc
một người; không được xả biệt
chúng. Nếu xả, không thành xả phạm
đột-kiết-la.
Khi xả
nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, đến lễ Thượng tọa,
quỳ gối hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă nhận
y quá mức tri túc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă nhận quá
mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối
của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám
nên nói với Tỳ-kheo phạm tội là:
«Thầy nên
tự trách ḷng ḿnh!»
Tỳ-kheo
phạm tội trả lời:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị
yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có
khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă nhận
quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho
tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă nhận
quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo
ấy. Các trưởng lăo nào đồng ư đem y này hoàn lại
cho tỳ-kheo ấy th́ im lặng. Vị nào không đồng
ư xin nói. Tăng đă chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo
có tên là... rồi.»
«Tăng đă
chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo có tên là... rồi.
V́ im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
ấy đă xả y trong Tăng rồi mà Tăng không
trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Khi
hoàn lại, có người bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu không
hoàn lại mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc
cố ư làm cho hư, hoặc đốt, hoặc mặc măi
cho rách, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Đó gọi là
phạm.
Sự
không phạm:
nếu tri túc nhận, hoặc dưới mức tri túc,
hoặc cư sĩ cúng nhiều y, hoặc mịn mỏng,
không bền chắc xếp hai, ba, bốn lớp may thành y, đặt
một miếng ngăn mồ hôi, may khâu hoàn. Nếu y
(vải) c̣n dư, nói với cư sĩ: «Vải c̣n dư,
làm ǵ?» Nếu cư sĩ nói: «Không phải tôi v́ mất y mà
cúng, do tôi tự nguyện muốn dâng cúng cho Đại đức.»
Họ nói như vậy, tỳ-kheo cần th́ nhận, không
phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ.
Bấy
giờ, có một tỳ-kheo khất thực, đến
giờ, đắp y, bưng bát vào thành Xá-vệ, đến
nhà cư sĩ xin thức ăn, nghe vợ chồng cư
sĩ cùng bàn tính, «Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để
mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến
dâng cúng cho tỳ-kheo kia.» Tỳ-kheo khất thực rồi
trở về Tăng-già-lam, gặp Bạt-nan-đà Thích
tử, bảo rằng:
«Chưa có
người nào trong gịng họ Cù-đàm có đại phước
đức như ngài.»
Bạt-nan-đà Thích tử
liền hỏi:
«Tôi có
việc ǵ mà nói tôi là người phước đức?»
Vị
tỳ-kheo khất thực trả lời:
«Tôi vào trong
thành khất thực, nghe vợ chồng cư sĩ cùng bàn
tính như vầy, ‹Bạt-nan-đà Thích tử là bạn
quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để
mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến
dâng cúng.›»
Bạt-nan-đà
liền hỏi:
«Có đúng
như vậy hay chăng?»
Vị
tỳ-kheo ấy trả lời:
«Đúng như
vậy.»
Bạt-nan-đà
lại hỏi:
«Nhà cư
sĩ kia ở chỗ nào, cửa hướng nào?»
Tỳ-kheo
khất thực trả lời:
«Nhà cư
sĩ ấy ở chỗ đó, cửa ngơ xoay về hướng
đó.»
Bạt-nan-đà
liền nói với tỳ-kheo khất sĩ rằng:
«Vâng, người
đó là bạn thân quen của tôi xưa kia, là đàn-việt
thường cúng dường tôi, đúng như lời
của thầy nói.»
Sáng sớm
hôm sau, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành
Xá-vệ, đến nhà cư sĩ nói rằng:
«Có phải
Cư sĩ muốn cho tôi y không?»
Cư sĩ
nói:
«Tôi có bàn
tính riêng như vậy.»
Bạt-nan-đà
nói với cư sĩ:
«Nếu
muốn cho tôi y th́ nên may dài, rộng, loại bền
chắc, tốt đẹp mới đúng loại y tôi
thọ tŕ. Nếu không đúng, tôi không nhận, th́ may làm ǵ.»
Lúc ấy, cư
sĩ kia liền cơ hiềm rằng:
«Sa-môn Thích
tử không có tàm quư, nhiều mong cầu không biết chán,
bên ngoài tự xưng rằng ‹Tôi biết chánh pháp›; nhưng
lại cưỡng bức người, đ̣i hỏi y
tốt. Như vậy làm ǵ có chánh pháp? Người cho tuy
không biết nhàm chán nhưng người nhận phải
biết đủ chứ. Người ta bàn tính riêng tư
mà lại ŕnh nghe là sao!»
Lúc ấy,
có tỳ-kheo khất thực nghe, hiềm trách
Bạt-nan-đà Thích tử:
«Tại sao
lại cưỡng bức người đ̣i cho được
y tốt như vậy?»
Tỳ-kheo
khất thực liền ra khỏi thành, về đến
trong Tăng-già-lam, đem nhơn duyên này đến nói
với các tỳ-kheo.
Trong số đó,
có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách
Bạt-nan-đà Thích tử:
«Tại sao
Thầy cưỡng bức người, đ̣i cho được
y tốt như vậy?»
Hiềm
trách xong, vị ấy đến chỗ đức Thế
tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ.
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn v́ nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích
tử:
«Ông làm điều
sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm
việc không nên làm. Tại sao đến người cưỡng
bức đ̣i cho được y tốt như vậy?»
Quở trách
rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay
về sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười
cú nghĩa... cho đến câu chánh pháp tồn tại lâu
dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ để dành
tiền sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: ‹Mua y như
thế cho tỳ-kheo có tên như thế.› Tỳ-kheo ấy
liền đến nhà cư sĩ nói như vầy: ‹Lành
thay cư sĩ, nên v́ tôi mua y như vậy, như vậy.›
V́ muốn đẹp. Nếu nhận được y,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ có cư sĩ muốn dâng cúng y theo ư
muốn của tỳ-kheo, nên hỏi:
«Đại
đức cần loại y nào?»
Tỳ-kheo
ấy nghi ngại, không dám trả lời. Đức
Phật dạy:
«Nếu cư
sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ư, th́ nên trả lời.»
Lại có cư
sĩ muốn cúng cho tỳ-kheo y quư giá, mà tỳ-kheo kia là
vị thiểu dục tri túc, không cần loại y đại
quư giá này, mà muốn cần loại y không quư giá. Tỳ-kheo
kia ư nghi ngại không muốn nói lên ư của ḿnh. Đức
Phật dạy:
«Cho phép các
tỳ-kheo thiểu dục tri túc yêu cầu loại y không
quư giá.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ[57] để dành tiền
sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: ‹Mua y như thế cho tỳ-kheo
có tên như thế.› Tỳ-kheo ấy trước không được
yêu cầu tùy ư mà đến nhà cư sĩ nói như
vầy: ‹Lành thay cư sĩ, nên v́ tôi mua y như vậy, như
vậy.› V́ muốn đẹp. Nếu nhận được
y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trước đă
giải.
Tiền sắm y:[58] giá tiền để sắm y,
hoặc vàng bạc, trân châu, lưu ly, vỏ ṣ, ngọc
thạch, anh lạc, vàng y.
Y: có mười loại như trước đă nói.
Cầu xin:[59] có hai cách. Một là cầu xin tiền để
mua y, hai là cầu xin y.
- Cầu xin số tiền để
may y: đàn-việt
cúng để may y với giá lớn chừng ấy mà
cầu xin thêm, dù chỉ 1 phần 16 tiền.
- Cầu xin y: nói với người cư sĩ,
may pháp y dài, rộng như vậy, cho đến dù xin thêm
một sợi chỉ.
Tỳ-kheo
nầy trước không được yêu cầu tùy ư mà đến
cầu y quư giá dài rộng, nếu nhận được
y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Cầu mà không nhận được,
phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc
một người, không được xả biệt
chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, đến lễ Thượng
tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước
không được yêu cầu tùy ư cúng dường y mà đến
cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi nên sám hối. Vị nhận sám hối trước
hết phải bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước
không được yêu cầu tùy ư cúng dường y, mà đến
cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
có tên... Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi sau đó mới nhận sự sám hối. Vị
nhận sự sám hối nên bảo tỳ-kheo phạm
tội rằng:
«Hăy tự
trách tâm của ḿnh!»
Tỳ-kheo
phạm tội nói:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch
nhị yết-ma, như vầy: Trong Tăng nên sai một
vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước
không được yêu cầu tùy ư khi cúng dường y mà đến
cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, nay Tăng hoàn y này lại cho tỳ-kheo có
tên... đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo có tên... này trước
không được yêu cầu tùy ư khi cúng dường y, mà đến
cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo nầy.
Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem y này trả
lại cho tỳ-kheo nầy th́ im lặng. Vị nào không đồng
ư xin nói.»
«Tăng đă chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo tên là... rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
nầy đối với trong Tăng đă xả y rồi
mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la.
Khi đang trả có người bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu không
trả lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc
có làm cho hư hoại, hoặc đốt hay mặc măi cho
rách, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là
phạm.
Sự
không phạm: trước
đó có yêu cầu tùy ư nên đến cầu xin, tri túc, mong
cầu tối thiểu; đến cầu mong nơi thân
quyến; đến cầu xin nơi người xuất
gia, hoặc v́ người mong cầu hay người v́ ḿnh
mong cầu; hoặc không cầu mà được th́ không
phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá-vệ.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo khất thực, đến giờ,
đắp y bưng
bát vào thành Xá-vệ khất thực; theo thứ tự đến
nhà một cư sĩ, nghe hai vợ chồng cư sĩ
cùng bàn: «Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa
kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.» Lại nghe
một nhà cư sĩ khác, hai vợ chồng cũng cùng
bàn: «Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước kia
của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.»
Bấy
giờ, vị tỳ-kheo khất thực kia, khi khất
thực xong, ra khỏi thành Xá-vệ, trở về đến
trong Tăng-già-lam, thấy Bạt-nan-đà Thích tử
liền nói rằng:
«Tôn giả
là người đại phước đức.»
Bạt-nan-đà
hỏi:
«V́ việc
ǵ mà thầy gọi tôi là người đại phước
đức?»
Tỳ-kheo
khất thực trả lời:
«Vừa
rồi tôi vào thành Xá-vệ khất thực, theo thứ
tự đến một nhà cư sĩ, nghe hai vợ
chồng cùng bàn, ‹Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen
biết xưa kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.›
Lại nghe một nhà cư sỹ khác, hai vợ chồng
cũng cùng bàn, ‹Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước
kia của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.›»
Bạt-nan-đà
liền hỏi:
«Có chắc
như vậy không?»
Vị
tỳ-kheo khất thực nói:
«Chắc.»
Bạt-nan-đà
lại hỏi:
«Nhà của
cư sĩ ấy ở chỗ nào? Cửa hướng nào?»
Vị
tỳ-kheo khất sĩ trả lời:
«Nhà ở
chỗ đó, cửa hướng đó.»
Bạt-nan-đà
nghe xong liền nói với vị tỳ-kheo kia rằng:
«Đúng
vậy, đó là nhà đàn-việt của tôi, thường
cúng dường cung cấp cho tôi.»
Sáng ngày sau,
Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ, đến
nhà của hai cư sĩ nói rằng:
«Quư vị
có ư định muốn cho tôi y phải không?»
Các cư
sĩ trả lời:
«Trong
chỗ riêng tư tôi có bàn tính như vậy.»
Thích tử
Bạt-nan-đà nói:
«Nếu
muốn cho tôi y th́ có thể chung lại may một y,
rộng dài, bền chắc theo kiểu tôi thọ tŕ cho tôi.
Nếu không đúng kiểu tôi thọ tŕ th́ chẳng
phải là thứ tôi cần.»
Cư sĩ
nghe như vậy liền cùng nhau cơ hiềm:
«Bạt-nan-đà
Thích tử không biết đủ, không có tàm quư, bên ngoài
tự xưng rằng ‹Tôi biết chánh pháp›; nhưng lại
tham cầu không biết đủ. Như vậy làm ǵ có
chánh pháp? Người cho tuy không biết nhàm chán nhưng người
nhận phải biết đủ chứ. Người ta
bàn tính riêng tư mà lại ŕnh nghe là sao!»
Bấy
giờ, tỳ-kheo khất thực nghe như vậy,
quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
«Tại sao đến
người cưỡng bức đ̣i y?»
Lúc ấy,
tỳ-kheo khất thực nọ ra khỏi thành, đến
Tăng-già-lam, đem nhơn duyên này nói với các
tỳ-kheo.
Trong số
các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm
quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử: «Tại sao đến
người cưỡng bức đ̣i y?»
Quở trách
rồi, vị ấy đến chỗ đức Thế
tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, tŕnh bày đầy
đủ lên đức Thế tôn.
[612a1]
Đức Thế
tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,
quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
«Ông làm điều
sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận, làm việc chẳng nên làm. Sao lại đến
người cưỡng bức đ̣i hỏi y?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Bạt-nan-đà
này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu.
Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới
gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ để dành
tiền sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‹Ta
để dành tiền may y như vậy dâng cúng cho
tỳ-kheo có tên như vậy.› Tỳ-kheo ấy đến
hai nhà cư sĩ, nói như vầy: ‹Lành thay, để dành
tiền như vậy, như vậy để sắm y cho
tôi. Hăy chung lại làm một cái y.› V́ muốn đẹp. Nếu
nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ, có cư sĩ dâng cúng y theo ư
muốn của tỳ-kheo, hỏi rằng:
«Ngài cần
thứ y nào?»
Tỳ-kheo
nghi ngại không dám trả lời. Phật dạy:
«Nếu cư
sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ư, th́ tỳ-kheo nên trả
lời.»
Bấy
giờ, các cư sĩ v́ tỳ-kheo may y quư giá để
cúng, mà tỳ-kheo đó là vị thiểu dục tri túc, không
muốn mặc y quư giá, cần chiếc y không quư giá, mà
tỳ-kheo nghi ngại không dám nói lên ư muốn của ḿnh, đức
Phật dạy:
«Cho phép các
tỳ-kheo thiểu dục tri túc được nói lên ư
muốn của ḿnh về y không quư giá bằng.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ[61] để dành tiền
sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‹Ta để
dành tiền may y như vậy dâng cúng cho tỳ-kheo có tên như
vậy.› Tỳ-kheo ấy trước chưa nhận được
sự yêu cầu tùy ư của cư sĩ, mà đến hai
nhà cư sĩ, nói như vầy: ‹Lành thay, để dành
tiền như vậy, như vậy để sắm y cho
tôi. Hăy chung lại làm một cái y.› V́ muốn đẹp. Nếu
nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư
sĩ, vợ cư sĩ, y giá, y, t́m cầu đều như trước đă
giải.
Nếu
tỳ-kheo trước đó không nhận được
sự yêu cầu tùy ư mà đến t́m cầu y quư giá,
rộng lớn, nhận được y, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Nếu đến đ̣i mà không được,
phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, đến lễ Thượng tọa,
quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay
bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước đó
không nhận được sự yêu cầu tùy ư mà đến
t́m cầu, được y quư giá phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết, vị
nhận sám hối nên tác bạch:
«Đại đức
Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó
không nhận được sự yêu cầu tùy ư mà đến
t́m cầu, được y quư giá, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự
sám hối của tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám
nên bảo tỳ-kheo kia:
«Hăy tự
trách tâm ḿnh!»
Vị
tỳ-kheo phạm tôi thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo kia liền, bằng bạch
nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một
vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó
không nhận sự yêu cầu tùy ư mà đến đ̣i hỏi
được y quư giá, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, trả y lại cho tỳ-kheo
này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó
không nhận sự yêu cầu tùy ư, đến đ̣i hỏi
được y quư giá, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo
này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem y này
trả loại cho tỳ-kheo nầy th́ im lặng. Vị
nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trao y cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng
ư nên im lặng. Việc nầy được ghi nhận
như vậy.»
Tỳ-kheo này
xả y giữa Tăng rồi, Tăng không trả lại,
phạm đột-kiết-la. Nếu có người
bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu làm
tịnh thí, hoặc sai cho người, hay tự làm ba y,
hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư
hoại, tất cả như vậy đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
Ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
vị ấy trước đó có nhận sự yêu cầu
tùy ư mà đến đ̣i hỏi. Hoặc đối với
y quư giá mà đ̣i xin y không quư giá.
Hoặc đến
thân lư cầu xin, đến người xuất gia cầu
xin, hoặc v́ người khác cầu xin y, hay người
khác v́ ḿnh cầu xin y, hoặc không cầu xin mà tự được
th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá- vệ.
Bấy
giờ, trong thành La-duyệt có một vị Đại thần
là thân hữu của Bạt-nan-đà Thích tử, thường
tới lui với nhau, đă sai sứ đem số tiền
may y đến chỗ Bạt-nan-đà Thích tử dặn rằng:
«Bạt-nan-đà
Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta, ta thường
kính trọng. Hăy đem số tiền sắm y này mua y như
vậy dâng cúng.»
Người
sứ giả đem số tiền sắm y đến
trong Tăng-già-lam chỗ ở của Bạt-nan-đà, thưa
như vầy:
«Lành thay!
Ngài là người đại phước.»
Bạt-nan-đà
hỏi:
«Có việc
ǵ người nói tôi là đại phước đức?»
Sứ
giả thưa:
«Trong thành
La-duyệt có vị Đại thần sai tôi đem số
tiền sắm y này đến mua y như vậy dâng cúng
cho ngài.»
Bạt-nan-đà
hỏi:
«Có thật
vậy không?»
Sứ
giả thưa:
«Có thật.»
Bạt-nan-đà
liền hỏi:
«Nhà vị Đại
thần ở chỗ nào? Cửa ngơ về hướng nào?»
Sứ
giả thưa:
«Nhà vị Đại
thần ở chỗ đó, cửa ngơ về hướng đó.»
Bạt-nan-đà
nghe xong, nói:
«Đúng như
lời của ông nói, Đại thần ấy là bạn
quen biết xưa kia của tôi, là đàn-việt thường
cúng dường thừa sự tôi.»
Bấy
giờ, trong thành Xá-vệ lại có một trưởng
giả quen thân cùng Bạt-nan-đà, thường lui
tới. Bạt-nan-đà dẫn người sứ giả
ấy vào trong thành Xá-vệ, đến nhà ông trưởng
giả kia nói:
«Trong thành
La-duyệt có một vị Đại thần sai
người sứ này đem y giá này đến cho tôi
để may y. Xin ông vui ḷng giữ giùm.»
Ông trưởng
giả liền nhận giữ giùm.
Một
thời gian sau đó, vị Đại thần hỏi người
sứ giả rằng:
«Trước
đây ta đă bảo ngươi đem số tiền
sắm y cúng cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà đă v́ ta
mặc chiếc y ấy chưa?»
Người
sứ giả thưa:
«Không
thấy Bạt-nan-đà mặc.»
Vị Đại
thần liền bảo sứ giả đến nói với
Bạt-nan-đà rằng:
«Trước
đây tôi có sai sứ đem số tiền sắm y đến
cúng cho Ngài. Rốt cuộc Ngài không mặc y của tôi; Ngài
dùng nó làm ǵ? Nay xin được nhận lại.»
Khi Bạt-nan-đà
nghe nói như vậy liền vội vàng đến nhà ông trưởng
giả, nói:
«Trước
đây tôi có gửi số tiền sắm y. Nay tôi cần y, nên đi may y cho tôi.»
Thời gian
ấy, trong thành Xá-vệ, các vị trưởng giả
lại bận họp, mà trước đó đă có quy
chế, ai không họp phải bị phạt năm trăm
tiền.[63] Ông trưởng giả thưa
rằng:
«Theo nội
quy của đại hội th́ ai không đến họp
phải bị phạt năm trăm tiền. Bây giờ,
tôi xin phép đến họp. Đại đức chờ
một chút, tôi họp xong sẽ trở về. Đại đức
đừng để cho tôi bị phạt năm trăm
tiền.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Không được.
Trước hết, ông nên đem số tiền sắm y
đi may y cho tôi.»
Bấy
giờ, ông trưởng giả đành phải đem
số tiền sắm y v́ Bạt-nan-đà mà may thành y.
Bấy giờ, phiên họp đă măn, ông trưởng
giả bị phạt năm trăm tiền v́ không dự
họp. Ông trưởng giả cơ hiềm: «Sa-môn Thích
tử đă làm cho hội nghị phạt tôi năm trăm
tiền.» Bấy giờ, các cư sĩ trong thành Xá-vệ
không tin Phật pháp cùng nhau cơ hiềm:[613a1] ‹Sa-môn Thích tử không biết
tri túc, không có tàm quư, bên ngoài tự xưng là ta biết chánh
pháp. Nhưng như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp? Họ làm cho
ông trưởng giả không đến họp bị
phạt năm trăm tiền. Từ nay về sau, chúng ta
không nên gần gũi lễ bái, chào hỏi thừa sự
cúng dường.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, quở trách Bạt-nan-đà: ‹Sao Thầy
khiến cho đại hội phạt ông trưởng
giả năm trăm tiền?›
Rồi đến
chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, bạch lên đức Thế tôn một cách đầy
đủ. Đức Thế tôn v́ nhơn duyên này tập
hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà:
«Ông làm điều
sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này
Bạt-nan-đà, sao lại làm cho ông trưởng giả
bị đại hội phạt năm trăm tiền?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
Bạt-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười
cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn tại lâu dài.
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, hoặc Vua, hoặc Đại thần, hoặc
bà-la-môn, hoặc cư sĩ, hay vợ cư sĩ, sai
sứ mang tiền sắm y đến tỳ-kheo bảo
rằng: ‹hăy mang số tiền sắm y
như vậy cho tỳ-kheo có tên như vậy.› Người
sứ giả kia đến chỗ tỳ-kheo, nói với
tỳ-kheo rằng: ‹Đại đức, nay tiền
sắm y này được gởi đến ngài, ngài hăy
nhận.› Tỳ-kheo ấy nên nói với người kia
rằng: ‹Tôi không được phép nhận tiền may y
này, khi nào cần y hợp thời và thanh tịnh tôi sẽ
nhận.› Vị sứ kia nên hỏi tỳ-kheo rằng:
‹Đại đức có người chấp sự không?›
Tỳ-kheo cần y nên nói: ‹có›, và chỉ người
dân trong Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc, nói rằng:
‹Đó là người chấp sự của tỳ-kheo, thường
chấp sự cho các tỳ-kheo.› Bấy giờ sứ
giả đến chỗ người chấp sự, trao
số tiền sắm y rồi, trở lại chỗ
tỳ-kheo, nói như vầy: ‹Đại đức, tôi đă
trao số tiền sắm y cho người chấp sự
mà Đại đức chỉ đó, khi nào Đại đức
cần, đến đó sẽ được y.›
Tỳ-kheo khi cần y nên đến chỗ người
chấp sự, hoặc hai lần, ba lần để cho
họ nhớ lại, hoặc bằng cách nói rằng: ‹Tôi
cần y.› Hoặc hai lần, hoặc ba lần khiến cho
họ nhớ lại. Nếu nhận được y th́
tốt. Bằng không được y th́ bốn lần. Năm
lần, sáu lần, đứng im lặng trước
họ. Nếu bốn lần, năm lần, sáu lần đứng
im lặng trước người đó mà nhận được
y th́ tốt; bằng không được y mà cố cầu
quá giới hạn đó, nếu được y,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được
y th́ tự chính ḿnh, hoặc sai sứ đến chỗ người
xuất tiền sắm y nói rằng: ‹Trước đây,
ngài sai sứ mang tiền sắm y cho tỳ-kheo có tên như
vậy; tỳ-kheo ấy cuối cùng không nhận được
y; ngài nên lấy lại, đừng để mất.› Như
vậy là hợp thức.[64]
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Vua: người được tự tại, không
thuộc quyền của ai.
Đại thần: người tả hữu của
Vua.
Bà-la-môn: có huyết thống Bà-la-môn.[65]
Cư sĩ: chỉ những người tại
gia, trừ Vua, Đại thần của Vua, bà-la-môn.
Vợ cư sĩ: cũng là người phụ nữ
tại gia.
Tiền sắm y: như đă nói trên.
Y có mười
loại như trên đă nói.
Nhớ lại: khiến cho người chấp
sự, hoặc tại nhà, hoặc nơi chợ, hay
chỗ làm việc, đến đó hai, ba lần, nói
rằng: «Nay tôi cần y. Xin may y cho tôi.» Đó gọi là làm
nhớ lại. Nếu hai, ba lần làm cho họ nhớ, được
y th́ tốt; không được y th́ bốn, năm, sáu
lần đến đó, đứng im lặng trước
họ.
Đứng trước mặt: đối với người
chấp sự, hoặc tại nhà, hoặc tại chợ,
hay nơi làm việc, đến đứng im lặng trước
họ. Nếu người chấp sự hỏi: «V́ nhơn
duyên ǵ, Ngài đứng đây vậy?» Tỳ-kheo nên trả
lời: «Điều đó ông tự biết.» Nếu người
kia nói, «Tôi không biết.» Nếu có người nào khác
biết việc này, tỳ-kheo nói rằng: «Người đó
biết việc này.» Nếu tỳ-kheo lên tiếng một
lần th́ trừ hai lần im lặng. Lên tiếng hai
lần th́ trừ bốn lần im lặng. Lên tiếng ba
lần th́ trừ sáu lần im lặng. Nếu tỳ-kheo
quá hai, ba lần lên tiếng, quá sáu lần im lặng để
đ̣i; đ̣i được y, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi giày dép, đến lễ Thượng
tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., quá ba lần
nói để đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để
được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết, người
nhận sám phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần
nói đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để được
y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này.
Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi mới nhận sám hối. Vị nhận sám nên nói
với tỳ-kheo kia:
«Hăy tự
trách tâm ḿnh!»
Tỳ-kheo
phạm tội trả lời:
«Xin vâng.»
Tăng
phải trả y này lại cho tỳ-kheo đó bằng
bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai
một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo
sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần
nói đ̣i y, quá sáu lần đứng nín thinh để được
y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận trả
lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần
đ̣i y, quá sáu lần đứng nín thinh để được
y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng
đem y này trả lại cho tỳ-kheo nầy. Các trưởng
lăo nào đồng ư Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo
này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả y này lại cho tỳ-kheo có tên... rồi.
Tăng đồng ư nên im lặng, việc này được
ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
phạm tội đă xả y giữa Tăng như vậy
rồi mà Tăng không hoàn lại th́ mắc đột-kiết-la.
Người nào bảo «đừng
trả», người ấy phạm
đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí hoặc tự làm ba y, hoặc làm y
ba-lợi-ca-la, hoặc sai cho người, hoặc mặc
nhiều lần cho rách, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa si,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: ba
lần nói đ̣i mà được y, sáu lần đứng
im lặng được y.
Nếu không
được y, tự ḿnh đến, hoặc sai người
đến chỗ người cúng tiền sắm y, nói, «Trước
đây người sai sứ đem tiền sắm y đến
cho tỳ-kheo có tên là... cuối cùng tỳ-kheo ấy không
nhận được y, người có thể đến
lấy lại, đừng để mất.» Nếu người
kia nói: «Tôi đă cúng, không lấy lại.» Tỳ-kheo này nên
cần có thời gian, dùng lời nhỏ nhẹ phương
tiện đ̣i được y th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong địa phận nước
Khoáng dă
.[67] Bấy giờ, nhóm sáu
tỳ-kheo làm ngọa cụ
[68] mới bằng tơ tằm
tạp.[69] Họ đ̣i xin loại tơ
chưa thành, hay đă thành; hoặc đă nhuộm hay chưa
nhuộm; hoặc thứ mới hay thứ cũ. Họ đến
nhà nuôi tằm nói rằng:
«Chúng tôi
cần tơ.[70]»
Nhà nuôi
tằm trả lời:
«Đợi
thời gian tằm chín hăy đến.»
Nhóm sáu
tỳ-kheo đứng bên vừa đợi vừa xem.
Họ đứng xem khi kén bị phơi, và con nhộng
của tằm đang gây thành tiếng. Các cư sĩ
thấy vậy đều cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử
không có tàm quư, hại mạng chúng sanh. Bên ngoài tự xưng
rằng ta tu theo chánh pháp. Như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp. Đ̣i
hỏi cho được kén tằm để làm ngọa
cụ mới!»
Họ
quở trách việc làm trên, trong số các tỳ-kheo nghe đó,
có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao lại phải đ̣i xin kén để làm ngọa
cụ mới?» Quở trách như trên rồi, đến
chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn
duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy
đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập họp các tỳ-kheo,
quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
«Các ông làm điều
sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu
tỳ-kheo, sao các ông lại đ̣i xin kén tằm để
may ngọa cụ mới?»
Quở trách
rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây là
những người si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới
này ban đầu. Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, làm ngọa cụ mới bằng loại tơ tằm
tạp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tạp:[71] là loại lông mềm, hoặc
kiếp-bối, câu-giá-la, cỏ nhũ điệp, hoặc
sô-ma, hoặc gai.[72]
Tỳ-kheo
tự ḿnh dùng loại tơ tằm tạp làm ngọa
cụ mới mà thành, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề, không thành phạm đột-kiết-la.
Nếu bảo người khác làm mà thành, cũng phạm
ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành, phạm đột-kiết-la.
Ḿnh v́ người khác làm, thành hay không thành đều
phạm đột-kiết-la.
Vật này
nên xả. Khi xả nên dùng búa hoặc ŕu bằm nhỏ
trộn với bùn trét lên vách hay thoa nơi đất.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: được
vật đă thành, hoặc dùng búa chặt bằm nhỏ ḥa
với bùn, hoặc trét lên vách hay nơi đất th́ không
phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Một thời đức Phật
ở lầu các, bên cạnh sông Di hầu, Tỳ-xá-ly.
Bấy giờ, các Lê-xa Tử
ở Tỳ-xá-ly[74] phần lớn làm hạnh tà
dâm. Họ dùng lông dê toàn màu đen[75] làm áo[76] choàng kín thân thể, đi ban đêm
khiến cho người khỏi thấy.
Lúc ấy,
nhóm sáu tỳ-kheo thấy vậy liền bắt chước
lấy lông dê toàn đen làm ngọa cụ bằng giạ.[77] Các Lê-xa thấy vậy,
thảy đều nói rằng:
«Này Đại
đức, chúng tôi trong ái dục, v́ dâm dục nên dùng áo
giạ bằng lông dê màu đen, chứ các ngài dùng loại
giạ lông dê màu đen làm ǵ?»
Lúc bấy
giờ, các tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu
dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa
học giới, biết tàm quư; hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo: ‹Sao các Thầy bắt chước Lê-xa dùng
loại dạ lông dê màu đen?›
Quở trách
rồi, đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp các tỳ-kheo,
dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Các ông làm điều
sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải
hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu
tỳ-kheo, sao các ông lại bắt chước Lê-xa dùng
loại dạ lông dê màu đen?»
Bấy
giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương
tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các
tỳ-kheo:
«Đây là
những người ngu si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới
này lần đầu. Từ nay về sau, Ta v́ các
tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú nghĩa,
cho đến câu chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Lông toàn đen: hoặc màu đen tự nhiên,[78] hoặc màu đen do nhuộm.
Tỳ-kheo
tự ḿnh làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen
mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành,
phạm đột-kiết-la. Khiến người làm;
thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành,
phạm đột-kiết-la. V́ người khác làm, thành
hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, đến
lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., đă làm ngọa
cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị thọ sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa
cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự
sám hối của tỳ-kheo có tên... nầy. Đây là lời
tác bạch.»
Tác bạch
như vậy rồi, sau đó mới thọ sám. Khi
thọ sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
«Hăy tự
trách tâm ḿnh!»
Phạm nhân
thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch
nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một
vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa
cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn lại ngoạ
cụ cho Tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đă làm ngọa
cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm Xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem ngọa cụ này hoàn
lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem toạ cụ
này hoàn trả cho
tỳ-kheo
này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này
rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
phạm tội đă xả ngọa cụ trong Tăng,
nếu Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la.
Khi trả lại có người bảo «đừng trả», người
ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
lấy làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem
trải măi cho hư rách đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni
phạm, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni
phạm, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
nếu được vật đă làm thành, hoặc
cắt rọc cho hư hoại, hoặc mỏng xếp làm
hai lớp, hoặc dùng làm mền, hoặc làm gối,
hoặc làm tọa cụ vuông nhỏ, hoặc làm dạ để
nằm, hoặc làm đồ lót bên trong cái b́nh bát, hoặc
làm cái bao đựng dao, hoặc làm bít tất, hoặc làm
khăn trùm ấm, hoặc làm khăn gối giày dép... đều
không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm ngọa
cụ mới bằng lông dê toàn trắng.[80] Các cư sĩ thấy vậy đều
cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử không biết tàm quư, không nhàm
chán, không biết đủ. Bên ngoài tự xưng ta tu theo
chánh pháp. Nhưng như vậy làm ǵ có chánh pháp! Sao lại
làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn trắng, in
tuồng nhà Vua, hay Đại thần của Vua?»
Bấy
giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị
thiểu dục biết đủ, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách
nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao các
Thầy làm ngọa cụ bằng lông dê toàn trắng?»
Quở trách
rồi, đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
qua một bên, đem nhơn duyên nầy bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp các Tăng
tỳ-kheo, rồi quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao các ngươi làm ngọa cụ bằng lông
dê toàn trắng?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm
sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là
những người ngu si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới
nầy đầu tiên. Từ nay về sau, Ta v́ các
tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa,
cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, làm ngọa cụ mới th́ nên dùng hai phần lông dê toàn
màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư
màu xám. Nếu tỳ-kheo không dùng hai phần đen, phần
thứ ba trắng, phần thứ tư xám mà làm ngọa
cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Trắng: trắng tự nhiên, hoặc nhuộm
thành trắng.
Lông sắc xám:[81] lông nơi đầu,
nơi tai, nơi chân, hoặc các nơi khác có màu xám.
Tỳ-kheo
muốn làm ngọa cụ bốn mươi bát-la
,[82] lông dê, th́ phải hai mươi
bát-la màu toàn đen, mười bát-la màu trắng, và mười
bát-la màu xám. Muốn làm ngọa cụ ba mươi bát-la,
th́ phải mười lăm bát-la màu toàn đen, c̣n mười
lăm bát-la th́ phân nửa toàn màu trắng, phân nửa toàn
màu xám. Muốn làm ngọa cụ hai mươi bát-la, th́
phải mười bát-la màu toàn đen, năm bát-la màu
trắng, năm bát-la màu xám. Nếu tỳ-kheo không làm
ngọa cụ mới bằng hai phần màu đen,
phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám
mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Không thành,
phạm đột-kiết-la. Sai người làm mà thành th́
phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm
đột-kiết-la. Nếu v́ người khác làm, thành hay
không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hay một người, không được xả biệt
chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng,
cởi bỏ giày dép, trống vai bên hữu, hướng đến
Thượng tọa kính lễ, quỳ gối hữu
chấm đất, chắp tay, thưa:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là...,
làm ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen,
phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết vị
nhận sám phải tác bách:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa
cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen, phần
thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám, phạm
xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời
tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải
nói với phạm nhân rằng:
«Hăy tự
trách tâm ḿnh!»
Tỳ-kheo
phạm tội thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch
nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một
vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa
cụ mới, không dùng hai phần lông dê màu đen, phần
thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả
đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả
ngọa cụ lại cho Tỳ-kheo có tên... nầy. Đây
là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa
cụ không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ
ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem ngọa cụ
này trả lại cho tỳ-kheo nầy. Các trưởng lăo
nào đồng ư, Tăng đem ngọa cụ này trả lại
cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư
xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận, hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo có
tên... nầy rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng.
Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
phạm tội xả ngọa cụ cho Tăng rồi, Tăng
không hoàn lại phạm đột-kiết-la. Nếu có người
bảo «đừng trả» th́ người ấy phạm
đột-kiết-la; hoặc chuyển làm tịnh thí,
hoặc sai cho người, hoặc dùng để trải
măi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nếu làm ngọa cụ mới hai phần lông dê màu đen,
phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám.
Hoặc màu trắng không đủ, dùng màu xám bù vào, hoặc
làm toàn màu xám. Hoặc được vật đă làm thành.
Hoặc cắt rọc cho hư hoại. Hoặc làm cho
hoại sắc. Hoặc làm gối, làm áo lót, làm đệm.
Hoặc làm áo lót để nằm. Hoặc làm tọa
cụ nhỏ vuông. Hoặc làm khăn bao b́nh bát. Hoặc làm
đăy đựng dao. Hoặc làm bít tất. Hoặc làm khăn
trùm cho ấm. Hoặc làm khăn gói giày dép, tất cả đều
không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chê ngọa
cụ hoặc dày, hoặc mỏng; hoặc nặng,
hoặc nhẹ. Họ không xả ngọa cụ cũ,
lại làm ngọa cụ mới. Họ thường t́m
kiếm ngọa cụ về dồn chứa rất
nhiều.
Bấy
giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu
dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa
học giới, biết tàm quư, chê trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao quư vị chê ngọa cụ cũ hoặc nhẹ,
hoặc nặng, hoặc mỏng, hoặc dày; rồi không
xả các cái cũ lại làm cái mới, nhiều như
vậy?» quở trách rồi, đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, dùng mọi phương tiện quở trách nhóm
sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao nhóm sáu tỳ-kheo này chê ngọa cụ
hoặc là nhẹ, hoặc nặng, hoặc mỏng,
hoặc dầy; rồi làm ngọa cụ mới, dồn
chứa quá nhiều như vậy?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm sáu
tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi
trồng nhiều giống hữu lậu, là những
kẻ phạm giới này đầu tiên. Từ này về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo chế giới, tập mười cú
nghĩa, cho đến, chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ tŕ cho đến
sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả,
mà lại làm cái mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn đă v́ các tỳ-kheo kiết giới như
vậy, bấy giờ, có tỳ-kheo mắc bệnh càn tiêu,[84] mà cái ngọa cụ phấn
tảo quá nặng. Vị ấy có chút nhơn duyên muốn
du hành trong nhân gian, thầm nghĩ: «Đức Thế tôn đă
chế giới: ‹Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới
phải thọ tŕ cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ
sáu năm, không xả ngọa cụ cũ mà lại làm
ngọa cụ mới, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.› Nay, có chút nhơn duyên muốn du hành
trong nhân gian, mà ta mắc bệnh càn tiêu, ngọa cụ này
quá nặng, ta phải tính thế nào đây?» Tỳ-kheo
ấy nói với các tỳ-kheo rằng:
«Đại
đức! Nay, tôi có chút nhơn duyên phải du hành trong nhơn
gian, mà tôi mắc phải bệnh càn tiêu. Ngọa cụ
phấn tảo quá nặng, không thể mang theo được.
Đại đức v́ tôi bạch lên đức Thế
tôn. Nếu Thế tôn dạy thế nào, tôi sẽ phụng
hành thế ấy.»
Các
tỳ-kheo nghe nói như vậy rồi, đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn.
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn tập hợp các tỳ-kheo,
bảo rằng:
«Từ nay
về sau, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp bạch
nhị yết-ma.»
Tỳ-kheo
kia phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có chút nhơn
duyên, muốn du hành trong nhơn gian mà mắc bệnh càn
tiêu. Ngọa cụ phấn tảo quá nặng, không thể
mang theo được. Nay tôi đến xin Tăng yết-ma
làm ngọa cụ mới.»
Xin như
vậy ba lần.
Trong chúng nên
sai một vị có khả năng làm yết ma, dựa theo
sự việc trên tác bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành trong nhân
gian mà mắc bệnh càn tiêu. Có ngọa cụ phấn tảo nặng. Nay đến xin Tăng yết-ma làm
ngọa cụ mới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng trao
cho tỳ-kheo này pháp yết-ma làm ngọa cụ mới. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành
trong nhơn gian, mà mắc bệnh càn tiêu. V́ có ngọa cụ phấn tảo quá nặng nên nay đến xin Tăng yết-ma may
ngọa cụ mới. Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... yết-ma may ngọa cụ mới. Trưởng
lăo nào đồng ư, Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết-ma may ngọa cụ mới th́
im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận, trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết-ma may
ngọa cụ mới rồi. Tăng chấp thuận nên
im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Đức
Phật dạy, từ nay về sau nên nói giới như
vầy:
Tỳ-kheo
nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ tŕ cho đến
sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả,
mà lại làm cái mới, trừ Tăng yết-ma,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu
tỳ-kheo chưa đủ sáu năm, không bỏ cái cũ
mà lại làm cái ngọa cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Làm mà không thành, phạm đột-kiết-la. Sai người
khác làm thành th́ phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không
thành, phạm đột-kiết-la. V́ người mà làm,
thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến
Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu
chấm đất, chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., chưa đủ
sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm
cái ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả
ngọa cụ cũ, mà lại làm các ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
như vậy rồi, sau đó mới nhận sám hối.
Khi nhận sám, vị ấy nên nói với tỳ-kheo
phạm tội:
«Hăy tự
trách tâm!»
Vị
phạm tội thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch
nhị yết-ma, như vầy: Trong Tăng nên sai một
vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ
sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm
cái mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, trả lại ngọa cụ cho tỳ-kheo
này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ
sáu năm, không xả ngọa cụ cũ, mà lại làm cái
mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay,
Tăng đem ngọa cụ này, trả lại cho tỳ-kheo
nầy. Các trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem
ngọa cụ nầy, trả lại cho tỳ-kheo này th́ im
lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận, trả ngọa cụ cho tỳ-kheo này rồi.
Tăng đồng ư nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
phạm tội như vậy, đối giữa Tăng
xả ngọa cụ rồi, Tăng không hoàn lại,
phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo
«đừng trả», người ấy phạm
đột-kiết-la.
Nếu
lấy chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc trải măi cho hư hoại, hoặc làm phi ngọa
cụ, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Tăng
cho phép. Đủ sáu năm, hoặc chưa đủ sáu năm
mà xả cái cũ, làm cái mới, hoặc là không có nên làm,
hoặc người khác làm cho, hoặc được
vật đă thành th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế tôn sai người lấy
thức ăn về.[86]
Theo thường
pháp của chưa Phật, sau khi các tỳ-kheo đi
thọ thực, th́ đức Phật đi khắp các
pḥng. Ngài thấy tọa cụ cũ vất bỏ bừa
băi khắp nơi, hoặc nơi ôn thất, hoặc trong
nhà giáo thọ, hoặc chỗ đi kinh hành, hoặc trên đá
rửa chân, hoặc trên đống đất ở
trước cửa, hoặc trên cây nọc, hoặc trên móc
áo,[87] hoặc nơi giá y, hoặc
trên giường giây, giường cây, hoặc trên ghế đẩu,
hoặc ở trên đất, không có người thu
dọn.
Đức
Thế tôn thấy vậy, nghĩ rằng: «Các tỳ-kheo
chê tọa cụ, hoặc nặng, hoặc nhẹ, hoặc
mỏng, hoặc dày. Không bỏ cái cũ mà lại làm cái
mới, tích tụ tọa cụ nhiều quá, vất bỏ
bừa băi khắp nơi, không người thu dọn. Nay Ta
nên làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại tọa
cụ cũ.» Ngài lại nghĩ: «Ta nên cho phép các tỳ-kheo
khi làm tọa cụ mới, phải lấy một
miếng tọa cụ cũ vuông vức bằng một
gang tay, may lên cái mới, cho hoại sắc.»
Đức
Thế tôn dùng cơm xong, v́ nhơn duyên này, tập hợp Tăng
tỳ-kheo, bảo rằng:
«Vừa
rồi, sau khi chúng Tăng đi thọ thỉnh, Ta đi
khắp các pḥng, thấy các tọa cụ cũ vất
bỏ bừa băi khắp nơi, không có người thu
dọn. Ta thấy vậy, nghĩ rằng, các tỳ-kheo
hoặc bảo tọa cụ tôi nặng, hoặc bảo
nhẹ; hoặc bảo mỏng, hoặc bảo dày; không
xả tọa cụ cũ, mà lại làm tọa cụ
mới. Những cái cũ vất bỏ bừa băi khắp
nơi, không người thu dọn. Thấy vậy, Ta
nghĩ: Làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại
tọa cụ cũ? Ta lại nghĩ, nay, Ta cho phép các
tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy một
miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên
trên cái mới để cho hoại sắc. Do đó, cho phép
các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy cái
cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới, để
cho hoại sắc.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế tôn cho phép
tỳ-kheo khi may tọa cụ mới, phải lấy
một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay
may lên trên cái mới, cho hoại sắc. Nhưng khi họ
may tọa cụ mới, không lấy một miếng
của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái
mới cho hoại sắc.
Trong số
các Tỳ-kheo nghe thấy đó, có vị thiểu dục
tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học
giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Tại sao đức Thế tôn cho phép các tỳ-kheo khi may
tọa cụ mới, phải lấy một miếng
của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái
mới để cho hoại sắc, mà quư vị làm cái
mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông
vức một gang tay, may lên trên cái mới?» Hiềm trách
rồi, đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ, ngồi qua một bên, đem nhơn
duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy
đủ.
Đức
Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Tại sao ta v́ các tỳ-kheo chế giới:
‹Tỳ-kheo làm tọa cụ mới, phải lấy một
miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên
trên cái mới cho hoại sắc.› Mà các ông may tọa cụ
mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông
vức một gang tay, may lên trên cái mới?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm sáu
tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi
trồng nhiều giống hữu lậu, là những
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười
cú nghĩa... cho đến, chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, may tọa cụ mới, phải lấy một
miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên
trên cái mới, cho hoại sắc. Nếu may tọa cụ
mới, không lấy một miếng của cái cũ vuông
vức một gang tay, may lên trên cái mới, cho hoại
sắc, ni-tát-kỳ ba-dật -đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo
nào muốn may tọa cụ mới, bấy giờ, nếu
tọa cụ cũ chưa hư, chưa bị rách lỗ,
th́ nên sửa sang giặt nhuộm, kéo cho thẳng, cắt
rọc một miếng vuông vức bằng một gang tay, đặt
vào chính giữa, hay ngoài biên, may lên trên cái mới để
cho hoại sắc. Nếu tỳ-kheo không lấy một
miếng cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc, mà
chỉ may cái mới; nếu may thành, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề; may không thành, phạm đột-kiết-la.
Khiến người khác làm mà thành, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la.
V́ người làm, thành không thành đều phạm
đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă may tọa
cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ
may lên trên cái mới cho hoại sắc, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă may tọa
cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ
may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay
xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự
sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám
nên nói với tỳ-kheo phạm tôi rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Phạm nhân
thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo này liền,
bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên
sai một vị có khả năng bạch nhị
yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă may tọa
cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ
may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay
xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, trả tọa cụ
lại cho tỳ-kheo nầy. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă may tọa
cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ
may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay
xả cho Tăng. Nay Tăng đem tọa cụ nầy trả
lại cho tỳ-kheo nầy. Các trưởng lăo nào đồng
ư, Tăng đem tọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo
nầy th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận, trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo
có tên... này rồi. Tăng đồng ư nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy.»
Nếu
tỳ-kheo phạm tội xả tọa cụ cho Tăng
rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la.
Nếu có người bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
lấy chuyển làm tịnh thí hoặc tự ḿnh thọ,
hoặc sai cho người, hoặc ngồi măi cho hư,
tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Cắt lấy một miếng của cái cũ may lên trên
cái mới cho hoại sắc. Hoặc người ấy
không có, được may cái mới. Hoặc người
khác v́ ḿnh may. Hoặc được cái đă làm thành
rồi. Hoặc may cái hoàn toàn cũ th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Thế tôn ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá- vệ.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà Thích
tử,[89] trên đường đi
nhận được nhiều lông dê, cột trên đầu
cây trượng quảy đi. Các cư sĩ thấy
vậy cơ hiềm: ‹Sao sa-môn Thích tử lại đi mua
bán lông dê?› Và hỏi rằng: ‹Đại đức, lông dê
này có bán không?›
Các
tỳ-kheo nghe những lời này, trong số đó có
vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà,
ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách
Bạt-nan-đà rằng: ‹Sao lấy lông dê cột vào đầu
trượng, quảy đi dọc đường?›
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,
quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại quảy lông dê đi trên
đường để cho cư sĩ chê trách?»
Đức
Thế tôn dùng mọi phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới nầy ban đầu. Từ nay
về sau, Ta v́ tỳ-kheo kiết giới, gồm mười
cú nghĩa, cho đến, chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, khi đi đường được lông dê, nếu
không có người mang, tự ḿnh được mang đi
cho đến ba do tuần. Nếu không có người mang,
tự ḿnh mang đi quá ba do tuần, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu
tỳ-kheo trên đường đi, hoặc tại trú
xứ, nhận được lông dê, nếu cần th́
lấy. Nếu không có người mang, tự ḿnh được
phép mang đi, cho đến ba do tuần. Nếu có người
mang th́ nên nói với người ấy rằng: ‹Nay tôi có
vật này, nhờ mang giúp tôi đến chỗ đó.› Trong
khoảng nầy, tỳ-kheo không được tiếp tay
mang. Nếu tiếp tay mang phạm đột-kiết-la.
Nếu bảo tỳ-kheo-ni mang, quá ba do tuần, phạm
đột-kiết-la; nếu bảo thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, mang quá ba do tuần, phạm đột-kiết-la.
Trừ lông dê, mang các vật khác như: câu-giá-la, cỏ
nhũ diệp, sô ma, ma, xí-la-bà-ny,[90] mà mang quá ba do tuần phạm
đột-kiết-la. Nếu quảy các vật khác nơi đầu
trượng mà đi cũng phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă quảy
lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đă quảy
lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối
của tỳ-kheo có tên... nầy. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải
nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Đương
sự thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch
nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị
có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đă quảy
(gánh) lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng. Tăng chấp thuận, trả lông dê lại
cho tỳ-kheo có tên... nầy. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quảy
lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này, trả lại cho tỳ-kheo
nầy. Trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem
lông dê nầy trả lại cho tỳ-kheo nầy th́ im lặng.
Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên...
nầy rồi. Tăng chấp thuận, nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy.»
Nếu
tỳ-kheo đă xả giữa Tăng rồi mà không
trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la.
Nếu có người bảo «đừng trả», người
ấy phạm đột-kiết-la.
Hoặc
chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc dùng măi cho hư, tất cả đều phạm
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, tất cả đều
phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Nếu mang đi
cho đến ba do tuần, hoặc dưới ba do tuần. Hoặc có người
mang giúp, bảo họ mang đến chỗ đó, mà
khoảng ấy ḿnh không mang giúp. Sai tỳ-kheo-ni,
thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni gánh đi ba do tuần. Hoặc
lông mịn, giây bằng lông để trang sức, lông đầu,
lông trên cổ, lông chân. Hoặc làm măo làm khăn trùm cho
ấm. Hoặc gói giày dép. Tất cả đều không
phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở giữa Thích-sí-sấu[92] trong vườn Ni-câu-luật,
Ca-duy-la-vệ.
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm tọa cụ mới bằng
lông dê, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải.
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề v́ nhuộm, nên
tay bị dính thuốc nhuộm. Bà đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi đứng qua một bên. Đức Thế tôn
biết mà vẫn hỏi:
«Cù-đàm-di,
sao tay của D́ có màu sắc giống như thợ
nhuộm vậy?»
Cù-đàm-di
bạch Phật:
«Nhóm sáu
tỳ-kheo muốn làm tọa cụ mới, nên đem lông dê
đến, bảo chúng con giặt nhuộm chải, cho nên
tay bị nhớp.»
Bà đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi trở về
chỗ ở.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi nhóm sáu tỳ-kheo:
«Có thật
các ông làm tọa cụ mới, sai tỳ-kheo-ni giặt,
nhuộm, chải hay không?»
Nhóm sáu
tỳ-kheo thưa:
«Bạch đức
Thế tôn, có thật như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm
sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại bảo tỳ-kheo-ni giặt nhuộm
chải lông dê?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm sáu
tỳ-kheo là những người si, là nơi trồng
nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm
giới nầy ban đầu. Từ nay về sau, Ta v́ các
tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa,
cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, các tỳ-kheo đều có sự nghi ngại, không
dám sai tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải
lông dê. Đức Phật dạy:
«Cho phép thân
lư được giặt, nhuộm, chải. Từ nay
về sau, Ta v́ tỳ-kheo kiết giới:..»
Tỳ-kheo
nào, sai tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt,
nhuộm, chải lông dê, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo,
chẳng phải thân lư, thân lư: cũng như trên đă giải.
Nếu
tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến
giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm ba ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Nếu sai
giặt, nhuộm, chải mà người kia chỉ
giặt, nhuộm chứ không chải th́ phạm hai
ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một
đột-kiết-la.
Sai giặt,
nhuộm, chải; người kia giặt, không nhuộm mà
chải; (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề
và một đột-kiết-la.
Sai người
giặt, nhuộm, chải; người kia không giặt mà
nhuộm, chải, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ
ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Sai giặt,
nhuộm, chải; người kia không giặt, nhuộm,
chải, (tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.
Sai sa-di-ni,
thức-xoa-ma-na chẳng phải thân quyến giặt
nhuộm đập, phạm đột-kiết-la.
Vật này
phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chấp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải
lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối, vị nhận sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải
lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
có tên... nầy. Đây là lời tác bạch.»
Bạch rồi,
sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với
tỳ-kheo phạm tội rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Phạm nhân
thưa:
«Xin vâng.»
Tăng
phải trả lông dê lại cho tỳ-kheo nầy bằng
bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai
một vị có khả năng tác yết-ma dựa theo
sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đă sai tỳ-kheo-ni
chẳng phải thân quyến giặt nhuộm chải lông
dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận hoàn lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... nầy.
Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đă sai
tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm
chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nay Tăng đem lông dê này hoàn lại cho tỳ-kheo nầy.
Trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem lông dê
này hoàn lại cho tỳ-kheo nầy th́ im lặng.
Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trao lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Giữa Tăng,
tỳ-kheo ấy xả lông dê rồi, Tăng không hoàn
lại, phạm đột-kiết-la. Có người
bảo «đừng trả», người ấy phạm
đột-kiết-la.
Nếu
chuyển tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc
dùng măi, hoặc cố ư làm cho hư, tất cả đều
phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đều
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Sai
tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải. Hoặc
v́ người bệnh giặt nhuộm chải. Hoặc v́
chúng Tăng, v́ Phật, v́ tháp, giặt nhuộm chải.
Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật,
tại thành La-duyệt.
Bấy
giờ, trong thành này có một vị Đại thần
vốn là bạn quen thân trước kia của
Bạt-nan-đà.[94] Một hôm nọ, vị Đại
thần nhận được nhiều thịt heo,
liền bảo người vợ:
«Bạt-nan-đà
Thích tử là thân hữu của tôi. Nên để phần
thịt cho người.»
Người
vợ theo lệnh của chồng, liền để
phần thịt cho Bạt-nan-đà.
Hôm ấy là
ngày tiết hội của mọi người ở thành Vương-xá
nên có tổ chức các thứ kỹ nhạc, suốt đêm
không ngủ. Bấy giờ, mấy đứa con của
vị Đại thần cũng ở trong số người
đó. V́ suốt đêm không ngủ, chúng đói và mệt,
nên hỏi mẹ: «Thịt heo c̣n không?»
Mẹ
của chúng bảo rằng:
«Hết
rồi. Chỉ c̣n phần của Bạt-nan-đà họ
Thích thôi.»
Các con
liền đưa tiền cho mẹ và nói:
«Mẹ
cầm tiền này, sáng ngày ra chợ mua lại phần
thịt cho [619a1] Bạt-nan-đà. C̣n phần
thịt đó cho chúng con.»
Mẹ
của chúng lấy tiền và trao phần thịt cho chúng.
Sáng sớm,
Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát, đến nhà
vị Đại thần, ngồi nơi chỗ dọn
sẵn. Bấy giờ, vợ của vị Đại
thần thưa rằng:
«Hôm qua, gia đ́nh
có nhận được nhiều thịt heo. Ông trưởng
giả bảo tôi, ‹Bạt-nan-đà Thích tử là bạn
cũ của tôi. Nên để dành phần thịt cho người.›
Theo lệnh của chồng, tôi có để phần
thịt cho Đại đức. Nhưng khi hôm, gặp
ngày tiết hội, mấy đứa con tôi thức khuya đói
bụng, nên đến đ̣i phần thịt đó. Chúng đưa
tôi năm tiền và bảo: ‹Sáng ngày, ra chợ mua phần
thịt lại cho Bạt-nan-đà. C̣n phần thịt đó
cho chúng con.› Tôi đă trao thịt cho chúng nó. Số tiền
này, bây giờ, tôi sẽ ra chợ mua lại phần
thịt như vậy. Đại đức có thể
chờ một chút.»
Bạt-nan-đà
liền hỏi:
«Chúng v́ tôi đưa
tiền phải không?»
«Vâng, chúng nó
có đưa.»
«Như v́
tôi, th́ đưa số tiền đó cho tôi. Khỏi
cần mua thịt.»
Bấy
giờ, vợ của vị Đại thần liền đặt
tiền xuống đất cho Nạt-nan-đà.
Bạt-nan-đà nhận được tiền này rồi,
đem gởi nơi hiệu buôn quen và đi. Các cư
sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: «Sa-môn Thích
tử mua bán tiền tài. Đem tiền gởi nơi
hiệu buôn rồi đi.» Trong số các tỳ-kheo nghe nói đó,
có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách
Bạt-nan-đà:
«Sao Thầy
tự tay nhận tiền, đem gởi nơi hiệu
buôn, rồi đi?»
Cũng lúc
ấy, Vua cùng các Đại thần hội hợp nhau, bàn
luận rằng: «Sa-môn Thích tử được nắm
cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn Thích tử không
cần phải xả bỏ vàng bạc hoặc tiền,
trân châu, bảo châu, anh lạc và sanh tượng.[95]»
Lúc bấy
giờ, trong pḥng họp có vị Đại thần, tên là
Châu Kế
,[96] nói với các Đại thần
rằng:
«Không nên nói những
lời này: ‹Sa-môn Thích tử được phép nắm
cầm vàng bạc hoặc tiền, không xả bỏ trân
bảo châu anh.› Tại sao vậy? Chính v́ tôi đă được
nghe từ đức Như Lai dạy: ‹Sa-môn Thích tử
không được phép nắm cầm vàng bạc hoặc
tiền.› Sa-môn Thích tử xa ĺa trân bảo, châu anh.»
Bấy
giờ, vị Đại thần Châu Kế có oai thế,
có khả năng tŕnh bày khéo léo, khiến mọi người
hoan hỷ tin hiểu. Sau đó, Châu Kế liền chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem nhơn duyên nầy bạch lên
đức Thế tôn một cách đầy đủ,
rồi thưa:
«Những điều
con nói như vậy, đối với giáo pháp có sai trái hay
không?»
Đức
Phật bảo Đại thần:
«Đúng như
điều ông nói, ở trong chánh pháp có nhiều lợi ích.
Không có ǵ sai trái. Tại sao vậy? Sa-môn Thích tử không được
phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn Thích
tử xa ĺa trân bảo, châu anh, không dùng nó để trang
sức làm đẹp. Nay ông nên biết, nếu nắm
cầm vàng bạc hoặc tiền, không xa ĺa châu anh, trân
bảo, th́ cũng sẽ thọ dụng ngũ dục.
Nếu thọ dụng ngũ dục th́ chẳng phải là
pháp của sa-môn Thích tử.
«Này Đại
thần! Ông nên biết, nếu thấy sa-môn Thích tử nào
gọi Ta là Thầy mà cầm vàng bạc hoặc tiền,
trân bảo th́ quyết định biết rằng đó
chẳng phải là pháp của Sa-môn Thích tử. Ta có nói như
vầy: ‹Nếu tỳ-kheo nào, v́ làm thất, cần cây
gỗ tranh tre v.v... th́ được phép nhận. Nhưng
không nên v́ tự thân mà nhận.›[97]
«Đại
thần nên biết, mặt trời, mặt trăng có
bốn tai hoạn khiến cho không sáng, không trong sạch,
không có khả năng chiếu soi, cũng không có oai
thần. Bốn cái tai hoạn đó là ǵ? Là a-tu-la,[98] khói, mây, bụi mù. Đó là
những đại hoạn của mặt trời, mặt
trăng. Nếu gặp những hoạn này th́ mặt
trời, mặt trăng không sáng, không trong sạch, không có
khả năng chiếu soi, cũng không có oai thần.
Lại cũng như vậy, Sa-môn, Bà-la-môn cũng có
bốn cái tai hoạn khiến cho không sáng, không sạch,
không có khả năng soi chiếu, cũng không có oai
thần. Bốn tai hoạn đó là ǵ? Nếu Sa-môn, Bà-la-môn
không bỏ uống rượu, không bỏ dâm dục, không
bỏ dùng tay nắm vàng bạc, không bỏ sự sống
tà mạng. Đó gọi là bốn đại hoạn
của Sa-môn, Bà-la-môn. Nó có khả năng khiến cho Sa-môn,
Bà-la-môn không sáng, không sạch, không có khả năng soi
chiếu, cũng không có oai thần.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống với hạnh đầu đà, ưa học
giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà,
rồi đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua
một bên, đem nhơn duyên này tŕnh lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên nầy tập hợp Tăng
tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách
Bạt-nan-đà:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại tự tay nắm cầm tiền, đem
gởi hiệu buôn, rồi đi?»
Quở trách
rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, tập mười
cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, tự tay cầm tiền, hoặc vàng, bạc, hoặc
bảo người cầm, hoặc nhận từ dưới
đất,[99] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tiền: trên có văn tượng.
Tỳ-kheo
tự tay cầm vàng bạc hoặc tiền, bảo người
cầm, hoặc nhận từ nơi đất,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật này nên xả.
Trong đây,
xả như vầy: Nếu ở đó có người giữ
vườn tin cậy, hoặc ưu-bà-tắc, th́ nên nói
với họ rằng: «Vật nầy không thích hợp
với tôi, ông biết cho.» Nếu người ấy
lấy cất, rồi trao lại cho tỳ-kheo th́
tỳ-kheo nên v́ phẩm vật của thí chủ mà
nhận. Nhận rồi bảo tịnh nhơn cất.
Nếu được tịnh y, bát, ống đựng
kim, ni-sư-đàn nên đem trao đổi để
thọ tŕ. Nếu ưu-bà-tắc kia nhận rồi trao cho
tỳ-kheo tịnh y, bát, hoặc ni-sư-đàn, hay ống đựng
kim th́ nên nhận để thọ tŕ. Nếu người
kia lấy rồi mà không trả lại th́ nên khiến các
tỳ-kheo khác nói với họ rằng: «Đức Phật
dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật
ấy lại cho tỳ-kheo kia.» Nếu người kia
lấy rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không
nói th́ ḿnh nên tự đến nói với họ rằng: «Đức
Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên
trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng
Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các
cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người
chủ kia.» Nếu không nói với người kia: «Hăy
biết cái này. Hăy nh́n cái này»;[100] phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nếu có nói «Hăy biết cái này. Hăy nh́n cái này.» Hoặc
có người giữ vườn, hay ưu-bà-tắc có tín
tâm, nói với họ: «Vật nầy không thích hợp; tôi không nên nhận. Ông nên biết cho.» Người
kia nhận rồi, hoàn lại cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo nên
v́ thí chủ nhận, rồi trao cho tịnh nhơn cất.
Sau, nếu cần được y, bát tịnh, ống đựng
kim, ni-sư-đàn, th́ đem trao đổi để
thọ tŕ. Nếu người kia lấy rồi, trao cho y
bát tịnh, hoặc tọa cụ, hoặc ống đựng
kim, th́ nên nhận để thọ tŕ. Nếu người
kia không chịu trao cho y th́ nên nhờ các tỳ-kheo khác nói
với họ rằng: «Đức Phật dạy, v́
muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật ấy
lại cho tỳ-kheo kia.» Nếu người kia lấy
rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không nói th́
ḿnh nên tự đến nói với họ rằng: «Đức
Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên
trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng
Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các
cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người
chủ kia.» Không nên để mất phẩm vật
của tín thí. Tất cả như vậy th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Thế tôn ở trong núi
Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà đến hiệu buôn, dùng
tiền đổi tiền, rồi mang đi. Các cư
sĩ thấy vậy đều cơ hiềm rằng:
«Sa-môn Thích tử dùng tiền đổi tiền, rành
nghề mua bán.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục, tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới, [620a1] biết tàm quư hiềm trách
Bạt-nan-đà rằng: «Sao lại đem tiền đổi
tiền, rồi mang đi?»
Chư
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên nầy tập hợp Tăng
tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà rằng:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại dùng tiền để đổi
tiền?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú
nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, kinh doanh tiền tài bảo vật, dưới mọi
h́nh thức, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh dưới mọi h́nh
thức:[102] Dùng vàng thành[103] đổi vàng thành; đổi vàng chưa
thành đổi vàng đă thành; vàng chưa thành đổi
bạc thành; bạc chưa thành, đổi bạc đă
thành; chưa thành; bạc nửa nửa chưa thành đổi
lấy tiền. Dùng vàng chưa thành đổi vàng thành; đổi
vàng chưa thành, đổi vàng đă thành chưa thành; đổi
bạc thành, đổi bạc chưa thành; đổi
bạc đă thành và chưa thành, đổi tiền. Dùng
vàng đă thành chưa thành đổi vàng thành; đổi
vàng chưa thành, đổi vàng đă thành chưa thành; đổi
bạc thành, đổi bạc chưa thành; đổi
bạc đă thành và chưa thành, đổi tiền. Dùng
bạc đă thành, đổi vàng, cho đến đổi
tiền cũng như vậy. Dùng bạc chưa thành đổi
vàng, cho đến đổi tiền cũng như
vậy. Dùng bạc chưa thành đổi vàng, cho đến
đổi tiền cũng như vậy. Dùng bạc đă
thành chưa thành đổi vàng, cho đến đổi
tiền cũng như vậy. Dùng tiền đổi vàng,
cho đến đổi tiền cũng như vậy.
Tiền
[104]:
có
tám loại: tiền vàng, tiền bạc, tiền thiếc,
tiền đồng,
tiền bạch lạp, tiền ch́ thiếc, tiền cây,
tiền hồ giao.
Nếu
tỳ-kheo nào, kinh doanh các loại bảo vật dưới
mọi h́nh thức, dùng vàng thành đổi vàng thành, cho đến
đổi tiền, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Vật nầy phải xả.
Phương
thức xả: Nếu người giữ vườn,
hoặc ưu-bà-tắc có ḷng tin, nên nói với họ
rằng: «Vật nầy không thích hợp với tôi. Ông
biết cho!» Nếu người kia nhận rồi hoàn
lại cho tỳ-kheo th́ tỳ-kheo nên v́ thí chủ mà
thọ, rồi bảo tịnh nhơn cất. Sau đó,
nếu cần tịnh y, bát, tọa cụ, ống đựng
kim th́ đem đổi để thọ tŕ. Nếu người
kia nhận rồi, trao cho tỳ-kheo y bát tịnh, tọa
cụ, ống đựng kim, th́ nên thọ tŕ. Nếu người
kia nhận rồi mà không trả lại cho tỳ-kheo th́ nên
nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: «Đức
Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người.
Người nên hoàn vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.»
Nếu tỳ-kheo khác nói mà họ vẫn không trả th́ ḿnh
tự đến nói: «Đức Phật dạy, v́
muốn tịnh nên trao cho người. Nay người nên
trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng
Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu
tri thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ
cũ.» Tại sao vậy? V́ không muốn mất phẩm
vật của thí chủ. Nếu tỳ-kheo không nói với
người kia rằng: «Hăy xem cái này! Hăy nhận biết
cái này!» phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nếu nói với người: «Hăy biết cái này! Hăy nh́n cái
này!» Hoặc có nói với người giữ vườn,
hay nói ưu-bà-tắc tín tâm rằng: «Vật nầy không
thích hợp với tôi. Ông biết cho!» Nếu người
kia nhận rồi hoàn lại cho tỳ-kheo th́ tỳ-kheo nên
v́ thí chủ mà thọ, rồi bảo tịnh nhơn
cất. Sau đó, nếu cần tịnh y, bát, tọa
cụ, ống đựng kim th́ đem đổi để
thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi, trao cho
tỳ-kheo y bát tịnh, tọa cụ, ống đựng
kim, th́ nên thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi
mà không trả lại cho tỳ-kheo th́ nên nhờ các
tỳ-kheo khác nói với họ rằng: «Đức
Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người.
Người nên hoàn vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.»
Nếu tỳ-kheo khác nói mà họ vẫn không trả th́ ḿnh
tự đến nói: «Đức Phật dạy, v́
muốn tịnh nên trao cho người. Nay người nên
trao cho Tăng, cho Tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng
Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu
tri thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ
cũ.» Tại sao vậy? V́ không muốn mất phẩm
vật của thí chủ. Nếu dùng tiền đổi
dụng cụ anh lạc v́ Phật, Pháp, Tăng; hoặc
dùng đồ anh lạc đổi tiền v́ Phật, Pháp,
Tăng, th́ không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Thế tôn ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại
Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử,
tại nước Câu-tát-la, trên đường đi đến
một thôn không có trú xứ.[106] Khi đến trong thôn, đem
gừng sống đổi thức ăn. Ăn xong rồi
đi.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đang tại
Câu-tát-la du hành trong nhơn gian, rồi đến trong thôn
không trú xứ đó. Đến giờ, đắp y, bưng
bát, vào thôn khất thực, tuần tự tới nơi nhà
bán cơm, đứng im lặng. Người bán cơm
thấy vậy bảo rằng:
«Đại
đức, muốn cần cái ǵ?»
Tôn giả
trả lời:
«Cư
sĩ, tôi cần thức ăn.»
Người
kia nói:
«Đưa
vật có giá ra đây.»
Tôn giả
ngạc nhiên nói:
«Đừng
nói như vậy. Điều đó chúng tôi không nên làm.».
Người
bán cơm nói:
«Vừa
rồi Bạt-nan-đà dùng gừng sống đổi
thức ăn. Ăn rồi đi. Sao Đại đức
nói không làm việc ấy?»
Tôn giả
Xá-lợi-phất nghe nói như vậy lấy làm xấu
hổ, không nói ǵ. Khất thực xong, về đến
trong Tăng-già-lam, đem nhơn duyên này nói với các
tỳ-kheo.
Trong lúc
ấy, trong thành Xá-vệ có một ngoại đạo, được
một chiếc y quư giá, ḷng tự nghĩ: «Ta cần ǵ cái
y quư giá này? Nay ta nên đổi y khác.» Lại nghĩ
tiếp, «Nơi nào ta có thể đối y? Chỉ có sa-môn
Thích tử ưa mặc y đẹp. Chắc họ có
thể đổi.» Nghĩ xong liền đem chiếc y đến
trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo rằng:
«Tôi muốn
đổi y này. Vị nào muốn đổi th́ đổi.»
Bạt-nan-đà
nghe vậy liền nói:
«Sáng mai đem
đến đây! Tôi sẽ trao đổi y với ông.»
Bạt-nan-đà
là người rất khéo tay về may sửa y. Ngay đêm
ấy, đem y cũ giặt, nhuộm, ủi, làm cho y sáng
sủa như mới. Sáng ngày, ngoại đạo đem y đến
trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo:
«Vị nào
muốn đổi y th́ đổi.»
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà liền đem y của ḿnh ra
giới thiệu nói với ngoại đạo:
«Tôi dùng y này
đổi cho ông, ông đưa y của ông cho tôi được
không?»
Ngoại đạo
trả lời:
«Được.»
Hai bên trao đổi.
Ngoại đạo nhận được y đem về
trong vườn nơi cư trú của ḿnh, đưa cho
các ngoại đạo xem và nói:
«Các bạn
nên biết, tôi đem chiếc y đang mặc đổi
lấy y nầy đây.»
Trong số
ngoại đạo, có người có trí tuệ nói
rằng:
«Bạn
bị người ta lừa rồi. Tại sao vậy? Y
của bạn đang mặc tốt, rộng, dài, bền
chắc. C̣n y này là y cũ; v́ khéo ủi, sửa soạn, nên
trông qua thấy sáng sủa, in như y mới thế thôi.»
Ngoại đạo
ấy nghe xong, liền đem chiếc y vừa đổi,
vào trong Tăng-già-lam, nói với Bạt-nan-đà rằng:
«Tôi trả
lại y ông. Ông trả lại y tôi.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Đă đổi
rồi th́ thôi, không được hoàn trả lại.»
Ngoại đạo
nói:
«Y của
tôi mới và tốt, rộng, dài, bền chắc; c̣n y
của ông cũ và xấu được ủi sửa
soạn như y mới mà thôi.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Đă đổi
rồi dứt khoát tôi không hoàn lại.»
Ngoại đạo
kia cơ hiềm:
«Y của
tôi mà tôi đ̣i lại không được hay sao? Y của
tôi mới, tốt, rộng, dài, bền chắc. Y của
ông cũ, xấu. Tại sao cùng là người xuất gia
với nhau, đổi y cho nhau mà hoàn lại không được?»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quí, [621a1] hiềm trách Bạt-nan-đà
rằng: «Sao lại dùng gừng sống để đổi
thức ăn để ăn? Sao lại cùng với
ngoại đạo đổi y mà không cho hoàn lại?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức
Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên nầy
tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại lấy gừng đổi thức ăn
để ăn; lại cùng ngoại đạo đổi
y mà không cho hoàn lại?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Từ này
về sau, cho phép năm chúng xuất gia trao đổi qua
lại. Khi đổi thẩm
định, không nên quá cao thấp với nhau như
phép ngoài chợ búa. Không được cùng người khác
đổi chác, mà nên khiến tịnh nhơn làm việc
ấy. Nếu họ cần đổi lại, nên hoàn
lại cho họ. Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo
kiết giới, tập mười cú nghĩa... cho đến
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, kinh doanh mậu dịch dưới mọi h́nh thức,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh
mậu dịch dưới mọi h́nh thức:
dùng thời dược đổi
thời dược, dùng [thuốc] có thời
hạn đổi [thuốc] phi thời hạn, dùng
[thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] bảy
ngày, dùng [thuốc] có thời hạn đổi [thuốc]
suốt đời, dùng [thuốc] có thời hạn đổi
ba-lợi-ca-la.
Dùng
[thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] phi
thời hạn, dùng [thuốc] phi thời hạn đổi
thất nhật dược, dùng [thuốc] phi thời
hạn đổi [thuốc] suốt đời, dùng
[thuốc] phi thời hạn đổi ba-lợi-ca-la, dùng
[thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] có
thời hạn.
Dùng
[thuốc] bảy ngày đổi [thuốc] bảy ngày, dùng
[thuốc] bảy ngày... cho đến [thuốc] phi thời
hạn cũng như vậy.
Dùng
[thuốc] suốt đời đổi [thuốc] suốt
đời, cho đến đổi [thuốc] bảy ngày
cũng như vậy.
Dùng
ba-lợi-ca-la đổi ba-lợi-ca-la cho đến đổi
tận h́nh thọ cũng như vậy.
Bán: trị giá một tiền, nhiều lần (trả giá)
lên hay xuống.
Bán lên giá: trị giá một tiền, nói giá ba
tiền.
Bán cao giá: trị giá một tiền, nói giá năm
tiền. Mua cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo kinh doanh mậu dịch, dưới mọi h́nh
thức mà nhận được lời, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề; không nhận được lời, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la.
Khi xả, đương sự phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến
Thượng tọa kính lễ quỳ gối bên hữu
chấm đất, chấp tay bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă kinh doanh
mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết, vị
nhận sám hối phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh
mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa;
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự
sám hối của tỳ-kheo có tên... nầy. Đây là lời
tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám
phải bảo phạm nhân:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
phạm tội thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn lại vật đó cho tỳ-kheo nầy bằng
bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai
một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo
sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh
mọi thứ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, trả lại vật cho tỳ-kheo có tên
này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh mọi
thứ, được tài vật, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem vật nầy trả
lại cho tỳ-kheo nầy. Các trưởng lăo nào đồng
ư, Tăng đem vật nầy trả lại cho tỳ-kheo
nầy th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả vật lại cho tỳ-kheo nầy
rồi. Tăng đồng ư nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Đương
sự đă xả giữa Tăng rồi, Tăng không hoàn
lại, đột-kiết-la. Khi trả có người
bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc dùng măi, hoặc
dùng vào việc khác, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Cùng năm
chúng xuất gia trao đổi, tự ḿnh xét định
không quá chênh lệch như bọn nhà buôn. Không cùng người
khác đổi chác, hoặc sai tịnh nhơn đổi
chác, hoặc họ hối, cho họ đổi lại.
Hoặc dùng sữa đổi dầu, dùng dầu đổi sữa.
Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
[107]
Một thời,
đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá- vệ.
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chứa bát. Cái nào tốt th́
họ tŕ, cái nào không tốt th́ để đó. Thường
t́m ṭi bát tốt như vậy cất chứa thành
nhiều.
Bấy
giờ, có các cư sĩ đến tham quan các pḥng.
Thấy nhóm sáu tỳ-kheo[109] chứa cất nhiều bát.
Thấy vậy đều cơ hiềm: «Sa-môn Thích tử
mong cầu không nhàm chán, không biết tàm quư. Bên ngoài tự xưng
rằng, Ta biết chánh pháp. Như vậy th́ có ǵ là chánh
pháp? Cất chứa nhiều bát như nơi cửa hàng
của thợ đồ gốm.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: «Sao chứa bát, cái tốt th́
thọ tŕ, cái xấu để đó, thường t́m
cầu bát mới chứa cất thành nhiều?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua
một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo quở trách Bạt-nan-đà rằng:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại chứa bát, cái tốt th́ thọ tŕ,
cái xấu để đó, thường t́m cầu bát
mới chứa cất thành nhiều?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Bạt-nan-đà là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú
nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nó như vầy:
Tỳ-kheo
nào, chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ, Tôn giả A-nan nhận được
chiếc bát quư giá của nước Tô-ma
,[110] ư muốn dâng cúng cho Đại
Ca-diếp v́ Đại Ca-diếp thường dùng loại
bát của nước này.
Khi ấy, Đại
Ca-diếp không ở đó. Tôn giả nghĩ: «Đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới, ‹Tỳ-kheo nào
chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.› Nay ta
nhận được chiếc bát quư giá của nước
Tô-ma, [622a1] muốn dâng cúng cho ngài Đại
Ca- diếp, song ngài không có ở đây. Không biết làm
thế nào.» Tôn giả A-nan đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi đứng qua một bên, bạch đức
Thế tôn:
«Bạch
Thế tôn, Thế tôn đă v́ tỳ-kheo kiết giới:
‹Tỳ-kheo nào chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.›
Mà nay con vừa nhận được chiếc bát quư giá
của nước Tô-ma, muốn dâng cúng cho Đại
Ca-diếp, song Đại Ca-diếp không có ở đây, con
không biết làm thế nào.»
Đức
Thế tôn hỏi Tôn giả A-nan:
«Đại
Ca-diếp bao lâu sẽ về?»
Tôn giả A-nan bạch Phật:
«Sau mười ngày, Đại Ca-diếp sẽ về.»
Bấy giờ, đức Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện tùy thuận nói pháp, khen ngợi hạnh đầu đà nghiêm chỉnh, thiểu dục tri túc và những vị ưa xuất ly, bảo các tỳ-kheo:
«Từ nay về sau cho phép các Tỳ-kheo chứa bát dư cho đến mười ngày.»
Nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư, không tịnh thí,[111] được phép chứa trong hạn mười ngày. Quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bát: Có sáu loại : bát thiếc, bát nước Tô-ma, bát nước Ô-già-la,[112] bát nước Ưu-già-xa,[113] bát đen, bát đỏ.[114] Đại thể có hai loại: bát bằng thiếc và bát bằng đất.[115] Bát lớn chứa ba đấu, bát nhỏ chứa một đấu rưỡi.[116] Đây là dung lượng của bát, nên thọ tŕ như vậy, nên tịnh thí.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, chứa đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong mười ngày đều thành ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai không nhận được, ngày thứ ba nhận được, ngày thứ tư nhận được, như vậy cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được, ngày thứ ba không nhận được (như vậy chuyển lần xuống đến ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên[117]).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được, ngày thứ tư nhận được, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong tám ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát; ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được; ngày thứ năm nhận được (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như vậy*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được bát; ngày thứ năm nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong bảy ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát; ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được bát; ngày thứ sáu nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được bát, ngày thứ bảy nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong năm ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được; ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được bát; ngày thứ tám nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được bát; ngày thứ tám nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong bốn ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được; ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không nhận được bát, ngày thứ chín, ngày thứ mười nhận được bát, số bát nhận được trong ba ngày đến ngày mười một khi b́nh minh xuất hiện đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được; ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không nhận được bát; ngày thứ mười nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được; ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu Tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát không tịnh thí; ngày thứ hai được bát tịnh thí, ngày thứ ba được bát, cho đến ngày thứ mười được bát không tịnh thí, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát không tịnh thí. Ngày thứ ba được bát tịnh thí. Ngày thứ tư được bát không tịnh thí (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ mười được bát không tịnh thí,và tịnh thí, đặt câu văn cũng như trên*). Sai cho người (đặt câu văn cũng như vậy). Hoặc mất (câu văn cũng như trên*). Hoặc cố làm cho hư hoại (câu văn cũng như vậy*). Hoặc làm phi bát (câu văn cũng như vậy*). Hoặc khởi ư thân hữu lấy (câu văn cũng như trên*). Hoặc quên đi (câu văn cũng như trên*). Tất cả đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu bát phạm ni-tát-kỳ mà không xả, lại đổi bát khác th́ phạm một ni-tát-kỳ và một đột-kiết-la.
Bát phạm ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng lên thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă chứa bát dư, quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả bát rồi phải sám hối, vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch như vậy rồi mới nhận sự sám hối của vị kia. Nên nói với tỳ-kheo kia rằng:
«Hăy tự trách tâm ḿnh!»
Vị ấy thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên hoàn bát lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả bát lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả bát lại cho tỳ-kheo này, các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả bát lại cho tỳ-kheo có tên... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă chấp thuận trả lại bát cho tỳ-kheo có tên... này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Được ghi nhận như vậy.»
Nếu đă xả bát trong Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo «đừng trả», vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc cố làm cho hư, hoặc làm phi bát, hoặc [623a1] dùng thường xuyên,[118] tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Trong mười
ngày. Hoặc tịnh thí. Hoặc sai cho người.
Hoặc tưởng bị cướp đoạt, bị
mất, bị phá hư, bị nước cuốn trôi th́
không phạm. Nếu bát bị đoạt, bị mất,
bị cháy, bị nước cuốn trôi nên lấy dùng,
hoặc người khác cho dùng. Hoặc tỳ-kheo nhận
gởi bát qua đời, hoặc đi xa, hoặc thôi tu,
hoặc bị giặc cướp, hoặc gặp ác thú
hại, hoặc bị nước cuốn trôi, không sai cho
người. Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Thế tôn ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại
Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử bát
bị vỡ, nên vào thành Xá-vệ nói với một cư
sĩ rằng:
«Ông biết
cho. Bát tôi bị vỡ. Ông hăy giúp tôi.»
Bấy
giờ, có cư sĩ nọ liền vào trong chợ mua cái
bát cúng cho. Bạt-nan-đà lại đến nhà cư
sĩ khác cũng nói rằng:
«Bát tôi
bị vỡ. Ông hăy giúp tôi.»
Các cư
sĩ kia cũng liền đến chợ mua bát cúng dường.
Bạt-nan-đà
bị vỡ một cái bát mà cầu t́m nhiều bát để
chứa cất. Sau đó, một thời gian các cư
sĩ có cơ hội gặp nhau. Có một cư sĩ nói
với các cư sĩ khác rằng:
«Tôi được
phước vô lượng.»
Các cư
sĩ hỏi:
«Nhờ
việc ǵ mà bạn được phước vô lượng?»
Đáp
rằng:
«Tôn giả
Bạt-nan-đà bị vỡ cái bát. Tôi mua cái bát cúng cho, nên được
phước vô lượng.»
Các cư
sĩ mỗi người đều tự nói:
«Chúng tôi
cũng được phước vô lượng.»
Các cư
sĩ khác hỏi rằng:
«Do nhơn
duyên ǵ quư vị đều được phước vô lượng?»
Các cư
sĩ trả lời rằng:
«Bạt-nan-đà
bị bể cái bát, chúng tôi cũng đến chợ mua bát
cúng cho Bạt-nan-đà.»
Các cư sĩ cơ hiềm nói:
«Sa-môn Thích
tử không biết tàm quư, mong cầu không nhàm chán, không
biết đủ. Bên ngoài tự xưng rằng, ‹Ta
biết chánh pháp.› Như vậy th́ có chánh pháp ǵ? Bị
vỡ một cái bát mà t́m cầu nhiều bát để
chứa cất. Đàn-việt tuy cúng dường không nhàm
chán mà người thọ nhận phải biết đủ
chứ!»
Trong số
các Tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới,
biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử
rằng: «Sao thầy bị vỡ một cái bát lại t́m
cầu nhiều bát để chứa cất?» Các
Tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đầu
mặt lễ dưới chân, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn tập hợp các tỳ-kheo, quở trách
Bạt-nan-đà Thích tử:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại bể một cái bát mà t́m cầu
nhiều bát để chứa cất?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các Tỳ-kheo:
«Bạt-nan-đà
này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu.
Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới
gồm mười cú nghĩa, cho đến chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, chứa bát trám dưới năm chỗ không
chảy rỉ, mà t́m xin bát mới, v́ muốn đẹp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng
để xả, lần lượt cho đến lấy
cái bát tối hạ
[120] trao cho, khiến thọ tŕ cho đến
khi vỡ; đó là điều hợp thức.[121]
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Năm chỗ trám: khoảng cách giữa hai chỗ trám
bằng hai ngón tay.
Tỳ-kheo
nào bát bị bể dưới năm chỗ trám mà không
chảy rỉ, lại t́m cầu bát mới, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Nếu trám đủ năm chỗ mà
không rỉ chảy lại t́m cầu bát mới, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng trong trú xứ đó. Nên đến
giữa Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giày
dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ,
quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., bát đă bị
bể, dưới năm chỗ trám chưa rỉ chảy,
lại xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị
bể dưới năm chỗ trám chưa rỉ chảy,
lại xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối
của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói
với người kia rằng:
«Hăy tự
trách tâm ḿnh!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Bát của
vị tỳ-kheo này nếu là loại bát quư giá tốt th́
nên cất lại, và lấy cái bát kém nhất trao cho vị
ấy, bằng bạch nhị yết-ma, nên trao như
vầy: Trong Tăng sai một vị có khả năng tác
pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:[122]
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị
bể dưới năm chỗ trám không rỉ chảy, lại
xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, trao bát cho tỳ-kheo có tên này. Đây là lời
tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị
bể dưới năm chỗ trám không rỉ chảy, lại
xin bát mới, phạm xả đọa, đă xả cho Tăng.
Nay Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo có tên... này. Các trưởng
lăo nào chấp thuận Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo
có tên là... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư, xin hăy nói.»
«Tăng đă
đồng ư trao bát lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Được
ghi nhận như vậy.»
Bát của
tỳ-kheo kia nên đem tác bạch rồi hỏi Tăng,
tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, đem bát này theo thứ
tự hỏi Thượng tọa. Đây là lời tác bạch.»
Bạch như
vậy rồi nên đem bát trao cho Thượng tọa.
Nếu Thượng tọa muốn nhận bát (mới) này
th́ trao cho, rồi lấy bát (cũ) của Thượng
tọa trao cho vị kế. Nếu trao cho tỳ-kheo kia th́
tỳ-kheo kia nên nhận. Không nên v́ hộ tŕ chúng Tăng mà
không nhận. Cũng không nên v́ nhân duyên này mà thọ tŕ bát
tối hạ; nếu thọ tŕ th́ phạm đột-kiết-la.[123] Nếu vị Thượng
tọa thứ hai lấy chiếc bát này th́ nên lấy
chiếc bát của vị Thượng tọa thứ hai
trao cho vị Thượng tọa thứ ba. Nếu trao cho
tỳ-kheo kia th́ tỳ-kheo kia nên nhận, không nên v́ hộ
tŕ chúng Tăng mà không nhận, và không nên v́ nhân duyên này mà
thọ tŕ bát xấu nhất; nếu thọ tŕ th́ phạm đột-kiết-la.
Như
vậy lần lượt cho đến vị hạ
tọa. Hoặc đem bát của tỳ-kheo này trả
lại cho tỳ-kheo này; hoặc đem bát vị tối
hạ trao cho. Khi trao, nên bạch nhị yết-ma để
trao. Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác
pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên, tác bạch như
vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng đem
bát của vị tối hạ này trao cho tỳ-kheo có tên...
thọ tŕ cho đến khi vỡ. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng đem cái bát của vị
tối hạ này trao cho tỳ-kheo có tên... thọ tŕ cho đến
khi vỡ. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng trao
bát cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng
ư xin nói.»
«Tăng đă
đồng ư trao bát cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng
ư nên im lặng. Được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
kia nên giữ ǵn bát này không được để
chỗ đá gạch có thể rơi, không được để
dưới cây gậy dựng đứng và dưới con
dao dựng đứng, không được để dưới
vật treo, không được để giữa đường
đi, không được để trên ḥn đá, không được
để dưới gốc cây có trái, không được
để chỗ đất không bằng phẳng.
Tỳ-kheo
không được dùng một tay mà nắm hai cái bát,
trừ có kê ngón tay ở giữa. Không được dùng
một tay cầm hai cái bát mà mở cửa, trừ phi có chú
ư. Không được để trong ngưỡng cửa,
dưới cánh cửa. Không được để
dưới giường dây, giường cây, trừ để
tạm. Không [624a1] được để trung gian
giữa giường dây và giường cây. Không được
để đầu góc của giường cây và giường
dây, trừ để tạm. Không được đứng
mà quậy bát cho đến đủ để khiến
bát bị vỡ. Tỳ-kheo kia không được cố
tâm làm cho bát hư hoại, không được cố ư
khiến cho mất hoặc cố làm cho hư hỏng. Không
nên dùng làm phi bát.[124]
Xả bát
ở trong Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, phạm
đột-kiết-la. Nếu ai bảo «đừng
trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu làm
tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc cố làm
mất, làm hỏng, dùng làm phi bát hay dùng thường xuyên,[125] tất cả đều
phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Năm
chỗ trám bị rỉ chảy. Hoặc dưới năm
chỗ trám mà rỉ chảy, t́m cầu bát mới. Hoặc đến
xin nơi thân lư, nơi người xuất gia, v́ người
khác xin, người khác v́ ḿnh xin. Hoặc không xin mà được.
Hoặc họ cúng cho Tăng, theo thứ tự được.
Hoặc ḿnh có phương tiện mua để chứa.
Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Thế tôn ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà Thích tử muốn may tăng-già-lê,
nên vào thành, đến nhà một cư sĩ, nói rằng:
«Ông biết
không? Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.»
Cư sĩ
liền cúng chỉ sợi. Bạt-nan-đà lại đến
các nhà cư sĩ khác, cũng nói rằng: «Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.»
Bạt-nan-đà
xin khắp mọi nơi như vậy, thu hoạch được
một số lượng chỉ sợi rất nhiều
nên nghĩ rằng: «Lúc khác, ở nơi khác, ta lại xin
chỉ sợi nữa, để đủ may tăng-già-lê.
Y phục của tỳ-kheo khó có được, ta nên
sắm luôn ba y. Nay ta nên đem số chỉ sợi này
bảo thợ dệt, dệt ba y.»
Nghĩ xong
liền đem chỉ đến chỗ thợ dệt,
tự tay xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt.
Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm rằng:
«Các ông xem
ḱa, Bạt-nan-đà Thích tử tự xe chỉ, tự đứng
coi thợ dệt dệt ba y.»
Trong số
các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới biết tàm
quư, hiềm trách Bạt-nan-đà: «Sao lại t́m cầu
nhiều chỉ sợi, rồi khiến thợ dệt
dệt ba y; tự tay xe chỉ, tự đứng coi
thợ dệt dệt ?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn
một cách đầy đủ. Đức Thế tôn v́ nhơn
duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách
Bạt-nan-đà:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại t́m cầu nhiều chỉ sợi,
tự tay xe sợi, tự đứng coi thợ dệt,
dệt ba y?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, tập mười
cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, tự ḿnh xin chỉ sợi, khiến thợ dệt
không phải thân quyến[127] dệt làm ba y , ni-tát-kỳ
ba-dật- đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tự ḿnh xin: chính ḿnh xin khắp nơi.
Chỉ
sợi: có mười
loại,[128] như trên tức là chỉ
dệt mười loại y như trên.
Thợ
dệt không phải thân quyến, người cho chỉ
chẳng phải thân quyến: không phải thân quyến[129] th́ phạm.
Thợ
dệt chẳng phải thân quyến; người cho
chỉ hoặc thân quyến, hoặc chẳng phải thân
quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Thợ
dệt chẳng phải thân quyến; người cho
chỉ là thân quyến, hoặc chẳng phải thân
quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Hoặc
thợ dệt là thân quyến, hoặc không phải thân
quyến; người cho chỉ chẳng phải thân
quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Hoặc
thợ dệt là thân quyến, hoặc chẳng phải thân
quyến; người cho chỉ hoặc là thân quyến,
hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân
quyến th́ phạm. Hoặc thợ dệt là thân quyến,
hoặc chẳng phải thân quyến; người cho
chỉ chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân
quyến th́ phạm.
Thợ
dệt là thân quyến; người cho chỉ chẳng
phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́
phạm.
Thợ
dệt là thân quyến; người cho chỉ hoặc thân
quyến hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng
phải thân quyến th́ phạm.
Nếu
tỳ-kheo tự ḿnh xin chỉ khiến thợ dệt y,
phạm xả đọa. Nếu xem thợ dệt
dệt, hoặc tự ḿnh dệt, hoặc tự ḿnh quay
chỉ, đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả, đương
sự nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
toạ, kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă tự
ḿnh cầu xin nhiều chỉ sợi, khiến thợ dệt
dệt y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă tự ḿnh
cầu xin nhiều chỉ sợi khiến thợ dệt dệt
y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này.
Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi mới thọ sám, nên nói với tỳ-kheo rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
phạm tội thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch
nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một
vị khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă t́m cầu
nhiều chỉ sợi khiến thợ dệt không phải
thân quyến dệt y, phạm xả đoạ. Nay xả
cho Tăng, nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hoàn y lại cho
tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă t́m cầu
nhiều chỉ sợi, khiến thợ
dệt chẳng phải thân quyến dệt y, phạm xả
đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng
trả y lại cho tỳ-kheo có tên…. này. Các Trưởng lăo
nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có
tên... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư nên nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Được ghi nhận
như vậy.»
Đương
sự đă xả y giữa Tăng rồi, Tăng không
trả y lại phạm đột-kiết-la. Nếu
chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người,
hoặc tự ḿnh làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,
hoặc làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc
làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đều
phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Thợ dệt là thân quyến, người cho chỉ là thân
quyến. Hoặc tự ḿnh dệt cái đăy đựng
bát, đăy đựng giày dép, đựng kim, hoặc làm dây
lưng ngồi thiền. Hoặc làm dây lưng thường,
hoặc làm măo, làm bít tất, làm khăn trùm cho ấm, hoặc
khăn gói. Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời đức Thế tôn ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước
Xá-vệ.
Bấy
giờ, trong thành Xá-vệ có một cư sĩ là bạn
quen tri thức của Bạt-nan-đà Thích tử, đem
chỉ tốt, bảo thợ dệt, dệt chiếc y như
vậy, như vậy để cúng cho Bạt-nan-đà
Thích tử. Cư sĩ đưa chỉ cho thợ dệt
rồi, có việc cần đi qua thôn khác. Người
thợ dệt kia đến trong Tăng-già-lam nói với
Bạt-nan-đà Thích tử rằng:
«Đại
đức, chưa từng có người nào được
phước như ngài.»
Bạt-nan-đà
hỏi:
«Chuyện
ǵ mà biết tôi là người có phước đức?»
Ông thợ
dệt nói:
«Người
cư sĩ có tên mỗ đem số chỉ này đến
tôi, nói: ‹Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen của
tôi, ông v́ tôi dệt làm [625a1] y như vậy, như vậy
để cúng cho ngài›. Do đó tôi biết Đại đức
là người có phước đức.»
Bạt-nan-đà
lại hỏi:
«Có thật
như vậy không?»
Ông thợ
dệt dệt trả lời:
«Thật như
vậy.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Nếu
muốn dệt y cho tôi th́ phải dệt cho rộng, dài, đẹp,
bền chắc, tỉ mỉ, mới đúng là y tôi thọ
tŕ. Nếu không phải là thứ y mà tôi cần thọ tŕ
th́ tôi không cần.»
Ông thợ
dệt nói:
«Loại y
như Đại đức nói th́ số chỉ này không đủ
để dệt thành y.»
Bạt-nan-đà
nói rằng:
«Ông cứ
dệt, tôi sẽ t́m thêm chỉ đem đến cho đủ.»
Sáng hôm
ấy, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát đến
nhà cư sĩ, ngồi trên chỗ ngồi dọn sẵn,
rồi nói với vợ cư sĩ rằng:
«Trước
đây ông cư sĩ có đem chỉ đến thợ
dệt bảo dệt y cho tôi, nay số chỉ ấy không đủ
để dệt.»
Vợ cư
sĩ nghe nói liền đem cái rương đựng
chỉ ra và nói với Bạt-nan-đà rằng:
«Cần
nhiều hay ít tùy ư ngài cứ lấy.»
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà lựa lấy những thứ
chỉ tốt theo ư muốn của ḿnh, rồi đem đến
thợ dệt nói rằng:
«Tôi đă
cung cấp đủ số chỉ như đă hứa. Ông
cứ dệt thành y cho tôi.»
Thợ
dệt bảo rằng:
«Nếu
dệt theo kiểu y mà Đại đức nói, th́
phải trả thêm tiền công cho tôi.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Ông cứ
dệt như vậy. Tôi sẽ trả thêm tiền công.»
Bấy
giờ, thợ dệt dệt y xong, đem đến cho
vợ cư sĩ. Cũng lúc ấy, ông cư sĩ vừa
từ nơi khác về, hỏi vợ rằng:
«Trước
đây tôi đưa chỉ cho thợ dệt, bảo
dệt y cho Bạt-nan-đà Thích tử. Nay y ấy đă
dệt xong chưa?»
Người
vợ bảo rằng:
«Y ấy đă
dệt xong rồi. Nó đây này.»
Người
chồng bảo đem y đến xem. Người vợ
mở rương ra cho chồng xem. Ông chồng nói với
vợ rằng:
«Y này không
phải là kiểu y mà trước đây tôi bảo thợ
dệt dệt.»
Bà vợ
bảo:
«Chính y này đây.»
Ông chồng
nói rằng:
«Chỉ mà
bữa trước tôi đưa bảo thợ dệt
dệt y, th́ đây không phải là y đó.»
Bấy
giờ, bà vợ mới tŕnh bày đầy đủ nhơn
duyên cho chồng. Hai vợ chồng mở y ra xem. Khi
ấy, Bạt-nan-đà lại đến nhà cư sĩ,
hỏi rằng:
«Trước
đây hai ông bà bảo thợ dệt dệt y cho tôi, có
phải cái này không?»
«Vâng chính cái
này đây.»
«Như
vậy có thể cho tôi nhận.»
Cư sĩ
liền cơ hiềm rằng:
«Sa-môn Thích
tử thọ nhận không biết nhàm chán, không biết
hổ thẹn. Bên ngoài tự nói ‹Tôi biết chánh pháp.›
Nhưng như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp? Đến nơi người xin y, tuy kẻ cho
không nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ
chứ! Cho đến chỗ vắng cũng không được
nói năng.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo khất thực nghe như vậy
rồi, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử rằng:
«Sao lại tham lam đi xin y nơi người?»
Hiềm
trách rồi về đến trong Tăng-già-lam, đem nhơn
duyên này nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo nghe, trong
số đó có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm
quư, hiềm trách Bạt-nan-đà: «Sao lại tham lam đi
xin y nơi người?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ
với đức Thế tôn.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo quở trách Bạt-nan-đà:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại tham lam đi xin y nơi người?»
Dùng vô
số phương tiện, đức Thế tôn quở
trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay
về sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười
cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, có cư sĩ[131] hay vợ cư sĩ khiến
thợ dệt v́ tỳ-kheo dệt làm y. Tỳ-kheo kia bèn đến
nhà thợ dệt nói rằng: ‹Ông biết chăng? Y này vốn làm cho tôi. Hăy dệt cho
khéo, khiến cho rộng, dài, bền chắc, tỉ mỉ.
Tôi sẽ trả công cho ít nhiều.› Tỳ-kheo kia trả
công, dù chỉ đáng giá một bữa ăn; nếu
nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn, v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ, có các cư sĩ cúng y cho tỳ-kheo
với yêu cầu tùy ư, thưa:
«Đại
đức cần loại y nào?»
Các tỳ-kheo
nghi, không dám trả lời. Đức Phật dạy:
«Nếu trước
đó họ yêu cầu tùy ư mà cúng y, th́ nên tùy ư trả
lời.»
Hoặc có cư
sĩ muốn dâng y quư giá cho tỳ-kheo mà tỳ-kheo ấy
là vị thiểu dục tri túc, muốn được y
không quư giá, mà nghi không dám nói, đức Phật dạy:
«Từ nay
về sau cho phép vị thiểu dục tri túc đ̣i hỏi
y không quư giá theo ư muốn của ḿnh.»
Từ nay
về sau sẽ nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, có cư sĩ hay vợ cư sĩ khiến thợ
dệt v́ tỳ-kheo dệt làm y. Tỳ-kheo kia trước
không được yêu cầu tùy ư, mà lại đến
chỗ thợ dệt nói rằng: ‹Ông biết chăng? Y này vốn
làm cho tôi. Hăy dệt cho khéo, khiến cho rộng, dài, bền
chắc, tỉ mỉ. Tôi sẽ trả công cho ít nhiều.›
Tỳ-kheo kia trả công, dù chỉ đáng giá một
bữa ăn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư
sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trên.
Tỳ-kheo
trước không được yêu cầu tùy ư,[132] bèn đến t́m cầu y;
nếu được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề;
không được y, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la.
Khi xả,
phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là…, trước đó
không được yêu cầu tùy ư, bèn đến t́m cầu
được y tốt, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết nên tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước đó
không được nhận yêu cầu tùy ư bèn đến
t́m cầu được y tốt, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự
sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói
với người kia rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Vị
tỳ-kheo kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả lại y cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch
nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một
vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước
không được yêu cầu tùy ư, lại đến t́m cầu
được y tốt, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trả y lại
cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước
không được yêu cầu tùy ư, bèn đến t́m cầu
được y tốt, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nay Tăng trả lại y cho tỳ-kheo có tên
này. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả y
lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng
ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng
đồng ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như
vậy.»
Tỳ-kheo
kia, trong Tăng đă xả y rồi mà Tăng
không hoàn lại, đột-kiết-la. Nếu có người
bảo «đừng trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người,
hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc
cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y,
hoặc mặc thường xuyên, tất cả đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Trước
đă được yêu cầu tùy ư đến t́m cầu
biết đủ, t́m cầu giảm thiểu. Hoặc đến
nơi thân lư xin, hoặc không xin mà được th́ không
phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
[626a2]
Một thời, đức
Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc,
rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy
giờ, người đệ tử của Tôn giả
Nan-đà có khả năng khuyến hóa khéo léo, được
Bạt-nan-đà bảo rằng:
«Nay ông cùng
tôi du hành trong nhân gian. Tôi sẽ biếu y cho ông.»
Đệ
tử của Tôn giả Nan-đà chấp thuận.
Bạt-nan-đà liền trao y cho. Sau đó, các tỳ-kheo
khác nói với đệ tử của Tôn giả Nan-đà
rằng:
«V́ cớ ǵ
mà ông cùng Bạt-nan-đà du hành trong nhân gian?
Bạt-nan-đà là người si, không biết tụng
giới, không biết thuyết giới, không biết
bố-tát, không biết yết-ma bố-tát.»
Tỳ-kheo
kia liền đáp rằng:
«Nếu
thật vậy th́ tôi sẽ không đi theo nữa.»
Sau đó,
Bạt-nan-đà bảo rằng:
«Ông cùng tôi
du hành trong nhơn gian.»
Đệ
tử của
A-nan-đà liền đáp:
«Thầy
tự đi. Tôi không thể đi theo thầy được.»
Bạt-nan-đà
nói rằng:
«Sở
dĩ trước đây tôi cho ông y là muốn ông cùng tôi du
hành nhơn gian. Nay ông không đi th́ trả y lại cho tôi.»
Tỳ-kheo
nói rằng:
«Đă cho
rồi, không trả lại.»
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà nổi giận, liền cưỡng
đoạt lấy y lại. Tỳ-kheo kia lớn tiếng
bảo:
«Đừng
làm vậy, đừng làm vậy!»
Các
tỳ-kheo ở pḥng gần nghe tiếng kêu la, đều
tập trung lại, hỏi tỳ-kheo này rằng:
«Sao thầy
la lớn tiếng?»
Khi ấy,
tỳ-kheo mới đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ
với các tỳ-kheo.
Trong số
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm
quư, hiềm trách Bạt-nan-đà rằng:
«Tại sao đă
cho y tỳ-kheo rồi, v́ giận hờn mà đoạt
lại?»
Hiềm
trách rồi đến chỗ đức Thế tôn đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch lại một cách đầy
đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn
tập họp Tăng tỳ-kheo quở trách
Bạt-nan-đà:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại v́ giận hờn mà đoạt y đă
cho người lại?»
Dùng vô
số phương tiện quở trách rồi, đức
Thế tôn nói với các tỳ-kheo:
«Đây là người
si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú
nghĩa cho đến chánh pháp lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, trước đă cho y cho tỳ-kheo khác; sau v́ giận
hờn tự ḿnh đoạt hay sai người đoạt
lại nói rằng: ‹Hăy trả y lại tôi, tôi không cho ngài.› Nếu tỳ-kheo
kia trả y, tỳ-kheo này nhận lấy, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y: có mười loại, như trên đă nói.
Nếu
tỳ-kheo nào đă cho y cho tỳ-kheo, sau đó v́ giận
hờn hoặc tự ḿnh đoạt lại, hay sai người
đoạt lại, lấy đem cất, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Nếu đoạt lại mà không
dấu cất, phạm đột-kiết-la.
Nếu y
được máng trên cây, để trên tường, trên
rào, trên nọc, trên móc áo[134], trên giá y, hoặc trên giường
cây, giường dây, hoặc trên nệm nhỏ nệm
lớn, trên ghế nhỏ; hoặc trải trên đất;
lấy khỏi chỗ của nó, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Lấy mà không ĺa khỏi chỗ, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả
cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng
tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă cho y tỳ-kheo
rồi, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm
xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo
rồi, sau ăn năn, v́ giận hờn đoạt lại,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này.
Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên
bảo với người kia rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả y lại cho tỳ-kheo này liền bằng bạch
nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một
vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo
rồi, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm
xả đoạ, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên… Đây là lời
tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo
, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả
đoạ, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại
cho tỳ-kheo này, trưởng lăo nào chấp thuận Tăng
trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này th́ im lặng. Vị
nào không đồng ư nên nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận
như vậy.»
Nếu trong
Tăng, đă xả y rồi mà Tăng không trả lại,
đột-kiết-la. Nếu có ai bảo «đừng
trả», người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí, hoặc tự làm ba y, hoặc sai
cho người, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố
làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi y,
hoặc mặc thường xuyên, tất cả đều
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Không
v́ giận hờn mà nói: «Tôi hối tiếc, không muốn cho
y cho thầy, trả y lại cho tôi.» Nếu người
kia cũng biết tâm người này có sự hối
tiếc, liền trả y lại. Hoặc người khác
nói: «Tỳ-kheo này hối tiếc, nên trả y lại cho người
ta.» Hoặc mượn y của người khác mặc; người
khác mặc mà không hợp đạo lư đoạt lấy
lại th́ không phạm. Nếu sợ mất y hoặc
sợ hư hoại, hoặc người kia phá giới,
phá kiến, phá oai nghi, hoặc bị cử tội,
hoặc diệt tẫn, hoặc đáng phải diệt
tẫn, hoặc v́ việc này đưa đến mạng
nạn, phạm hạnh nạn; v́ các trường hợp
trên đoạt lấy lại mà không cất chứa.
Tất cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
[135]
Một
thời, đức Phật ở trong vườn
Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ, các tỳ-kheo gặp gió mùa thu phát
sanh bệnh, nên thân h́nh gầy c̣m, lại sanh ghẻ
lở. Đức Thế tôn ở nơi nhàn tịnh,
nghĩ rằng[137] «Hiện nay là mùa thu, các
tỳ-kheo gặp phải gió độc sanh bệnh, thân
h́nh gầy c̣m, lại sanh ghẻ dữ. Ta cần thích nghi
khiến các tỳ-kheo được uống các loại
thuốc, vừa là thức ăn mà vừa là thuốc
uống, như ăn cơm hay cơm khô, không nên để
cho bày cái vẻ thô xấu ra.»[138] Ngài lại nghĩ: «Hiện
tại có năm thứ thuốc mà người đời
biết như váng sữa, dầu, bơ, mật, đường
mía.[139] Các tỳ-kheo được
phép dùng năm thứ thuốc này, vừa là thức ăn
mà vừa là thuốc uống như cơm, cơm khô, không
nên để cho bày cái vẻ thô xấu ra.»
Bấy
giờ, đức Thế tôn từ nơi tịnh thất
đi ra, v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,
bảo rằng:
«Ta vừa
ở nơi tịnh thất, khởi lên ư nghĩ: ‹Hiện
nay là mùa thu, các tỳ-kheo gặp phải gió độc sanh
bệnh, thân h́nh gầy c̣m, lại sanh ghẻ dữ. Ta
cần thích nghi khiến các tỳ-kheo được
uống các loại thuốc, vừa là thức ăn mà
vừa là thuốc uống, như ăn: cơm, cơm khô,
không nên để cho thô hiện.› Ta lại nghĩ:
‹Hiện tại có năm thứ thuốc mà người đời
biết như váng sữa, dầu, [627a1]
bơ tươi,
mật, mật mía. Các tỳ-kheo được phép dùng năm
thứ thuốc này, vừa là thức ăn mà vừa là
thuốc uống như cơm, cơm khô, không nên để
cho bày cái vẻ thô xấu ra.» Bởi vậy, cho nên cho phép
các tỳ-kheo uống năm thứ thuốc khi có nhân duyên
bệnh.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nhận được các thức ăn
ngon béo, hay nhận được thịt, canh thịt, nhưng
không thể ăn kịp thời[140] huống chi năm thứ
thuốc này làm sao kịp thời để uống? Do
vậy, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không
thuyên giảm, h́nh thể vẫn gầy c̣m, lại sanh các
loại ghẻ lở.
Bấy
giờ, đức Thế tôn biết mà vẫn hỏi Tôn
giả A-nan:
«Các
tỳ-kheo này sao h́nh thể gầy c̣m, lại sanh các
loại ghẻ lở?»
Tôn giả A-nan bạch Phật:
«Các tỳ-kheo bệnh này tuy đă nhận được thức ăn ngon béo, được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời; huống chi năm thứ thuốc này làm sao kịp thời để uống. Do đó, thuốc tuy chứa nhiều mà bệnh vẫn không lành, cho nên h́nh thể vẫn gầy c̣m, vẫn sanh ghẻ lở.»
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo v́ bệnh duyên, dù thời hay phi thời, cũng được uống năm thứ thuốc này.»
Khi ấy, các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn nên kêu la inh ỏi. Lúc bấy giờ, đức Thế tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả A-nan:
«Tại sao các loài chim kêu la như thế ?»
Tôn giả A-nan bạch Phật:
«Các tỳ-kheo bệnh nhận được đồ ăn thức uống ngon bổ, nhận được thịt, canh thịt, nhưng không thể ăn kịp thời, nên đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn no rồi nên không ăn nữa, đem thức ăn ấy bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn nên kêu la inh ỏi như thế.»
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Từ nay về sau cho phép thức ăn dư của bệnh nhơn, người nuôi bệnh dù đă ăn đủ no hay ăn chưa đủ no, được phép ăn theo ư ḿnh.»[141]
Khi ấy, các tỳ-kheo buổi sáng thọ tiểu thực rồi vào thôn khất thực. Ăn đủ no rồi, trở lại trong Tăng-già-lam, đem thức ăn đă nhận khi sáng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo v́ đă ăn no rồi nên không ăn nữa, đem bỏ ra ngoài. Các loài chim tranh nhau ăn kêu la. Bấy giờ, đức Thế tôn biết mà vẫn cố hỏi Tôn giả A-nan:
«Tại sao các loài chim kêu la như thế ?»
Tôn giả A-nan đem nhân duyên trên thưa đầy đủ lên đức Phật, v́ vậy cho nên các loài chim kêu la.
Đức Phật dạy Tôn giả A-nan:
«Từ nay về sau, nếu đă nhận thức ăn tiểu thực rồi, hoặc ăn no rồi, cho phép làm pháp dư thực để ăn.»
Làm pháp dư thực như sau:
«Bạch Đại đức, tôi đă ăn no rồi. Ngài xem cho, biết cho.»
Đó là cách tác pháp dư thực.
Vị kia nên nói rằng:
«Hăy ngăn ḷng tham của ngươi!»
Nên làm pháp dư thực như vậy rồi ăn. (Có những nhơn duyên khác như trong ba-dật đề, nói về pháp dư thực giống nhau nên không chép ra).[142]
Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bị bệnh phong.[143] Thầy thuốc bảo dùng năm loại mỡ: mỡ gấu, mỡ cá, mỡ lừa, mỡ heo, mỡ cá ma-kiệt.[144] Cho phép dùng năm loại mỡ này, thọ nhận đúng lúc, nấu đúng lúc, và lọc đúng lúc, uống như phép dùng dầu. Nếu nhận không đúng lúc, nấu không đúng lúc, lọc không đúng lúc mà sử dụng th́ trị như pháp.[145]
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn, từ nước Xá-vệ, du hành trong nhơn gian cùng đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo.
Bấy giờ là lúc lúa gạo khan hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó khăn, lại có năm trăm người hành khất đi theo sau đức Thế tôn. Khi đức Thế tôn an tọa dưới một bóng cây, th́ có tượng sư Tư-ha Tỳ-la-trà[146] chở năm trăm chiếc xe đường mía từ con đường kia đi lại.[147] Bấy giờ, tượng sư thấy trên đường có dấu chân với bánh xe ngh́n nan hoa của đức Như Lai, hiện rơ ra tướng ánh sáng trong sạch đẹp đẽ, đầy đủ. Thấy vậy, tượng sư theo dấu chân t́m đến. Từ xa trông thấy đức Thế tôn an toạ dưới bóng cây, dung nhan đoan chánh, các căn tịch định, đă hoàn toàn được chế ngự, như voi chúa đă thuần thục; cũng như suối nước trong veo sạch sẽ, trong ngoài đều thanh tịnh. Thấy vậy, tượng sư phát ḷng hoan hỷ, đến chỗ đức Như Lai, trước mặt ngài, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện v́ tượng sư nói pháp vi diệu khiến cho tượng sư sanh tâm hoan hỷ, rồi cúng dường các tỳ-kheo mỗi vị một bát đường mía. Các tỳ-kheo không dám thọ nhận:
«Đức Như lai chưa cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường mía đen[148].»
Và các Tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn bảo:
«Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận đường mía đen.»
Đức Phật nói với tượng sư:
«Chỉ cần một chum đường cũng đủ cho các tỳ-kheo.»[149]
Tượng sư phụng hành lời dạy của Như Lai, đem một chum đường phân phát cho các tỳ-kheo rồi, số đường vẫn c̣n dư. Đức Phật bảo tượng sư:
«Ông cứ tùy ư tiếp tục phân phối đầy đủ cho đến ba lần.»
Bấy giờ, tượng sư vâng lời Phật dạy, phân phối đầy đủ ba lần, nhưng vẫn dư. Đức Phật bảo tượng sư:
«Ông có thể đem số đường c̣n thừa cho những người hành khất.»
Tượng sư liền đem cho họ mà vẫn c̣n. Đức Phật bảo nên cho họ đến ba lần. Tượng sư cho họ ba lần mà vẫn cứ c̣n thừa. Đức Phật bảo tượng sư:
«Nay ông đem số đường mía thừa này đổ nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Tại sao vậy? V́ ta không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn và người đời nào ăn loại đường dư này mà có thể tiêu hoá được, chỉ trừ một người là Như Lai.»
Tượng sư liền đem đường mía dư để nơi tịnh địa, trong nước không có trùng. Khi đổ vào trong nước, nước chấn động thành âm thanh, phát sanh khói như đốt lửa, giống như nung một cục sắt đỏ rồi bỏ vào trong nước. Đường mía dư đổ vào nước, có âm thanh chấn động và phát sanh ra khói, cũng giống như vậy. Tượng sư mục kích sự biến động lạ thường như vậy, lông trong người đều dựng ngược lên, ôm ḷng sợ sệt, liền đến chỗ đức Thế tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên vừa rồi bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế tôn thấy tượng sư sợ sệt, liền v́ ông mà nói pháp vi diệu, nói về phước của bố thí, tŕ giới, và sanh thiên, chỉ trích dục là bất tịnh, khen ngợi sự xuất ly. Tượng sư liền từ chỗ ngồi dứt sạch các trần cấu, đạt được pháp nhăn tịnh, kiến pháp, đắc pháp, chứng được quả, rồi bạch Phật rằng:
«Từ nay về sau con xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi xin đức Thế tôn cho con làm người ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sanh, cho đến không uống rượu.»
Bấy giờ, tượng sư nghe nói pháp, mọi trói buộc được khai giải, sanh ḷng hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng rồi cáo lui.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo vào trong thôn khất thực, thấy người ta làm đường mía có trộn tạp vật vào, nên nghi, không dám ăn khi phi thời. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Cho phép dùng phi thời. V́ cách làm đường nó như vậy.»
Các tỳ-kheo nhận được loại đường mía chưa thành, nghi. Phật dạy: «Cho phép dùng.» Nhận được loại đường mía lỏng, đường mía đặc, Phật đều cho phép dùng. Loại đường trắng, Phật cũng cho dùng. Đường mía pha nước, Phật cũng cho dùng. Nước mía chưa đun chín cho uống. Đun chín rồi, không cho uống, nếu uống trị như pháp. Được mía cây, Phật cho dùng đúng thời.
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn du hành trong nhơn gian từ biên giới nước Ma-kiệt-đà, đến thành La-duyệt.
Khi ấy Tất-lăng-già-bà-ta [150] có nhiều người quen ở trong thành này, và có nhiều đồ chúng. Khi nhận được nhiều phẩm vật cúng dường như váng sữa, dầu, bơ tươi, mật, đường mía, đều cho các đệ tử. Các đệ tử được thầy cho, chứa đầy cả lu lớn, b́nh, bát lớn, bát nhỏ, trong đăy đựng bát, đăy lọc nước v.v… đem treo lên trụ cây, trên móc áo, nơi cửa sổ, treo khắp các nơi, rỉ chảy lung tung, khiến pḥng xá bị hôi thối.
Bấy giờ, các trưởng giả đến thăm, vào pḥng thấy dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa băi như vậy, đều hiềm trách rằng: «Sa-môn Thích tử không biết dừng nghỉ, cầu nhiều [628a1] không nhàm chán. Bên ngoài tự xưng là ta biết Chánh pháp. Nhưng như vậy th́ làm ǵ có Chánh pháp! Dồn chứa nhiều loại thuốc, như kho tàng của Vua B́nh-sa không khác.»
Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách đệ tử của Tất-lăng-già-bà-ta: «Sao lại dồn chứa, tích trữ các loại thuốc nhiều một cách bừa băi như vậy?»
Hiềm trách rồi đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách đệ tử của Tất-lăng-già-bà-ta rằng:
«Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại dồn chứa nhiều loại thuốc đến rỉ chảy lung tung như kho đồ chứa của Vua B́nh-sa không khác?»
Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào có bệnh, các loại thuốc dư tàn[151] như tô, dầu, sanh tô, mật, đường mía,[152] được dùng trong ṿng bảy ngày. Nếu quá bảy ngày mà c̣n dùng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bệnh: được thầy thuốc bảo phải uống thứ thuốc nào đó.
Thuốc: tô, dầu, sanh tô, mật, đường mía.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất được thuốc, chứa cất; ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư cho đến ngày thứ bảy được thuốc, chứa cất. Ngày thứ tám, khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong bảy ngày, ni-tát-kỳ ba-dật- đề.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai không nhận được thuốc. Ngày thứ ba nhận được thuốc, ngày thứ tư nhận được thuốc, như vậy cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến bảy ngày không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).[153]
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được thuốc. Ngày thứ tư nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong năm ngày đều Ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được
thuốc, ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư
không nhận được thuốc, ngày thứ năm
nhận được thuốc (như vậy chuyển
lần xuống cho đến ngày thư sáu, ngày thứ
bảy không nhận được thuốc, đặt câu
văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận được thuốc. Ngày thứ năm nhận được thuốc, cho đến ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong bốn ngày đều Ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được thuốc. Ngày thứ sáu, ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong ba ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc. Ngày thứ bảy nhận được (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được thuốc. Ngày thứ bảy nhận được thuốc. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, ngày thứ hai nhận được thuốc. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được thuốc, đặt câu văn cũng như vậy).
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được, cho đến ngày thứ bảy không nhận được. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc, không tịnh thí. Ngày thứ hai được thuốc tịnh thí. Ngày thứ ba được thuốc, cho đến ngày thứ bảy được thuốc không tịnh thí. Ngày thứ tám khi b́nh minh xuất hiện, số thuốc nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ.
Tỳ-kheo nào ngày thứ nhất nhận được thuốc không tịnh thí. Ngày thứ hai được thuốc, ngày thứ ba được thuốc tịnh thí, ngày thứ tư được thuốc không tịnh thí (như vậy chuyển lần xuống cho đến ngày thứ bảy được thuốc tịnh thí, không tịnh thí, đặt câu văn cũng như trên). Sai cho người (đặt câu văn cũng như trên).
Hoặc mất, hoặc cố làm hư hoại, hoặc làm phi dược, hoặc tác ư để thân hậu lấy, hoặc quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên) đều ni-tát-kỳ.
Nếu thuốc phạm xả đọa mà không xả lại để lấy thuốc khác th́ phạm một ni-tát-kỳ, một đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người. Không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là…, đă cố ư chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước phải tác bạch như vầy:
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cố ư chứa thuốc dư quá bảy ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên… này. Đây là lời tác bạch.»
Bạch rồi sau đó mới thọ sám, nên bảo người kia rằng:
«Hăy tự trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo phạm tội thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên trả thuốc lại cho tỳ-kheo kia. Vật sở hữu quá bảy ngày của tỳ-kheo kia như bơ, dầu th́ nên thoa vào cửa, nơi bị kêu; mật, thạch mật th́ cho người giữ vườn. Hoặc đến ngày thứ bảy xả cho tỳ-kheo, tỳ-kheo kia nên lấy ăn. Nếu dưới bảy ngày th́ nên trả lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cố ư chứa thuốc dư, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn thuốc lại cho Tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cố ư chứa thuốc dư, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Tăng nay hoàn lại thuốc cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng hoàn thuốc lại cho tỳ-kheo có tên… này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă chấp thuận trả lại thuốc cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng đồng ư nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo này lấy thuốc lại rồi nên dùng thoa gót chân, hoặc dùng để đốt đèn. Đă xả cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có vị nào bảo «đừng trả», vị ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người khác, hoặc cố làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi dược, hoặc uống thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nếu thuốc quá bảy ngày kia là bơ, là dầu, dùng
thoa cửa, chỗ có tiếng kêu. Nếu là mật,
thạch mật cho người giữ vườn dùng,
hoặc đến ngày thứ bảy xả cho tỳ-kheo
dùng. Nếu chưa đủ bảy ngày, hoàn lại cho
tỳ-kheo kia dùng thoa gót chân, hoặc đốt đèn th́
không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, Một thời đức Phật ở vườn
Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu
[155] thỉnh Phật và Tăng
tỳ-kheo ngày mai thọ thực.
Liền
trong đêm đó, bà sửa soạn đầy đủ
các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ. Sáng
sớm, sai tỳ nữ đến trong Tăng-già-lam
thỉnh Phật và Tăng đă đến giờ phó trai.[156]
Hôm ấy
nhằm ngày trời mưa như trút nước.[157] Lúc bấy giờ, đức
Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
«Ngày hôm nay,
các ông ra hết ngoài mà tắm mưa. Trận mưa ngày hôm
nay là cuối mùa. Như bây giờ Diêm phù đề đang
mưa, nên biết trong cả bốn thiên hạ cũng
vậy.»
[629a1]
Các tỳ-kheo nghe đức
Phật dạy rồi, đều lơa h́nh mà ra khỏi pḥng để
tắm.
Khi ấy,
tỳ nữ đến ngoài cửa Tăng-già-lam, nh́n vào
thấy các tỳ-kheo đều đang lơa h́nh tắm, bèn
nghĩ: «Nơi đây không có sa-môn, mà tất cả đều
là loă h́nh ngoại đạo.» Tỳ nữ chạy về
báo cáo với Tỳ-xá-khư Mẫu:
«Đại
gia nên biết, ở trong Tăng-già-lam, tất cả đều
là ngoại đạo lơa h́nh chứ không có sa-môn.»
Tỳ-xá-khư
Mẫu là người nữ thông minh trí tuệ, liền
nghĩ: «Vừa rồi trời mưa. Có lẽ các
tỳ-kheo thoát y, loă h́nh tắm dưới mưa. Tỳ
nữ không biết nên báo cáo như vậy.» Tỳ-xá-khư
Mẫu sai tỳ nữ trở lại nơi Tăng-già-lam,
bạch các tỳ-kheo là: «Đă đến giờ rồi.»
Tỳ nữ liền trở lại bên ngoài Tăng-già-lam,
nh́n vào không thấy vị nào cả. V́ lúc ấy, các
tỳ-kheo tắm đă xong, mặc y, vào pḥng tĩnh
tọa tư duy. Tỳ nữ đứng bên ngoài cửa,
thấy Tăng-già-lam vắng vẻ, không người.
Lại nghĩ: «Hiện tại Tăng-già-lam trống
vắng không có tỳ-kheo.» Liền trở về thưa
với Tỳ-xà-khư Mẫu rằng:
«Đại
gia nên biết, trong Tăng-già-lam trống vắng, không có
vị tỳ-kheo nào cả.»
Tỳ-xá-khư
Mẫu là người trí tuệ thông minh, liền nghĩ
rằng: «Chư tỳ-kheo tắm xong, chắc các ngài vào
tịnh tọa tư duy. Tỳ nữ không biết nên nói là
trong Tăng-già-lam trống vắng, không có vị tỳ-kheo
nào.» Do vậy, Tỳ-xá-khư Mẫu lại bảo tỳ
nữ chạy vội lại trong Tăng-già-lam, cao
tiếng thưa:
«Đă đến
giờ rồi.»
Bấy
giờ, đức Thế tôn từ trong tịnh thất bước
ra, nói với tỳ nữ rằng:
«Ngươi
về trước. Ta sẽ đến ngay bây giờ.»
Đức
Thế tôn bảo các tỳ-kheo, giờ đă đến
rồi, nên đắp y, bưng bát. Các tỳ-kheo vâng
lời Phật dạy, thảy đều đắp y, bưng
bát. Đức Thế tôn cùng đại Tăng tỳ-kheo
một ngàn hai trăm năm mươi vị, như
lực sĩ co duỗi cánh tay, từ Kỳ-hoàn tịnh xá
hốt nhiên biến mất, và xuất hiện nơi nhà
của Tỳ-xá-khư Mẫu, an tọa nơi chỗ
ngồi, y phục không ướt, tất cả đều
như vậy.
Sau đó,
tỳ nữ mới về đến nhà, thấy đức
Thế tôn và Tăng tỳ-kheo đă đến nhà trước,
chỗ ngồi đă ổn định, y phục không ướt.
Thấy vậy liền khởi ư niệm: «Đức
Thế tôn thật là kỳ diệu đặc biệt, có
đại thần lực; đi sau mà lại đến trước
ḿnh.»
Bấy
giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu dùng các đồ ăn
thức uống ngon bổ cúng dường Phật và Tăng
tỳ-kheo. Ăn xong, cất dọn bát, Tỳ-xá-khư
Mẫu đặt ghế thấp ngồi phía trước,
bạch Phật rằng:
«Cúi xin đức
Thế tôn cho phép con được thỉnh nguyện.»
Đức
Phật nói với Tỳ-xá-khư Mẫu:
«Như lai
không cho mọi người quá điều thỉnh
nguyện.»[158]
Tỳ-xà-khư
Mẫu lại bạch Phật rằng:
«Bạch Đại
đức, nếu nguyện thanh tịnh và khả thi, xin
ban cho con.»
Đức
Phật dạy:
«Tùy ư.»
Tỳ-xà-khư
Mẫu bạch đức Thế tôn rằng:
«Hoặc có
các tỳ-kheo khách nào từ phương xa đến chưa
biết nơi chốn. Nguyện Thế tôn cho phép con được
cúng dường thức ăn cho tỳ-kheo khách; trọn
đời cung cấp.[159]»
Lại
bạch Thế tôn:
«Tỳ-kheo
muốn đi xa, có thể v́ sự ăn mà không theo kịp
đồng bạn.[160] Nguyện Thế tôn cho phép con
cúng thức ăn cho tỳ-kheo đi xa; trọn đời
cúng dường.»
«Các
Tỳ-kheo bệnh, nếu không được thức ăn
hợp với chứng bệnh th́ có thể mạng chung.
Nếu được thức ăn hợp với
bệnh th́ sẽ được lành bệnh. Nguyện
Thế tôn cho phép con trọn đời được cúng
dường thức ăn cho các vị tỳ-kheo bệnh.»
Lại
bạch Thế tôn:
«Các
tỳ-kheo bệnh, nếu không có thuốc hợp với
bệnh th́ có thể mạng chung. Nếu được
thuốc hợp với bệnh th́ bệnh sẽ được
lành. Nguyện Thế tôn cho phép con trọn đời được
cúng dường thuốc trị bệnh cho các tỳ-kheo
bệnh.
«Các
tỳ-kheo nuôi bệnh, lại tự ḿnh đi khất
thực nên không chu toàn việc chăm sóc người
bệnh. Nguyện Thế tôn cho phép con trọn đời được
cúng dường thức ăn cho người nuôi bệnh.
«Đức
Thế tôn cho phép các tỳ-kheo nước
A-na-tần-đầu
[161] được ăn cháo.[162] Nếu đức Thế tôn
cho phép các tỳ-kheo đó ăn cháo th́ con xin nguyện trọn
đời được cúng dường cháo.
«Sáng nay, con
sai tỳ nữ đến trong Tăng-già-lam để
bạch đến giờ thọ thực. Các tỳ-kheo đều
lơa h́nh tắm trong mưa. Cúi xin đức Thế tôn cho
phép con trọn đời được cung cấp áo
tắm mưa[163] cho các tỳ-kheo.»
Lại
bạch Thế tôn:
«Con có chút nhơn
duyên, đến bên bờ sông A-di-la-bạt-đề,[164] thấy các tỳ-kheo-ni lơa h́nh
mà tắm. Khi ấy có các tặc nữ, dâm nữ, đến
chỗ các tỳ-kheo-ni nói rằng: «Các cô tuổi nhỏ,
dung mạo đoan chánh, dưới nách chưa có lông. Bây
giờ đến tuổi trẻ khoẻ, sao không tập
chuyện ái dục. Hăy để tuổi già sẽ tu
tập phạm hạnh. Như vậy, cả hai đều
được cả?» Trong số các tỳ-kheo-ni trẻ
tuổi này có vị liền sanh tâm không vui. Cúi xin đức
Thế tôn cho phép con trọn đời được cung
cấp áo tắm cho tỳ-kheo-ni.»
Lúc bấy
giờ, đức Phật nói với Tỳ-xá-khư
Mẫu:
«Bà v́
mục đích ǵ mà thỉnh nguyện tám điều như
vậy»
Tỳ-xá-khư
Mẫu bạch Phật rằng:
«Nếu có
tỳ-kheo từ phương xa đến, bạch Thế
tôn rằng: ‹Có tỳ-kheo tên như vậy đă qua đời.
Vị ấy sanh về chỗ nào?› Lúc bấy giờ, đức
Thế tôn liền kư thuyết cho rằng, trong bốn đạo
quả ắt sẽ chứng hoặc quả Tu-đà-hoàn,
hoặc quả Tư-đà-hàm, hoặc quả A-na-hàm,
hoặc quả A-la-hán. Và con sẽ thưa hỏi: ‹Vị
tỳ-kheo qua đời kia đă từng đến nước
Xá-vệ này chưa?› Nếu con được nghe biết
là vị ấy đă từng đến. Con lại
khởi lên ư nghĩ, ‹Vị khách tỳ-kheo ấy đă
từng nhận đồ ăn do con cúng dường các
tỳ-kheo khách mới đến.›
«Hoặc các
tỳ-kheo sắp đi xa nhận thức ăn. Hoặc
các tỳ-kheo bệnh nhận thức ăn. Hoặc các
tỳ-kheo bệnh nhận thuốc. Hoặc người
nuôi bệnh nhận thức ăn. Hoặc người
nhận cháo. Hoặc nhận y tắm mưa. Khi con nghe
những lời (kư thuyết) như vậy liền phát tâm
hoan hỷ. Khi đă phát tâm hoan hỷ rồi, con liền
xả bỏ các thân ác. Khi thân ác đă trừ bỏ
liền được thân lạc. Do đă được
thân lạc, tâm của con được chánh định.
Khi tâm được chánh định liền có khả năng
chuyên tâm tu tập căn, lực, và giác ư.»
Đức
Thế tôn khen:
«Lành thay,
lành thay! Tỳ-xá-khư Mẫu, những điều này là
thật. Tại sao vậy? Bà là đàn-việt thông minh trí
tuệ, thâm tín.»
Bấy giờ, đức Thế tôn v́ bà Tỳ-xá-khư Mẫu nói bài tụng:
Hoan hỷ cúng ẩm thực;
Đệ tử Phật tŕ giới.
Bố thí cho mọi người,
Hàng phục tâm keo kiết.
Nhân vui thọ báo vui,
Hằng được vui an ổn.
Được xứ sở thiên thượng;
Đạt Thánh đạo vô lậu.
Tâm vui với phước đức,
Khoái lạc không thể ví.
Được sanh nơi thiên thượng
Sống lâu thường an lạc!
Lúc bấy
giờ, đức Thế tôn dùng nhiều phương
tiện nói pháp cho Tỳ-xá-khư Mẫu, khuyến khích
khiến cho bà được hoan hỷ, liền từ
chỗ ngồi trở về trong Tăng-già-lam. V́ nhơn
duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, nói pháp tùy
thuận, dùng vô số phương tiện khen ngợi
hạnh đầu đà trang nghiêm tốt đẹp, khen
ngợi vui xuất ly, và bảo các tỳ-kheo khác rằng:
«Từ nay
về sau, Ta cho phép thức ăn cho các tỳ-kheo khách đến,
thức ăn cho tỳ-kheo sắp đi xa,[165] thức ăn cho tỳ-kheo
bệnh, thuốc cho tỳ-kheo bệnh, thức ăn cho người
nuôi bệnh,[166] cho phép ăn cháo, cho phép
nhận y tắm mưa cho tỳ-kheo và y tắm cho
tỳ-kheo-ni.»
Tỳ-xá-khư
Mẫu nghe đức Thế tôn cho phép các tỳ-kheo được
thọ dụng như vậy rồi, bà liền cung cấp
trọn đời từ thức ăn cho tỳ-kheo khách,
cho đến, y tắm cho tỳ-kheo-ni.
Xá-khư
mẫu sau khi nghe đức Phật cho phép rồi liền
may sắm nhiều y tắm mưa, sai người mang đến
trong Tăng-già-lam dâng cúng các tỳ-kheo. Các [630a1]tỳ-kheo bèn phân chia. Đức
Phật dạy:
«Không nên phân
chia. Tùy thứ tự, từ trên Thượng tọa
trở xuống mà trao. Nếu trao chưa đủ th́
nhớ theo thứ tự để sau trao tiếp. Kỳ
sau nhận được y th́ theo thứ tự đó trao
tiếp cho đủ.»
Có thí
chủ đem y quư giá đến, cũng theo thứ tự
mà trao. Đức Phật dạy:
«Không nên như
vậy. Phải theo thứ tự từ trên Thượng
tọa trở xuống mà hỏi. Nếu vị thượng
tọa ấy không cần th́ mới theo thứ tự mà
trao. Nếu không đủ th́ lấy phần y trong Tăng
có thể phân chia được, đem phân chia cho đủ.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo, khi nghe Phật cho phép tỳ-kheo
chứa y tắm mưa, nên suốt cả năm, xuân,
hạ cũng như đông, thường cầu y tắm
mưa. Họ không xả y tắm mưa mà đem dùng vào
việc khác. Hiện có y tắm mưa, nhưng họ
vẫn lơa h́nh mà tắm.
Các
tỳ-kheo nghe thấy, trong đó có vị thiểu dục
tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học
giới, biết hổ thẹn, hiềm trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Tuy đức
Như Lai đă cho phép tỳ-kheo chứa y tắm mưa, nhưng
sao trong suốt năm, xuân, hạ cũng như đông, các
thầy lại luôn luôn t́m cầu y tắm mưa? Không
xả y tắm mưa, lại đem dùng vào việc khác;
hiện có y tắm mưa tại sao vẫn loă h́nh mà
tắm?»
Các
tỳ-kheo quở trách rồi, đến chỗ đức
Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi qua một bên, đem duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc làm
của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao lại suốt năm t́m cầu y tắm mưa?»
Dùng vô
số phương tiện quở trách lục quần
rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây là
những người si, là nơi trồng nhiều
giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới
này ban đầu. Từ nay về sau ta v́ các tỳ-kheo
kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, mùa xuân c̣n một tháng có thể t́m cầu y tắm mưa;
c̣n lại nửa tháng, có thể dùng. Nếu tỳ-kheo quá
trước một tháng t́m cầu y tắm mưa, dùng quá
trước nửa tháng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y tắm mưa:
[167] Y dùng tắm trong khi mưa.
Y:
có mười loại như đă
nói trên.
Từ mười
sáu tháng ba,[168] tỳ-kheo nên t́m cầu y
tắm mưa. Từ mồng một tháng tư nên dùng.
Nếu tỳ-kheo trước ngày mười sáu tháng ba t́m
cầu y tắm mưa, trước mồng một tháng tư
sử dụng, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la.
Khi muốn xả cho Tăng, phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng
về Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên
hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, quá trước
một tháng t́m cầu y tắm mưa, dùng quá trước nửa
tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá trước
một tháng t́m cầu y tắm mưa, dùng quá trước nửa
tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
kia. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói
với người kia rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả y tắm mưa lại cho tỳ-kheo kia bằng
bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai
một người có khả năng tác pháp yết-ma,
dựa theo dự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá trước
một tháng t́m cầu y tắm mưa, sử dụng quá trước
nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo
có tên… này. Đây là lời tác bạch.»
Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, quá trước
một tháng t́m cầu y tắm mưa, sử dụng quá trước
nửa tháng, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nay Tăng trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo có
tên… này. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả
lại y tắm mưa cho tỳ-kheo có tên… này th́ im lặng.
Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
đồng ư trả lại y tắm mưa cho tỳ-kheo
này rồi. Tăng chấp nhận nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy. »
Đă
xả y tắm mưa cho Tăng rồi, Tăng không
trả lại, (Tăng) phạm đột-kiết-la. Khi
trả, có người nào bảo «đừng trả», người
ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc
tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm
cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc dùng
thường xuyên, tất cả đều phạm
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Ngày mười
sáu tháng ba t́m cầu, mồng một tháng tư sử
dụng. Hoặc xả y tắm mưa rồi mới dùng
làm các vật dụng khác. Hoặc mặc y tắm mà tắm.
Hoặc không có y tắm mưa. Hoặc làm y tắm.
Hoặc giặt nhuộm. Hoặc đưa đến
chỗ nhuộm.Tấ cả không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Lúc bấy
giờ, đức Phật hạ an cư ở tại
Tỳ-lan-nhă.[170]
Đức Phật bảo
A-nan:
«Ông đến
nói với bà-la-môn Tỳ-lan-nhă rằng:
‹Như Lai đă nhận lời thỉnh của ông, an cư
mùa hạ đă xong rồi, nay muốn du hành trong nhơn
gian.›»
Tôn giả
A-nan vâng lời Phật dạy đến chỗ bà-la-môn
Tỳ-lan-nhă nói với bà-la-môn rằng:
«Như Lai
nói với ông, ‹Như Lai nhận lời thỉnh của
ông, an cư mùa hạ đă xong, nay muốn du hành trong nhơn
gian.›»
Bấy
giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhă nghe Thế tôn nói như
vậy, liền nhớ lại: «Không có lợi, không có thiện
lợi ǵ cho ta! Ta không được ǵ, không điều
lành nào được cả! Tại sao vậy? V́ ta đă
thỉnh sa-môn Cù-đàm và chư Tăng an cư trong chín mươi
ngày vừa xong mà ta đă không cúng dường.»
Bấy
giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhă cùng A-nan đến chỗ đức
Thế tôn, kính lễ dưới chân Phật, đứng
lui qua một bên. Đức Thế tôn tuần tự v́
bà-la-môn Tỳ-lan-nhă nói pháp vi diệu. Bà-la-môn phát tâm hoan
hỷ, liền bạch đức Phật rằng:
«Cúi xin đức
Thế tôn và Tăng tỳ-kheo ở lại Tỳ-lan-nhă
thêm chín mươi ngày nữa theo lời thỉnh mời
của con.»
Đức
Phật nói với bà-la-môn:
«Như Lai đă
nhận lời thỉnh của ông, an cư mùa hạ chín mươi
ngày xong rồi. Nay muốn du hành trong nhơn gian.»
Bà-la-môn
lại bạch:
«Nguyện đức
Thế tôn và Tăng nhận lời mời thọ thực
của con vào sáng mai.»
Đức
Thế tôn im lặng nhận lời. Bà-la-môn biết đức
Thế tôn đă nhân lời bằng cách im lặng rồi,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, kính
lễ dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng, cáo lui
trở về nhà.
Trong đêm
ấy sắm sửa đầy đủ mọi thức ăn
ngon bổ. Sáng hôm sau, đến bạch Phật ‹đă
đến giờ.›
Đức
Thế tôn cùng Tăng gồm năm trăm vị
tỳ-kheo đắp y, bưng, bát đến nhà kia, an
tọa nơi chỗ ngồi. Bà-la-môn bưng thức ăn
ngon bổ đến dâng cúng Phật và Tăng tỳ-kheo,
khiến cho tất cả đều đầy đủ.
Thọ
thực xong, mỗi vị đều tự thâu bát. Bà-la-môn
dùng ba y dâng cúng đức Phật, và dâng cúng cho mỗi Tăng
tỳ-kheo hai y gọi là y an cư mùa hạ. Khi ấy, các
tỳ-kheo không dám nhận và nói với thí chủ rằng:
«Đức
Thế tôn chưa cho phép nhận y mùa hạ.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Phật. Phật bảo các
tỳ-kheo:
«Cho phép
nhận y mùa hạ.»
Nhóm sáu
tỳ-kheo nghe Thế tôn cho phép nhận y mùa hạ, bèn
suốt cả năm, ba mùa xuân, hạ và đông thường
cầu xin y. An cư chưa xong cũng cầu xin y, cũng
nhận y.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà Thích tử an cư trong một trú
xứ xong rồi, nghe tin nơi trú xứ khác tỳ-kheo
hạ an cư xong nhận được nhiều y
lợi dưỡng, liền đến nơi trú xứ
ấy, hỏi các người rằng:
«Y nhận được trong mùa an cư đă chia chưa?»
Đáp:
«Chưa chia.»
Nói:
«Chưa chia th́ chia phần cho tôi với!»
Bạt-nan-đà lại đến các trú xứ khác. Như vậy chẳng phải một chỗ, cũng đều hỏi rằng:
«Y nhận được trong mùa an cư, ngài đă chia chưa?»
Đáp:
«Chưa chia.»
Nói:
«Chưa chia th́ chia phần cho tôi với!»
Bấy giờ, Bạt-nan-đà [631a1] nhận phần y nhiều chỗ, được rất nhiều phần y, đem vào trong tịnh xá Kỳ-hoàn. Các tỳ-kheo thấy hỏi Bạt-nan-đà rằng:
«Đức Thế tôn cho phép chứa ba y, ngoài ba y không được chứa y dư. Vậy y này là y của ai?»
Bạt-nan-đà trả lời:
«Nhiều trú xứ nhận được y mùa an cư và tôi đă nhận được phần từ các nơi đó mang lại.»
Các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Này Bạt-nan-đà Thích tử, tại sao đức Như Lai chỉ cho phép nhận y an cư mùa hạ mà lại suốt năm, ba mùa xuân hạ và đông lúc nào cũng xin y? An cư chưa xong cũng xin y, cũng nhận y?»
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử an cư chỗ này, lại nhận y chỗ khác. Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng nhiều cách quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Này Bạt-nan-đà Thích tử, Ta chỉ cho phép tỳ-kheo nhận y mùa an cư, tại sao ông suốt năm xuân, hạ và đông lúc nào cũng cầu xin y? An cư chưa xong cũng xin y, cũng nhận y? Ông có an cư chỗ này lại thọ y chỗ khác không?»
Đức Thế tôn dùng mọi cách quở trách Bạt-nan-đà Thích tử trong nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Không được suốt mọi mùa xuân, hạ và đông lúc nào cũng t́m cầu y, cũng không được an cư chưa xong cầu xin y hay nhận y, không được an cư chỗ này, nhận phần y an cư chỗ khác.»
Bấy giờ, đức Thế tôn ở nước Xá-vệ. Khi ấy, trong quốc nội có kẻ phản nghịch, Vua Ba-tư-nặc sai hai vị Đại thần tên là Lê-sư-đạt-đa và Phú-na-la [171] đi chinh phạt. Hai vị Đại thần khởi ư niệm: «Nay chúng ta đi chinh phạt, chưa biết có được trở về hay không. Theo thường lệ, khi chúng Tăng an cư xong, chúng ta cúng dường thức ăn và dâng cúng y. Nhưng nay an cư chưa xong, không biết có nên sửa soạn thức ăn và các y vật như pháp an cư mà dâng cúng chư Tăng hay không?»
Các trưởng giả này đích thân đến trong Tăng-già-lam, bạch với các tỳ-kheo như vầy:
«Sáng mai, chúng tôi muốn dọn thức ăn và y an cư[172] để dâng cúng. Xin các ngài chiếu cố.»
Các tỳ-kheo trả lời với các trưởng giả rằng:
«Chỉ nên cúng thức ăn, khỏi phải dâng y. Tại sao vậy? V́ hạ an cư chưa xong nên không được phép nhận y, không được xin y.»
Các trưởng giả bạch rằng:
«Nay chúng tôi v́ Vua Ba-tư-nặc sai đi chinh phạt. Chúng tôi tự nghĩ chưa biết có được trở về hay không. Chúng tôi muốn như pháp trước đây, khi hạ an cư xong được dâng cúng thức ăn và y cho chúng Tăng, nên nay chúng tôi thiết lập thức ăn và y để dâng cúng.»
Bấy giờ, các tỳ-kheo đem vấn đề này bạch lên đức Phật. Đức Phật dạy rằng:
«Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo nhận y cấp thí .[173]
«Các tỳ-kheo, nếu biết là y cấp thí th́ nên nhận. Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, mười ngày nữa mới măn ba tháng hạ an cư, các tỳ-kheo nhận được y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí, có thể thọ nhận, thọ xong có thể chứa cất cho đến thời của y; nếu chứa quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Y cấp thí: thọ th́ được, không thọ th́ mất.[174]
Y: có mười loại như
trên.
Thời
của y:
[175] Tự tứ xong, không thọ y
ca-thi-na th́ một tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng.
C̣n mười
ngày nữa tự tứ, nếu tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, biết là y cấp thí th́ có thể nhận.
Nhận rồi có thể chứa mười ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng.
Nếu c̣n
chín ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí. Tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa chín ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
một ngày.
Nếu c̣n
tám ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa tám ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
hai ngày.
Nếu c̣n
bảy ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa bảy ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm ba
ngày.
Nếu c̣n
sáu ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa sáu ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
bốn ngày.
Nếu c̣n năm
ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa năm ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm năm
ngày.
Nếu c̣n
bốn ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa bốn ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
sáu ngày.
Nếu c̣n
ba ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa ba ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
bảy ngày.
Nếu c̣n
hai ngày nữa tự tứ, tỳ-kheo nhận được
y cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa hai ngày. Cho đến
sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na th́ một
tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng thêm
tám ngày.
Nếu sáng
ngày tự tứ, tỳ-kheo nhận được y
cấp thí, tỳ-kheo biết là y cấp thí th́ có thể
nhận. Nhận rồi có thể chứa trong ngày đó.
Cho đến sau khi tự tứ xong, không thọ y ca-thi-na
th́ một tháng; có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, lại tăng
thêm chín ngày. Nếu tỳ-kheo được y cấp thí
quá hạn về trước, quá hạn về sau,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Y này nên
xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc
một người, không được xả biệt
chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Nếu
muốn xả cho Tăng, phải đến trong Tăng,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, hướng
lên Thượng tọa kính lễ, quỳ gối chắp
tay thưa:
«Đại đứcTăng
xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă nhận được
y cấp thí, hoặc quá hạn về trước, hoặc
quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Người nhận sám trước
hết phải tác bạch rồi sau mới nhận sám, tác
bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe. Tỳ-kheo này tên là…, đă nhận được
y cấp thí, hoặc quá hạn về trước, hoặc
quá hạn về sau, phạm xả đọa, nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối
của tỳ-kheo có tên là… Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nói
với người kia rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn y lại cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị
yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai
một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă nhận được
y cấp thí, quá hạn về trước, quá hạn về
sau, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là
lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă nhận được
y cấp thí, quá hạn về trước, quá hạn về
sau, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng
trả lại y cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp
thuận hoàn y lại cho tỳ-kheo có tên... này, th́ im lặng.
Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
đồng ư trả lại y cho tỳ-kheo này rồi. Tăng
đồng ư nên im lặng. Được ghi nhận như
vậy. »
Đă
xả y giữa Tăng rồi, Tăng không hoàn lại
phạm đột-kiết-la. Vị nào bảo «đừng
trả», vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí, hoặc thọ làm ba y và các y khác,
hoặc sai cho người, hoặc mặc măi, tất
cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nhận được y cấp thí không quá hạn về trước,
không quá hạn về sau th́ không phạm. Hoặc bị
giặc cướp y, hoặc y bị mất, y bị cháy,
y bị nước cuốn trôi, quá hạn về trước
không phạm. Hoặc khởi tưởng bị cướp
đoạt, tưởng bị mất, tưởng bị
cháy, tưởng bị nước cuốn trôi; hoặc
dọc đường bị hiểm nạn không thông, nhiều
đạo tặc, nạn ác thú; hoặc nước sông
lớn, nhà Vua bắt trói, nhốt, mạng nạn, phạm
hạnh nạn; hoặc vị tỳ-kheo nhận gởi
qua đời, hoặc đi xa, hoặc xả giới,
hoặc giặc cướp, hoặc bị ác thú hại,
hoặc bị nước trôi, quá hạn về sau không
phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở vườn
Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, các tỳ-kheo trú tại a-lan-nhă hạ an cư
xong, một tháng Ca-đề sau đă
đầy.[177]
Bấy
giờ, có nhiều bọn cướp[178] cướp đoạt y bát,
tọa cụ, ống đựng kim, vật dụng
của tỳ-kheo và đánh đập các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo hoảng sợ nên kéo nhau đến Kỳ-hoàn
tịnh xá cùng ở. Đức Thế tôn biết mà
vẫn hỏi Tôn giả A-nan:
«Các tỳ-kheo
này tại sao kéo nhau đến cư trú ở Kỳ-hoàn
tịnh xá?»
Tôn giả A-nan bạch Phật:
«Các tỳ-kheo này trú tại A-lan-nhă hạ an cư xong, một tháng Ca-đề sau đă đầy, đă bị bọn cướp cướp đoạt y bát, tọa cụ, ống đựng kim, đồ vật dụng, chúng lại đánh đập các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo hoảng sợ nên cùng nhau đến ở nơi Kỳ-hoàn tịnh xá.»
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Từ nay về sau, Ta cho phép các tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhă có sự nghi ngờ nhiều sợ sệt; an trú chỗ a-lan-nhă như vậy, tỳ-kheo muốn gởi y th́ được phép gởi một trong ba y nơi nhà người.»
Lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe Phật cho phép tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhă có sự nghi ngờ, sợ sệt; an trú chỗ như vậy, muốn gởi y th́ được phép gởi một trong ba y nơi nhà người. Họ liền đem y gởi nơi nhà người, dặn ḍ tỳ-kheo thân hữu rồi ra đi. Sau đó, tỳ-kheo thân hữu đem y ra phơi vào lúc giữa trưa. Các tỳ-kheo thấy vậy, hỏi nhau: «Đức Thế tôn chế giới cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư. Đây là y của ai?»
Tỳ-kheo kia trả lời:
«Nhóm sáu tỳ-kheo là thân hữu tri thức của tôi. Họ gởi y nơi đây, rồi đi du hành trong nhơn gian cho nên chúng tôi đem phơi nắng.»
Bấy giờ, các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Thế tôn cho phép các tỳ-kheo ở tại các trú xứ a-lan-nhă có sự nghi ngờ, sợ sệt, th́ một trong ba y có thể gởi nơi nhà người. Hiện tại sao các thầy đem gởi nhiều y nơi thân hữu tri thức để du hành trong nhơn gian, mà ngủ ĺa y?»
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ, Đức Thế tôn liền v́ nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao sáu tỳ-kheo này, Ta cho các tỳ-kheo ở tại trú xứ a-lan-nhă có sự nghi ngờ, sợ sệt, th́ tỳ-kheo ở những chỗ như vậy, được phép một trong ba y có thể gởi nơi nhà người; nay các ông đem nhiều y gởi nơi thân hữu du hành trong nhơn gian, mà ngủ ĺa y?»
Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, ta v́ các tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ba tháng hạ đă xong, một tháng ca-đề sau cũng đă đầy, ở tại a-lan-nhă chỗ có sự nghi ngờ, có sợ hăi. Tỳ-kheo sống tại trú xứ như vậy, trong ba y, nếu muốn có thể gởi lại một y trong nhà người. Các tỳ-kheo có nhơn duyên được ĺa y ngủ, cho đến sáu đêm; nếu quá, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
A-lan-nhă : là nơi cách thôn xóm năm trăm cung. Cung của nước Giá-ma-la, dài bốn khuỷu tay, dùng loại khuỷu tay trung b́nh để đo.
Chỗ có nghi ngờ: là nghi có giặc cướp.
Sợ hăi: trong đó có giặc cướp khiến cho kinh sợ.
Trong nhà: trong thôn xóm.
Ba y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
Y: có mười loại nói như trên.
Nếu tỳ-kheo có nhơn duyên ĺa y
ngủ, sáu đêm rồi, đến đêm thứ bảy,
trước khi b́nh minh chưa xuất hiện phải
xả ba y, hoặc tay rờ đụng y, hoặc đến
chỗ đá quăng tới y. Nếu tỳ-kheo sáu đêm,
đến đêm thứ bảy, trước khi b́nh minh chưa
xuất hiện mà không xả ba y, tay không rờ đụng
y, không đến chỗ đá quăng tới y, b́nh minh
của đêm thứ bảy xuất hiện, phạm
tội ngủ ĺa y, tất cả đều ni-tát-kỳ.
Trừ ba y, ĺa các y khác, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Xả cho Tăng
phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, đầu gối bên hữu chấm đất,
lễ dưới chân thượng tọa, quỳ gối
chắp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă ngủ
ĺa y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă ngủ ĺa
y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo
có tên… này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi, sau đó mới thọ sám. Khi thọ sám phải
nói với người này rằng:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
trả lại y cho tỳ-kheo kia bằng bạch nhị
yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một người
có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă ngủ ĺa
y quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo kia. Đây là
lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là đă ngủ ĺa y
quá sáu đêm, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng
lăo nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo
này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng
chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Nếu
tỳ-kheo xả y rồi mà Tăng không trả lại cho [634a1] tỳ-kheo ấy, (Tăng)
phạm đột-kiết-la. Nếu có vị nào bảo «đừng
trả», vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu
tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc thọ làm
ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc lấy mặc măi,
tất cả đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Đă
trải qua sáu đêm, đến đêm thứ bảy, trước
khi b́nh minh chưa xuất hiện, đến chỗ để
y, hoặc xả y, hoặc tay rờ đến y, hoặc đến
chỗ đá quăng tới y th́ không phạm. Hoặc tưởng
y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi
th́ không xả y. Không rờ đến y, không đến
chỗ đá quăng tới y vẫn không phạm. Hoặc
thuyền đ̣ không thông, đường xá bị hiểm
nạn, nhiều giặc cướp, có ác thú, nước
sông lớn, bị cường lực bắt, hoặc
bị nhốt, bị trói, hoặc mạng nạn, phạm
hạnh nạn, không xả y, không rờ đến y, không đến
chỗ đá quăng tới y, tất cả đều
không phạm.
Người
không phạm:
phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách.
Một
thời, đức Phật ở vườn
Cấp-cô-độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử trước kia
có một cư sĩ thường có tâm giúp đỡ, có ư
muốn cúng dường đức Phật và Tăng
tỳ-kheo một bữa cơm và dâng y tốt. Bạt-nan-đà
Thích tử nghe người cư sĩ kia muốn cúng dường
cơm và y tốt cho Phật cùng Tăng liền đến
nhà cư sĩ kia, hỏi:
«Cư
sĩ muốn cúng cơm và dâng y tốt cho Phật cùng Tăng
phải không?»
Cư sĩ
trả lời:
«Đúng như
vậy.»
Bạt-nan-đà
liền nói với cư sĩ rằng:
«Chúng Tăng
có thiện lợi lớn, có oai lực lớn, có phước
đức lớn, người cúng dường cho chúng Tăng
rất nhiều. Nay cư sĩ nên cúng dường cơm
cho chúng Tăng mà thôi, c̣n y phục th́ cho ḿnh tôi.»
Cư sĩ
nói:
«Cũng được.»
Bấy
giờ, cư sĩ trưởng giả không chuẩn
bị y cụ cho Tăng nữa, chỉ lo sửa soạn
các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ để
cúng dường mà thôi.
Sáng ngày, cư
sĩ thỉnh Phật và Tăng đă đến giờ.
Chư Tăng tỳ-kheo khoác y bưng bát đến nhà cư
sĩ, an tọa nơi chỗ ngồi.
Khi ấy, cư
sĩ thấy trưởng lăo tỳ-kheo đầy đủ
oai nghi, liền lớn tiếng nói:
«Sao tôi
chuẩn bị đầy đủ để cúng y chúng
Tăng như vậy mà bị cản trở ?»
Các
tỳ-kheo hỏi cư sĩ:
«Tại sao
lại nói như vậy»
Bấy
giờ, cư sĩ đem sự thật mà trả lời.
Trong chúng lúc
này có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách
Bạt-nan-đà Thích tử:
«Sao thầy
cắt lợi dưỡng của chúng Tăng mà đem
về cho ḿnh?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một
bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức
Thế tôn.
Đức
Thế tôn v́ nhơn duyên này, tập hợp Tăng
tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách
Bạt-nan-đà Thích tử:
«Việc làm
của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi,
chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc
không nên làm. Sao ngươi cắt lợi dưỡng
của chúng Tăng mà đem về cho ḿnh?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
Bạt-nan-đà Thích tử, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây là người
ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, ta v́ tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú
nghĩa, cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn nói
giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, cắt vật thuộc tăng mà tự xoay về cho
ḿnh, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức
Thế tôn v́ các tỳ-kheo kiết giới như vậy
rồi, bấy giờ, các tỳ-kheo không biết là vật
của Tăng hay là vật chẳng phải của Tăng;
là vật đă hứa cho Tăng hay là vật không hứa
cho Tăng. Sau họ mới biết đó là vật của
Tăng, là vật đă hứa cho Tăng nên làm pháp
ni-tát-kỳ ba-dật-đề sám hối, hoặc lấy
làm hổ thẹn, đức Phật dạy:
«Không
biết th́ không phạm.»
Từ nay
về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, biết đó là vật thuộc tăng mà tự xoay
về cho ḿnh, ni-tát- kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Vật
của Tăng: thí
chủ v́ Tăng đă cúng cho Tăng.
Vật
thuộc Tăng: đă
hứa cho Tăng.
V́ Tăng: họ v́ Tăng chuẩn
bị hay sắm cho Tăng mà chưa hứa cho Tăng.
Đă cho
Tăng: đă
hứa cho Tăng và đă xả cho Tăng.
Vật
: y, bát, tọa cụ, ống đựng
kim cho đến đồ dùng để
uống nước.
Nếu
tỳ-kheo biết là vật thuộc Tăng mà tự xoay
về cho ḿnh, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu
vật hứa cho Tăng mà chuyển cho tháp, phạm đột-kiết-la.
Vật hứa cho tháp mà chuyển cho Tăng cũng phạm
đột-kiết-la. Vật hứa cho tứ phương
Tăng mà chuyển cho hiện tiền Tăng, phạm đột-kiết-la.
Vật hứa cho hiện tiền Tăng mà chuyển cho
tứ phương Tăng cũng phạm đột-kiết-la.
Vật hứa cho Tăng tỳ-kheo mà chuyển cho tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni Tăng cũng phạm đột-kiết-la.
Vật hứa cho tỳ-kheo-ni Tăng mà chuyển cho
Tăng tỳ-kheo, đột-kiết-la. Vật hứa cho
chỗ này đem cho chỗ khác, đột-kiết-la.
Hoặc đă hứa, khởi tưởng hứa,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu đă hứa mà tâm
nghi, đột-kiết-la. Nếu chưa hứa, khởi tưởng
hứa, đột-kiết-la. Nếu chưa hứa, nghi, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ
này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người,
hoặc một người, không được xả
biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Muốn
xả đương sự phải đến trong Tăng
trống vai bên hữu, quỳ gối bên hữu chấm đất,
lễ Thượng tọa, quỳ gối chắp tay, thưa:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, biết vật
này đă hứa cho Tăng mà xoay về cho ḿnh, phạm xả
đọa, nay xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước
hết phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Nên
tác bạch như vầy:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă biết vật
hứa cho Tăng mà xoay về cho ḿnh, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự
sám hối của tỳ-kheo có tên… này. Đây là lời tác bạch.»
Tác bạch
rồi mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với người
kia:
«Hăy tự
trách tâm ngươi!»
Tỳ-kheo
kia thưa:
«Xin vâng.»
Tăng nên
hoàn lại vật bị xả cho tỳ-kheo kia bằng
bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai
một người có khả năng tác pháp yết-ma,
dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă biết vật
hứa cho Tăng mà xoay về cho ḿnh, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại vật
bị xả cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại đức
Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă biết là
vật hứa cho Tăng mà xoay về cho ḿnh, phạm xả
đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả vật bị
xả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp
thuận, Tăng trả vật bị xả lại cho tỳ-kheo
kia th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.»
«Tăng đă
chấp thuận trả vật bị xả lại cho tỳ-kheo
này rồi. Tăng bằng ḷng nên im lặng. Việc này tôi
ghi nhận như vậy.»
Xả cho Tăng
rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la.
Nếu
tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc thọ làm
ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc dùng măi, tất
cả phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm:
Nếu không biết hoặc đă hứa mà tưởng
rằng chưa hứa, hoặc họ hứa cho ít,
khuyến khích họ cho nhiều, hoặc hứa cho ít người,
khuyên cho nhiều người, muốn hứa cho thứ
xấu, khuyên cho thứ tốt, hoặc nói đùa giỡn,
hoặc nói nhầm, nói một ḿnh, hoặc nói trong giấc
mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc kia th́
không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo, bức bách. [180]
[1] Cf,
Tăng kỳ 8, tr.292b10: «Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề,
y dư cần phải xả trước Tăng; sau đó
sám tội ba-dật-đề. Xả mà không sám hối, phạm
tội việt t́-ni. Ba-dạ-đề, nghĩa là có thể
đọa ác đạo.» Thập tụng 5,
tr.30b12: «Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y ấy cần phải
xả. Tội ba-dạ-đề cần phải sám hối.»
Căn bản 16: «Ni-tát-kỳ ba-dật-để-ca,
vật ấy cần phải xả; tội ấy cần
phải sám.» Pali (Vin.iii. 193): nissaggiya
pācittiya.
[2] Pali:
Atirekacīvara, Vin. iii. 195.
[3] Pali:
Vesāliyaṃ viharati Gotamake cetiye, tại
Vesāli (Tỳ-da-ly), trong tháp Gotamaka.
[4] Quư
giá phấn tảo y
貴價糞掃衣.
Ngũ phần 4: 2 tấm vải kiếp-bối.
[5] Pali:
muốn cúng lại cho Xá-lợi-phất.
[6] Y
dĩ cánh
衣已竟.
Pali: niṭṭhittacīvarasmiṃ, y
đă hoàn tất; tức y đă may xong; bao gồm trường
hợp y bị mất, y bị cướp, y bị cháy.
Ngũ phần 4: giặt, nhuộm, và may xong.
[7] Thiếu
giải thích trong bản Hán.
Ngũ phần 4
(T22n1421, tr.23b28): ca-thi-na đă được
xả
do bạch nhị yết-ma. Pali
(Vin.iii. 196): ubbhatasmiṃ kaṭhine,
được giải thích: ca-thi-na đă được xả
do tám nguyên nhân; hoặc do Tăng tác pháp xả.
[8] Hầu
hết, Hán dịch y
衣 (Pali: cīvara), cần
được hiểu là vải để
may y, chứ không phải là áo mặc
theo
nghĩa đen của từ Hán.
[9]
Mười loại y: y thi (vải dệt thô), y kiếp-bối
(vải), y khâm-bà la, y sô-ma (bố), y sấm-ma, y phiến-na,
y ma (vải gai), y bí-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni
絁衣劫貝衣欽婆羅衣芻摩
衣讖摩衣扇那衣麻衣翅夷羅衣鳩夷羅衣讖羅半尼衣.
Pali:
cīvaraṃ,
y ở đây chỉ
sáu loại y (= vải) được chấp nhận:
khomaṃ (vải lanh), kappāsikaṃ
(vải bông), koseyyaṃ (lụa),
kambalaṃ (lông thú), sāṇaṃ
(vải gai thô), bhaṅgaṃ (vải
bố).
[10]
Trường y
長衣
. Căn
bản 16 (T23n1442, tr.711c25): «Ngoài những y đang thọ
tŕ, c̣n lại gọi là y dư.» Pali: atirekacīvaraṃ,
giải thích: y không được phân phối (anadiṭṭhita) và chưa được
tác tịnh (avikappita).
[11] Minh
tướng
明相
, tướng sáng, dấu
hiệu sáng. Pali: arnuggamane, khi mặt
trời mọc.
[12] Trong
ngoặc: nguyên tiểu chú trong bản Hán.
[13] Tiểu
chú trong bản Hán.
[14] Tịnh
thí
淨施
, hay
tác tịnh.
Tăng kỳ 8 (T22n1425.
tr.292b14): «Được phép chứa y dư trong ṿng 10
ngày không tác tịnh. Quá 10 ngày, ni-tát-kỳ ba-dạ-đề.»
Căn bản 16 (T23n1442, tr.711c26): «y dư trên 10 ngày, nếu
tác phân biệt pháp (tác tịnh), được phép chứa.»
Tứ phần, ba-dật-đề 59:
có hai cách tịnh thí, chân thật và triển chuyển. Chân
thật tịnh thí là biếu luôn. Triển chuyển tịnh
thí
chỉ cho trên danh nghĩa, người
cho vẫn dùng với ư niệm «mượn tạm.» Pali,
Pācittiya 59
(Vin.iv.122): vikappana, tác tịnh hay tịnh
thí, có hai cách: sammukhavikappana, hiện tiền
tác tịnh và parammukhavikappana, khiếm
diện tác tịnh.
[15] Pali,
Vin.iii.197 (Pācittiya 1): Sau khi xả y dư, cần sám ba-dật-đề.
Y phải được trả lại, nói:
imaṃ cīvaraṃ āyasmato dammī’ti, «Y
này tôi trả lại cho Trưởng lăo.»
[16] Sau
khi đă xả như pháp.
[17] Ba-lợi-ca-la
波利迦羅. Skt (=Pali).
parikara, giây đai, giây nịt, để buộc
y phục.
[18] Phi y
非衣; không dùng làm y.
[19] Tức triển chuyển tịnh thí. Xem
cht. 14 trên.
[20] Hán: thủ trước
取著; chưa rơ nghĩa. Cf,
Tứ
phần 17, tr.676b13 (ba-dật-đề 59): «Vật đă chân thật
tịnh thí, cần phải hỏi chủ sau đó mới
dùng (Hán: thủ trước). Nếu
là triển chuyển tịnh thí, không cần hỏi, tùy ư
dùng (tùy ư thủ trước).» Cf,
Tăng kỳ 8 (T.1425, tr.293a10): người
khác nhận dùm y được cúng, nhưng chưa
đưa; quá hạn, vẫn không phạm.
[21] Cf, Tăng kỳ 8, nt.,
hoặc thầy, hoặc đệ tử nghe có người
cho y, nhưng y chưa đưa đến. Quá hạn
vẫn không phạm.
[22] Cf. Tăng kỳ 8, nt.,
nhờ người may y. May đă xong, nhưng chưa giao.
Quá hạn, vẫn không phạm.
[23] Pali: Ticīvaravippavaseyya,
Vin.iii. 198.
[24] Càn tiêu bệnh
乾痟病
, chứng gầy
c̣m, hay nhức đầu kinh niên? Từ điển Khang
hy: tiểu
痟, chứng bịnh nhức đầu.
Ngũ phần 4, một tỳ-kheo tŕ y phấn
tảo, muốn đi xa, nhưng y quá nặng.
Tăng kỳ 8: Xá-lợi-phất muốn
về thăm quê; gặp phải lúc mưa dầm,
tăng-già-lê nặng v́ ướt sủng, nên không đi
được. Căn bản 17: Ngày
Tăng bố-tát, Đại Ca-diếp không đến
được v́ ở cách sông, gặp khi trời mưa,
qua sông nước lớn, y bị ướt. Pali,
Pācittiya 2: aññataro bhikkhu Kosambiyaṃ
gilāno hoti, một tỳ-kheo ở Kosambi bị bịnh.
[25] Một giới… nhiều giới;
Thập tụng 5: một giới, biệt
giới; Căn bản 17: một thế
phần, nhiều thế phần. Nghĩa là, mỗi nơi
có một hay nhiều phạm vi phụ cận. Pali:
ekūpacāra, nānūpacra. Xem thêm cht.
29 dưới.
[26] Hán: tràng
場.
[27] Như trên? Các đoạn trên, chưa chỗ
nào đề cập.
[28] Chương i, Ba-la-di ii, phần thích
nghĩa.
[29] Tăng viện với một hay nhiều
khu phụ cận. Pali,
Vin.iii. 200: vihāro
ekūpacāro nanūpacāro: tinh xá có một vùng phụ
cận, hay nhiều vùng phụ cận. Căn
bản 17, gọi là có một thế
phần hay có nhiều thế phần.
Một nhà có thể chỉ có một thế phần, nếu
chỉ có một gia trưởng. Một nhà nhưng có nhiều
thế phần, nếu có nhiều gia trưởng. Anh em
chia nhau ở từng khu vực riêng.
[30] Pali,
Mahāvagga,
Vin.i.111: 7 abhantara (a-bàn-đà). Khoảng
cách giữa 2 cây là 1 abhantara.
[31]
Căn bản 17, tr.714c21: theo phép trồng
xoài của Sanh Văn bà-la-môn (Pali.
Jaṇussoṇī).
[32] Xem
cht.17, Ni-tát-kỳ 1 trên.
[33] Pali:
Nissaggiya 3, akālacīvaram
uppajjeyya. Vin.iii. 202.
[34] Y, ở
đây đồng nghĩa như chữ vải. Xem cht. 7,
ba-dật-đề 1 trên.
[35]
Căn
bản: Ni-tát-kỳ 5. Pali, Nissaggtiya 5, Cīvarapaṭigganhaṇa,
Vin. iii. 207ff.
[36] Liên
Hoa Sắc
蓮華色.
Tăng kỳ 8, Ưu-bát-la tỳ-kheo-ni.
Pali,
Uppavaṇṇā.
[37] Uất-thiền
quốc
鬱禪國.
Ngũ phần 5, Ưu-thiện-na ấp.
Chuyện kể trong đây, Tứ phần
và Ngũ phần gần giống nhau.
Nhưng không được kể trong Pali.
[38] Trong
các tài liệu Pali, Uppavaṇṇā Therī nổi tiếng
về bốn biện tài vô ngại (paṭisambhidā)
và biến hoá thần thông (iddhivikubbana).
[39] Không nhàn xứ
空閑處.
Rừng hay a-lan-nhă. Lúc này Phật
chưa qui định tỳ-kheo-ni không được sống
trong rừng (ni bất trụ lan-nhă).
[40]
Ngũ phần 4, tr.25b29: trong rừng
An-đà viên. Tại đây, một người bà-la-môn lẽn
vào thất của Liên Hoa Sắc, cưỡng hiếp lúc bà
đang ngủ. Giật ḿnh thức dậy, bà vận thần
thông bay đi. Người bà-la-môn rơi từ trên giường
xuống địa ngục. Pali: rừng Andhavana.
[41] Tỳ-kheo-ni
không được bận y rách,
và phải đủ 5 y: ngoài 3 y như tỳ kheo, c̣n có thêm
tăng-kỳ-chi (Pali: samkacchika, yếm
che ngực) và áo tắm.
[42] Pali:
bhikkhuniyā hatthato cīvaraṃ paṭigganheyya,
nhận y từ chính tay tỳ-kheo-ni.
[43] Hai bộ
Tăng: Tăng tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni tăng.
[44] Thân
lư
親里. Pali: aññātikāya.
[45]
Căn
bản 18: thân tộc; giải
thích: cha mẹ của hai người đều có quan hệ
thân tộc từ bảy đời.
[46] Hán:
mậu dịch
貿易.
Pali: pārivattaka, trao đổi, giao dịch,
không hàm ư buôn bán đổi chác. Được phép trao đổi
với nhau trong năm chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di,
sa-di-ni, thức-xoa-ma-na. Cf. Vin.iii. 209.
[47]
Căn bản, Ni-tát-kỳ 4. Pali: Nissaggiya
4, puṇacīvaradhovāpa. Vin. iii.
205ff.
[48] * Bản
Hán, hết quyển 6.
[49] Pali,
Nissaggiya 6 aññātakaviññatti, Vin. iii. 210.
[50] Pali:
seṭṭhiputta, con trai của một
nhà phú hộ.
[51] Tức
chỉ c̣n quấn một chiếc xà-rông mà thôi, để
ḿnh trần.
[52]
Nguyên Hán: trừ dư thời
除餘時. Pali: aññatra
samayā.
[53] Pali,
giới văn: acchinnacīvaro vā, naṭṭacīvaro
vā, y bị cướp và y bị hủy hoại.
Phần giải thích nói, bị hủy hoại hoặc do lửa
cháy, do nước cuốn, chuột mối gặm, hay sờn
rách v́ bận nhiều.
[54]
Pali,
Nissaggiya 7, tatuttari, Vin.iii. 213.
[55] Tự
tứ thỉnh
自恣請.
Pali: abhihaṭṭhuṃ
pavāreyya.
[56] Pali,
Nissaggiya 8, upakkhaṭa, Vin.iii. 213
[57] Pali,
thêm yếu tố: aññatakassa gahapatissa vā
gahapatāniyā, cư sĩ hay vợ cư sĩ
không phải thân quyến.
[58] Y giá
衣價.
Pali: cīvaracetāpannaṃ, vật
ngang giá cho y; giải thích: vàng, bạc, ngọc ngà, trân châu;
hoặc mảnh vải, hoặc chỉ, hoặc g̣n.
[59] Cầu
求. Từ
được giải thích, không có trong giới văn.
Pali: vikappaṃ āpajjeyya,
đề nghị.
[60] Pali,
Nissaggiya 9, dutiya-upakkhaṭa, Vin.iii. 217.
[61] Pali,
thêm yếu tố: không phải thân quyến.
[62] Pali,
Nissggiya 10, rājasikkhāpadaṃ,
Vin.iii. 219.
[63] Pali:
paññāsaṃ baddho,
phạt 50. Được giải thích là phạt 50
kahāpaṇa (tiền vàng).
[64] Pali:
ayaṃ tattha
samīcī, đây là điều hợp
cách. Và giải thích: ayaṃ
tattha anudhammatā, ở
đây điều này tùy thuận pháp tánh. Bản Hán đọc:
ayaṃ tattha
samayaṃ.
[65] Pali:
brāhmaṇo nāma
jātiyā brāhmaṇo.
[66] Pali,
Nissaggiya 11, kosiya, Vin.iii. 223.
[67]
Khoáng Dă quốc
曠野國.
Pali:
Āḷavī.
[68] Ngoạ
cụ
臥具 Pali:
santhata, đồ trải lót: chiếu,
thảm, hay miếng vải. Các bộ khác: phu cụ
敷具.
[69] Tạp dă tàm miên
雜野蠶綿
.
Pali: kosiyamissakaṃ
santhata, ngọa cụ chen tạp với
lụa.
[70]
Nguyên Hán: miên
綿; bông
g̣n. Pali: các tỳ-kheo này đến nhà nuôi tằm (kosiyakāraka) đề nghị: luộc tằm
(bāhu … pacatha)
cho họ xin để lấy tơ làm chăn trải.
[71]
Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 21: tỳ-kheo
làm ngọa cụ bằng kiêu-xa-da
憍賒耶; và giải thích: kiêu-xa-da là
tơ (nguyên Hán, miên
綿: bông g̣n) được làm từ con tằm.
Tăng kỳ 9, ni-tát-kỳ 13: Tỳ-kheo lấy
kiêu-xá-da
憍舍耶 tạp
với lông dê thuần đen làm phu cụ. Thập
tụng 24: kiêu-thi-da
憍施耶. Căn bản
20: dùng tơ tằm sống (dă tàm ty
野蠶絲) làm
phu cụ.
[72] Kiếp-bối
劫貝 (Pali:
kappāsa, bông g̣n), câu-giá-la
拘遮羅
(Pali: koseyya, tơ lụa, vải quyến),
cỏ nhũ diệp, hoặc sô-ma
芻摩 (Pali: khoma,
ma bố, vải gai), hoặc gai.
[73]
Ngũ phần 5, Ni-tát-kỳ 22.
Tăng kỳ 9, Ni-tát-kỳ 11.
Pali, Nissaggiya 12, suddhakāḷaka,
Vin.iii. 223
[74] Tỳ-xá-ly Lê-xa Tử
毘舍離梨車子.
Pali không có chi tiết này.
[75] Hán:
thuần hắc nhu dương mao
純黑羺羊毛.
Khang hy: nhu dương, tức hồ
dương (một loại dê của người Hồ).
Pali: suddhakāḷakānaṃ eḷakalomānaṃ,
lông de thuần đen; eḷaka, một
loại sơn dương.
[76] Hán:
chiên
氈; vật
dụng bện bằng da thú hay giạ. Đây chỉ áo
choàng bằng giạ.
[77] Chiên
ngọa cụ
氈臥具. Xem
cht. 14, ni-tát-kỳ 10.
[78] Hán:
sanh hắc
生黑.
Pali: jātiyā kālakaṃ.
[79]
Ngọa cụ
臥具. Căn bản
21 (T23n1442, tr.736b4): phu cụ
敷具
Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 23 (T.1421, tr.35a24);
Tăng kỳ 9, Ni-tát-kỳ 12. Pali,
Nissaggiya 13, dve bhāgā
suddha-kāḷakānaṃ, Vin. iii.
226ff.
[80] Thuần bạch dương mao
純白羊毛.
Ngũ phần, nt.,Thập
tụng, Căn bản, nt.: thuần
hắc nhu dương mao
純黑羺羊毛. Pali: suddhakāḷakānaṃ
eḷakalomāṇaṃ, lông dê toàn đen.
[81] Hán: mang sắc
尨色. Thích từ không có trong giới văn.
Ngũ phần 5 (T22n1421, tr.35b04),
Thập tụng 4 (T23n1435, tr.48b11): đệ tứ
phần hạ
第四分下; được giải thích: hạ, chỉ
lông đầu, lông bụng, lông gót chân.
第四分下. Căn bản 21
(T23n1442, tr.736b09): đệ tứ phần thô
第四分麁, giải thích: thô, chỉ lông đầu,
lông bụng và lông chân. Pali: catutthaṃ
gocariyānam, phần thứ tư màu nâu đỏ (hạt
sắc).
[82]
Bát-la
缽羅.
Ngũ phần
nt., Thập tụng nt.: ba-la
波羅. (Pali: pala, đơn
vị trọng lượng) Căn bản
21 (T23n1442,
tr.736b16): thí dụ, ngọa cụ nặng
10 cân, th́ 5 cân toàn đen, 2,5 cân trắng và 2,5 cân thô. Cf. Pali
(Vin.iii.227): 2 tūla (cân) đen, 1
tūla trắng, 1 tūla
nâu đỏ.
[83] Ngũ phần, Ni-tát-kỳ 24, (T.1421, tr.35b). Pali: Nissaggiya 14,
santhanachabbassāni, Vin.iii. 227.
[84] Xem Ni-tát-kỳ 2, cht. 24.
[85] Tọa cụ
坐具. khăn trải
để ngồi. Pali: nisīdana
(ni-sư-đàn). Căn bản 21: phu cụ
敷具. Ngũ
phần 5, ni-tát-kỳ 25 (T22n1421, tr.35c13). Pali: Nissaggiya 15, nisīdanadubbaṇṇa-karaṇa,
Vin.iii. 230.
[86] Thỉnh thực
請食. Thập tụng
7 (T23n1435, tr.49b16): nghinh thực
phần
迎食分. Cư sĩ thỉnh Phật và các tỳ-kheo
đến nhà thọ thực. Phật để các tỳ-kheo
đi, Ngài ở lại tinh xá. Một tỳ-kheo mang thức
ăn về cho Phật. Căn bản 21
(T23n1442,
tr.737b23): thủ thực
取食 Pali, Vin.iii.
230: Phật độc cư ba tháng, không gặp bất cứ
ai, trừ tỳ-kheo tống thực.
[87] Long nha quyết
龍牙橛
. Xem, Thập tụng
(T.1435, tr.60c22): tượng nha dặc
象牙杙.
[88] Ngũ phần, ni-tát-kỳ 26. Pali: Nissaggiya 16: eḷakalomaharaṇa.
[89] Bạt-nan-đà Thích tử
跋難陀釋子. Căn bản 21:
Ô-ba-nan-đà, tức Pali: Upananda, ḍng họ
Thích-ca, thuộc nhóm sáu tỳ-kheo (Chabbaggiya).
Pali. Vin. iii. 233: một tỳ-kheo đi từ Kosala đến
Sāvatthi.
[90] Câu-giá-la
拘遮羅, cỏ nhũ diệp
乳葉草, sô ma
芻摩, ma
麻, xí-la-bà-ny
廁羅婆尼. Các loại y.
[91] Ngũ phần 5, Ni-tát-kỳ 27 (T22n1421, tr.36a26). Pali: Nissaggiya
17, elākaloma-dhovāpana, Vin. iii. 234ff.
[92] Thích-sí-sấu
釋翅瘦
. Pali: Sakkesu viharati
Kapilavatthusmiṃ Nỉgodhārāme, giữa những
người họ Thích, trong tinh xá cây Đa, Ca-tỳ-la-vệ.
[93] Pali, Nissaggiya 18, jātarūparajata,
Vin. 111. 236. Ngũ phần, ni-tát-kỳ
30 (T22n1421,
tr.37a27).
[94] Xem ni-tát-kỳ 16 trên.
[95] Sanh tượng; chỉ vàng nguyên, chưa chế biến. Pali:
jātarūpa.
[96]
Căn bản 21 (T23n1442,
tr.740a20): Bảo Kế
寶髻.
Tăng kỳ 10 (T22n1425,
tr.310c7): Chu-la tụ lạc chủ
周羅聚落主. Cf.
Pali, Maṇicūḷa-sutta, S.iv. 325,
Vin.ii.296.
[97] Chỉ
thọ nhận tiền bạc. Pali, S.iv. 325: na...
kenaci
pariyāyena jātarūparajataṃ sāditabbaṃ, tuyệt
đối không thọ nhận vàng bạc.
[98] Tức
nhật thực hay nguyệt thực.
[99]
Ngũ phần: hoặc phát tâm nhận.
Pali: upanikkhittaṃ vā sādeyya, nhận
để gởi (kư thác). Các bộ có điểm bất
đồng rất tế nhị khi giải thích điều
luật này.
[100] Hán:
tri thị khán thị
知是看是;
tương tự Pali: āvuso, imaṃ
jānāhi, «Này ông, hăy nhận biết cái này.» Khi xả
vật phạm, nếu có tịnh nhân hay cư sĩ đi
đến, tỳ-kheo nói như vầy, tức là nhắc
người ấy cất số tiền để ở
đó mà tỳ-kheo không được phép cầm nắm.
Cũng không được sai khiến người ấy
nhận và cất giữ hộ.
[101] Pali:
Nissaggiya 19: rūpiyasaṃvohāra.
Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 29 (T22n1421, tr.36c21). Tăng kỳ,
ni-tát-kỳ 20 (T22n1425, tr.312c03).
Căn bản 22 (T23n1442, tr.741c21): «Xuất nạp cầu lợi.»
[102] Hán: chủng chủng
種種. Thập tụng (T23n1435, tr.51c13): chủng chủng dụng bảo
種種用寶. Pali (Vin.iii.239): nānappakārakaṃ,
giải thích: katampi akatampa katākatampi,
đă được chế biến thành các thứ trang sức, hoặc
chưa được chế biến, hoặc nửa
chế biến nửa chưa chế biến.
[103] Vàng thành và vàng chưa thành, Hán: thành kim, vị
thành kim
成金,未成金; Thập tụng: tác bất tác. Pali, nt.:
katam, akatam: đă được chế biến
thành nữ trang và chưa được chế biến.
[104] Pali: rūpiya, chỉ
chung vàng và bạc; giải thích: satthuvaṇṇo
(vàng ṛng) kahāpaṇo (tiền vàng)
lohamasaki (tiền đồng)
dārumasako (tiền gỗ)
jatumasako (tiền hồ giao).
[105] Pali (Vin.iii.242): Nissaggiya 20, kayavikkaya..
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 28.
Tăng kỳ, ni-tát-kỳ 19.
[106] Hán: (nhất) Vô trú xứ thôn
一無住處村; chỉ thôn không có chùa của Tăng. Không
rơ là từ chung hay tên thôn. Các bản không có chi tiết này.
[107] Bản Hán, hết quyển 8.
[108] Pali, Nissaggiya 21, atirekapatta,
Vin. iii. 240. Ngũ phần, ni-tát-kỳ
20.
[109] Đoạn sau, nói là Bạt-nan-đà.
[110] Tô-ma quốc
蘇摩國.
Một trong 16 đại quốc
thời Phật, theo liệt kê của Trung
A-hàm 55 (T1n26, tr.772b17). Liệt kê
này không đồng nhất với Trường
A-hàm 5 (Kinh Xà-ni-sa), và các bản Pali (A.vii.43 v.v.).
Phiên Phạn ngữ 8 (T54n2130, tr.1035a18): Tô-ma, dịch là Nguyệt
月. Bát sản xuất
tại nước Tô-ma được xem là 1 trong 6 loại
bát hợp pháp.
[111] Căn bản 22: không phân biệt. Xem cht. 14, Ni-tát-kỳ 1. Pali không có
chi tiết này.
[112] Ô-già-la quốc
烏伽羅國; địa danh sản xuất bát. Pali
không đề cập. Có thể Pali là Ugga-nigama, một thị
trấn trong Vương quốc Kosala.
[113] Ưu-già-xa quốc
憂伽賒國; địa danh chưa rơ.
[114] Pali: bát có hai loại, ba cỡ, như bản
Hán, nhưng không nói xuất xứ của bát. Các bộ khác
cũng không nói xuất xứ như Tứ
phần.
[115] Thiết bát, nê bát
鐵缽泥缽.
Pali: ayopatta,
mattikapatta.
[116] Pali, Vin.iii. 243, bát có ba cỡ
. Lớn, lượng một
āḷhaka cơm; trung, một
nāḷika cơm; nhỏ, một
pattha. Thập tụng
7 (T.1435, tr. 53b): cỡ lớn, ba bát-tha
cơm; cỡ nhỏ, một bát-tha.
[117] Tiểu
chú trong bản Hán.
[118] Cho
chóng hư.
Xem Ni-tát-kỳ
1.
[119] Pali, Nissaggiya 22, ūnapañcabandhana.
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 19.
[120] Pali: yo ca tassā
bhikkhuparisāya pattapariyanto, tối hạ bát của
chúng tỳ-kheo đó. Ngũ phần 5
(T. 1421, tr.34a), Thập tụng 8 (T.
1435, tr.54b), Căn bản 22 (T. 1442,
tr.745c): chúng trung tối
hạ bát.
[121] Nguyên Hán: thử thị thời
此是時.
Ngũ phần, Thập tụng:
thị pháp ưng nhĩ. Căn bản:
thử thị kỳ pháp. Pali: ayaṃ tattha
sāmīcī, đó là tiến tŕnh hợp thức;
giải thích: ayaṃ tattha anudhammatā,
điều đó là sự tuỳ thuận pháp tánh trong
đây.
[122] Thập tụng, nt., gọi là yết-ma Tăng sai «hành
măn thủy bát nhân,» người thực hiện nghi thức
bát đầy nước. Tức Tăng sai tỳ-kheo
đổi bát. Đưa bát phạm xả, v́ là tốt nhất,
cho Thượng tọa lớn nhất. Nếu Thượng
tọa nhận bát mới này, lấy bát cũ của
Thượng tọa trao cho vị Thượng tọa kế.
Lần lượt xuống đến tối hạ tọa.
Cho đến khi, trong chúng không ai muốn đổi nữa,
th́ lấy bát được đổi cuối cùng trao cho
tỳ-kheo phạm xả. Pali gọi đây là yết-ma
Tăng sai người nhận bát để đổi (bhikkhu pattagāhāpako).
[123] Văn hơi tối. Tham khảo
Pali: na ca tassa anuddayatāya na gahetabbo. yo na gaṇheyya,
āpatti dukkaṭassa, «(vị kế tiếp) không nên
v́ sự thương tưởng vị ấy (?) mà không nhận.
Ai không nhận, phạm đột-kiết-la.» Câu văn
Pali cũng không rơ, v́ đại từ tassa
có thể chỉ tỳ-kheo phạm xả, cũng có thể
chỉ cho vị Thượng tọa vừa đổi
bát. Bản dịch Anh hiểu nghĩa thứ hai. Nhưng
hiểu nghĩa thứ nhất, th́ tỳ-kheo này không nhận
bát, để cuối cùng tỳ-kheo phạm xả vẫn
nhận được bát tốt như ư muốn. V́ vậy,
tỳ-kheo nào không nhận v́ lư do này phạm đột-kiết-la.
[124] Phi bát dụng
非缽用; sử dụng không đúng chức
năng của bát.
[125] Cho chóng vỡ.
[126] Pali, Nissaggiya 26: Suttaviññatti.
Ngũ phần, Ni-tát-kỳ 11.
Tăng kỳ, Ni-tát-kỳ 26.
Thập tụng, Căn bản,
Ni-tát-kỳ 23.
[127] Pali: tantavāyehi, bởi
những người thợ dệt, không phân biệt thân lư
hay không thân lư.
[128] Pali: sáu loại chỉ để dệt
sáu loại y cho phép. Ngũ phần
cũng không phân biệt.
[129] Các bản Tống-Nguyên-Minh không có câu lặp
này.
[130] Pali: Nissaggiya 27, Mahāpeskāra.
Ngũ phần, Ni-tát-kỳ 12. Tàng kỳ, Ni-tát-kỳ 27.
[131] Pali: aññātako gahapati,
cư sĩ không phải bà con. Thập tụng,
Căn bản: phi thân lư cư sĩ,
cư sĩ phụ.
[132] Tự tứ thỉnh
自恣請. Pali: pubbe pavārito,
được yêu cầu nói sở thích.
[133] Tăng kỳ, Ni-tát-kỳ 24. Pali, Nissaggiya 25, cīvara-acchindana.
[134] Long nha dặc; xem cht.
trên
[135] Bản Hán, hết quyển 9.
[136] Pali, Nissaggiya 23, bhesajja.
Cf. Mahāvagga vi Bhessajja-kkhando, Vin.i.198.
Ngũ phần 5 (T. 1421, tr.30c), Ni-tát-kỳ
15. Tăng kỳ 10 (T. 1425, tr.316b),
Ni-tát-kỳ 23. Căn bản (T. 1442,
tr.759b), Ni-tát kỳ 30.
[137] Xem Thập tụng 26,
«Y dược pháp» (T. 1435, tr.184b). Pali, Mahāvagga
iv «Bhesajja-khandha,» Vin.i. 199.
[138] Bất linh thô hiện
不令麤現. Pali, Vin.i.198: na ca oḷāriko
āhāro paññāyeyya, không thể quan niệm là thức
ăn thô (=thực phẩm chính). Có lẽ bản Hán để
rơi mất từ āhāra (thực
phẩm) nên câu văn bất xác.
[139] Tô du sanh tô mật thạch mật
酥油生酥蜜石蜜. Pali, nt. sappi navanītaṃ
telaṃ madhu phāṇitaṃ, váng sữa, bơ
tươi, dầu ăn, mật, đường mía (hay mật
mía).
[140] Thập tụng, ibid., Phật chưa cho phép ăn các thứ này sau ngọ.
[141] Xem Tứ phần,
ba-dật-đề 35, về phép tàn thực.
[142] Tiểu
chú trong bản Hán.
[143]
Xem cht.14, Phần III Ch.vii. Thuốc và các chú
thích rải rác trong chương đó.
[144] Ma-kiệt
ngư
摩竭魚 ; một
loại cá voi (Pali: makara). Cf.
Mahāvagga iv, Vin.i.200: sáu loại mỡ: gấu, cá, cá sấu,
heo, lừa.
[145] Pali,
op.cit., vikāle… dukkaṭā, phi thời,
phạm đột-kiết-la; tức không được
quá ngọ.
[146]
Tư-ha Tỳ-la-trà tượng sư
私訶毘羅嗏象師;
phiên âm từ Skt.
Siṃha-Vairāṭa.
Đồng nhất với Pali,
Belaṭṭha
Kaccāna, người buôn đường, chuyển kể,
Mahāvagga iv, Vin. i. 224f. Cf. Thập tụng
26 (T. 1435, tr.189a): chuyện tượng sư Tỳ-la-tra.
[147]
Đi từ Rājagaha đến Andhakavida, ngược chiều
với Phật.
[148] Hắc
thạch mật
黑石蜜.
Pali: guḷa, đường (cát)
đen; đường mía chưa tinh
luyện.
[149] Số
tỳ-kheo được kể là 1250 vị.
[150] Tất-lăng-già-bà-ta
畢陵伽婆蹉. Pali: Pilindavaccha.
Chuyện kể Tất-lăng-già-bà-ta trong Ngũ
phần 5 (T22n1421, tr.30c25) và
Pali (Vin.iii. 248) giống nhau.
[151] Hán: tàn dược
殘藥.
Pali: paṭisāyanīyāni
bhesajjāni, các loại thuốc được uống
như ăn. Căn bản: chư
dược tùy ư phục thực
諸藥隨意服食, ‹các
loại thuốc được tuỳ ư uống hay
ăn.› Ngũ phần, Thập tụng: hàm tiêu dược
含消藥, thuốc
như thức ăn loại mềm (không cần nhai).
[152] Tô,
du, sanh tô, mật, thạch mật
酥油生酥蜜石蜜.
Pali: sappi, navanītaṃ, telaṃ, madhu,
phāṇitaṃ, váng sữa bơ lỏng (trong),
bơ sống (tươi), dầu, mật, đường
mía. Ngũ phần, Thập
tụng, Căn bản, kể bốn:
tô (gồm cả thục tô và sanh
tô), du, đường, mật. Đường được
giải thích là đường cát (sa đường).
[153] Tiểu
chú trong bản Hán. Dưới đây cũng vậy.
[154] Pali,
Nissaggiya 24, vassikáāṭika.
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 17.
Tăng kỳ, ni-tát-kỳ 26.
Căn bản, Ni-tát-kỳ 28.
[155] Tỳ-xá-khư
Mẫu
毘舍佉母, xem
cht.2, ch.iii, Bất-định 1.
[156] Chuyện
kể, xem Mahāvagga viii,Vin. i. 291ff. Cf. Thập
tụng 27, «Y pháp» (T23n1435,
tr.195b11).
[157] Hán:
như tượng niệu há
如象尿下,
«như voi đái.»
[158] Hán: Như lai bất dữ nhân quá nguyện
如來不與人過願.
Cf. Pali (Vin.iii. 192):
atikkantavārā kho … thāgatā, «Các
đức Như lai siêu quá các ước nguyện.»
Nghĩa là chỉ hứa khả những thỉnh nguyện
không phi pháp. Câu Phật thường xuyên trả lời khi
có người thỉnh nguyện. Xem Thập
tụng 27, (T23n1435,
tr.195c17) «Các Như Lai… đă vượt qua các ước
nguyện (Hán: dĩ quá chư nguyện
已過諸願).»
[159]
Thập tụng, ibid.: «sau khi đă quen
nơi chốn, tỳ-kheo ăn đâu, tùy ư.» Pali, Vin.i. 192:
icchāmi saṅghassa yāvajīvaṃ
āgantikabhattaṃ dātuṃ, «Con muốn trọn
đời dâng cúng thực phẩm tỳ-kheo khách cho Tăng.»
[160]
Thập tụng, ibid., «v́ vậy (v́ đi một
ḿnh) có thể đi lạc vào đường hiểm.»
[161]
A-na-tần-đầu
阿那頻頭國.
Pali:
Andhakavindaka. Cf.
Vin.i. 220 (Bhesajja-kkhandha).
[162] Hán:
chúc
粥. Pali: yāgu:
cháo gạo hay cháo sữa.
[163]
Vũ dục y
雨浴衣; xem
giải thích đoạn sau.
[164]
A-di-la-bạt-đề
阿夷羅跋提.
Pali:
Aciravatī.
[165]
Nghĩa là, được phép để dành làm lương
thực đi đường, để dọc đường,
những chỗ lạ, khỏi phải đi khất thực.
[166]
Đây là những trường hợp tỳ-kheo được
phép để dành thức ăn.
[167]
Vũ dục y
雨浴衣.
Pali: vassikasāṭikā, khăn quấn
để tắm khi trời mưa. Khác với
udakasāṭikā, dục y
浴衣, khăn tắm để tỳ-kheo-ni
quấn người khi tắm sông.
[168] Tính
theo lịch Trung quốc. Đây chỉ
1 tháng trước an cư mùa hạ. Căn
bản 24 (T23n1442, tr.757a13):
«Xuân tàn c̣n một tháng, chỉ một tháng trước an
cư, tức từ 16 tháng Tư đến 15 tháng Năm.»
[169] Pali,
Nissaggiya 28 accekacīvara.
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 18.
Căn bản, ni-tát-kỳ 26.
[170] Xem
cht.2, Chương 1, ba-la-di 1.
[171] Lỵ
(Lợi)-sư-đạt-đa và Phú-la-na
利師達多富羅那.
Pali:
Isidatta và
Purāṇa, hai
quan nội giám của Vua Pasenadi. Vin. iii. 260: Có một vị
Đại thần nọ (không nói tên).
[172] An
cư y
安居衣.
Pali: vassāvāsika. Căn
bản: hạ nội phần y. Thập
tụng: hạ an cư y.
[173] Y cấp
thí
急施衣; y được cúng trong lúc
khẩn cấp. Pali: acceka-cīvara.
[174] Vin.
111. 261: y được bố thí do quan tướng sắp
ra trận, người sắp đi xa, người
đang mang thai, người trước không tín tâm nay vừa
phát tín tâm.
[175] Pali:
cīvarakālasamaya.
[176] Pali,
Nissaggiya 29 sāsaṅsika.
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 16.
Căn bản, ni-tát-kỳ 27.
[177] Hậu
ca-đề nhất nguyệt măn
後迦提一月滿;
Pali: cātumāsinīkattikapuṅṅmā,
ngày trăng tṛn của tháng ca-đề sau, tức ngày
trăng tṛn đúng sau ngày tự tứ một tháng. Tức
tháng thứ tư, tháng cuối cùng của mùa mưa (lịch
Ấn độ cổ).
[178] Pali
gọi là kattikacorakā, bọn cướp
ca-đề, v́ chúng hoạt động vào tháng ca-đề,
thường nhất là đêm có trăng. Chủ yếu
cướp y các tỳ-kheo nhận được sau an
cư.
[179] Pali, Nissaggiya 30 pariṇata.
Ngũ phần, ni-tát-kỳ 14.
Căn bản, ni-tát-kỳ 29.