KINH
PHỔ MÔN CHÚ GIẢNG
THÍCH THÁI HÒA [MỤC LỤC]
NỘI DUNG CHỦ YẾU
Nội dung của phẩm
nầy là nói về Hạnh Môn và uy lực hóa độ của Bồ Tát Quán Thế Âm. Hạnh Môn
và uy lực hóa độ của Ngài gồm có:
1.Vượt thoát bảy tai
nạn:
1.1 Vượt Thoát Tai
Nạn Của Lửa:
Kinh nói:
“Nếu có người chấp trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì vị ấy vào
trong lửa dữ, lửa ấy không thể đốt cháy, đó là do oai lực của Bồ Tát
vậy”.
Lửa ở đây
có ba loại:
Thứ nhất là lửa thuần
về vật lý. Thứ hai là lửa thuộc về hỏa đại ở trong các sinh thể và thứ
ba là lửa thuộc về phiền não của tâm. Ba thứ lửa nầy có thể đốt cháy ta
bất cứ lúc nào và ở đâu.
Do uy lực trì niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm của ta, nên ba loại lửa ấy không thể đốt cháy được phước
đức của ta. Mỗi khi đối diện với tai nạn, mà ta có phước đức, là ta có
điều kiện để thoát khỏi.
Tại sao? Do khi nhất
tâm trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, ta niệm như vậy đúng với định
lực và nguyện lực của Bồ Tát nầy, nên định lực từ bi, trí tuệ và phước
đức trong ta phát khởi tiếp xúc và giao cảm được với định lực và nguyện
lực từ bi, trí tuệ và phước đức vốn châu biến cả pháp giới của vị Bồ Tát
ấy, tạo ra một nguồn năng lượng nhân duyên sinh động cực thiện, khiến
thay đổi tình trạng của tai nạn. Lửa không thể cháy, vì nhân duyên của
lửa cháy đã bị thay đổi. Nên, các loại lửa vật lý, lửa sinh thể, lửa
phiền não của tâm đều bị dập tắt khiến cho thân tâm và hoàn cảnh của ta
không bị đốt cháy bởi các thứ lửa ấy.
1.2 Vượt Khỏi Tai Nạn
Của Nước:
Kinh nói: “Nếu bị
nước lớn cuốn trôi, mà trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, tức khắc
liền được chỗ nước cạn”.
Nước ở đây cũng có ba
loại:
Thứ nhất, nước thuần
vật lý. Thứ hai, nước thuộc về thủy đại ở trong các sinh thể. Thứ ba,
nước là những chất liệu tham ái của tâm.
Ba thứ nước nầy có
thể nhận chìm và cuốn trôi ta bất cứ lúc nào và ở đâu.
Nước vật lý có thể
nhận chìm và cuốn trôi ta ở nơi mưa lũ, thác ghềnh, sông biển.
Nước ở trong sinh thể
có thể nhận chìm và cuốn trôi ta vào 101 tai họa bệnh khổ của thân.
Và nước tham ái của
tâm cuốn trôi tất cả phước đức của ta, nhận chìm ta trong biển cả sinh
tử.
Khi bị những tai nạn
thuộc về nước như vậy, ta nhất tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế
Âm, khiến cho các loại nước ấy không thể nhận chìm và cuốn trôi phước
đức của ta.
Tại sao? Tại vì ta
nhất tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm như vậy là đúng với
định lực và nguyện lực từ bi, trí tuệ và phước đức của vị Bồ Tát nầy,
nên định lực từ bi, trí tuệ và phước đức trong ta sinh khởi, tiếp xúc và
giao cảm được với định lực và nguyện lực từ bi, trí tuệ và phước đức vốn
châu biến cả pháp giới của vị Bồ Tát ấy, tạo ra một nguồn năng lượng
nhân duyên sinh động cực thiện, khiến thay đổi tình trạng tai nạn của
ta. Bấy giờ nước không thể cuốn trôi và nhận chìm ta được, vì nhân duyên
tai nạn do nước gây nên đã hoàn toàn thay đổi. Nên, các loại nước gây
tai nạn thuộc về vật lý, sinh học và tham ái của tâm đều bị khô kiệt,
khiến cho thân tâm và hoàn cảnh của ta không bị cuốn trôi và nhận chìm
bởi các thứ nước ấy.
1.3 Vượt Thoát Khỏi
Tai Nạn Gió Và Quỷ La Sát:
Kinh nói: “Nếu có
trăm ngàn vạn ức người, vì tìm cầu vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san
hô, hổ phách, trân châu, và những thứ quý báu cùng loại, khi đi vào biển
cả, giả sử bị trận gió u ám, thổi thuyền tàu tấp vào đảo quốc quỷ La
Sát, trong những người ấy, dẫu đến chỉ có môt người trì niệm danh hiệu
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì những người ấy vẫn thoát khỏi được tai họa quỷ
La Sát. Vì những nhân duyên như vậy, nên gọi là Quán Thế Âm”.
Gió u ám: Hán gọi là
hắc phong. Hắc phong là gió chướng, gió thổi mất bình thường, làm mờ mịt
trời đất, khiến người đi bộ, đi trên tàu, trên biển, đi trên máy bay,
không còn có khả năng định hướng để đi, nên rất dễ gặp tai nạn.
Gió cũng có nhiều
loại:
Gió là do thay đổi áp
suất không khí, khiến cho không khí có sự chuyển động. Nên, gió là do sự
chuyển động của không khí tạo nên. Gió nầy là gió thuộc về vật lý.
Gió nghiệp là gió do
ác nghiệp của chúng sanh tạo nên. Gió ấy đẩy chúng sanh trôi dạt vào các
ác đạo như địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh.
Gió phiền não là gió
khởi lên từ tâm tham lam, sân hận, si mê, kiêu ngạo, tà kiến và chấp
ngã. Gió ấy thổi lên và nhận chìm chúng sanh trong biển cả sinh tử.
Gió danh lợi là gió
thổi và bứng gốc rễ đạo đức, nhân ái của chúng ta.
Nhưng, ở trong phẩm
kinh nầy, nói gió đen thổi mạnh và đẩy thuyền tàu của những người đi vào
biển tìm châu ngọc tấp vào đảo quốc La Sát, mà nếu trong đó, có một
người niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tất cả người trong thuyền
đều thoát khỏi tai nạn quỷ La Sát.
Quỷ La Sát: là
loài quỷ chuyên ăn thịt người, chúng có mặt khắp nơi, nhưng thường trú
ngay ở hải đảo. Những người đi biển gặp phải gió xoáy đen làm mù mịt cả
trời đất, biển cả, thuyền tàu trôi dạt vào đảo quốc La Sát như vậy, mà
trong đó có một người nhất tâm trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm, thì tất
cả mọi người trong thuyền đều thoát khỏi tai nạn quỷ La Sát.
Niệm danh hiệu của Bồ
Tát Quán Thế Âm trong lúc ấy, làm sinh khởi từ bi và định lực nơi ta và
từ bi, định lực nơi loài La Sát, khiến phước đức và lòng từ bi nơi ta
sinh khởi mãnh liệt, tác động vào hạt giống từ bi và trí tuệ nơi quỷ La
Sát, khiến cho trong giờ phút ấy, ác tâm của họ không đủ điều kiện để
sinh khởi; mà chỉ sinh khởi thiện tâm, khiến cho quỷ La Sát đã không ăn
thịt người mà còn khởi lên từ tâm cứu giúp người thoát khỏi tai nạn.
Điều nầy chứng tỏ
rằng, thiện tánh hay ác tánh ở nơi hết thảy chúng sanh không có nhất
định, không có tự tánh. Nếu gặp thiện duyên, thì thiện tánh sinh khởi,
nếu gặp ác duyên thì ác tánh phát sinh. Nên, khi đi vào biển cả bị gió
xoáy, gió chướng làm thuyền tàu tấp vào đảo quốc La Sát, ta phải nhất
tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, là tạo nhân duyên tốt đẹp để
thiện tánh nơi loài La Sát sinh khởi, và để cho từ bi tâm nơi loài La
Sát khởi sinh. Một khi thiện tâm và từ bi tâm của quỷ La Sát sinh khởi
qua danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, do ta nhất tâm xưng niệm, thì loài quỷ
La Sát không khởi tâm hại ta, mà khởi tâm cứu ta là điều chúng ta có thể
hiểu được. Quỷ La Sát có thể là những hạt giống bất như ý ở trong tâm
thức ta khởi lên, hay nộ khí xung thiên trong ta nổi dậy, ta muốn ăn
tươi nuốt sống người mà đã gây ra cho ta những bất như ý, chính lúc đó
ta không còn là ta, mà ta là quỷ La Sát.
Lại nữa, quỷ La Sát
là loài thích ăn thịt chúng sanh, nhất là thịt người. Vì trong tâm thức
của loài nầy chứa đầy những hạt giống về nghiệp sát và hạt giống ấy luôn
biểu hiện thường trực trong đời sống của chúng.
Nên, những loài thích
ăn thịt chúng sanh, dù là ăn thịt bằng bất cứ cách nào, cũng đều có hạt
giống của loài quỷ La Sát cả. Nếu những hạt giống ấy, khi có điều kiện
mà biểu hiện quá mạnh, thì giây phút đó, ta không còn là người; ta là
quỷ La Sát. Và nếu hạt giống ăn thịt của ta không biểu hiện đủ mạnh như
quỷ, để thành quỷ La Sát, thì nó cũng biểu hiện sự thèm khát ăn thịt của
loài chúng sanh như chó sói, cọp, beo, mèo, chồn, và giây phút ấy ta là
những loài ấy.
Bởi vậy, đối với quỷ
La Sát chính hiệu hay là quỷ La Sát trá hình, hoặc thuộc về dòng họ quỷ
La Sát, thì những hạt giống sát hại, nhân duyên sát hại, hành động sát
hại, quả báo sát hại nơi những người ấy là những môi trường hoạt động
thường trực của họ. Trong môi trường ấy, rất cần sự có mặt của Bồ Tát
Quán Thế Âm, qua hình tướng, qua danh hiệu và nguyện lực từ bi của Ngài
để làm thay đổi nhân duyên của nghiệp sát, khiến cho nghiệp sát trở
thành hành động từ bi, chủng tử sát trở thành chủng tử nhân từ, khiêm
ái, khi ta niệm tiếng Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, bằng tất cả tấm lòng
tha thiết đầy từ bi và nguyện lực của ta.
1.4 Vượt Thoát Khỏi
Nạn Hình Sự:
Kinh nói: “Nếu có
người sắp sửa bị đem ra hành hình mà trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì dao gậy trong tay đao phủ tức khắc gãy ra từng đoạn và người
bị hành hình liền được thoát khỏi”.
Nạn hình sự, cũng gọi
là vương nạn, là tai nạn do quyền lực của vua quan đem lại cho người dân
và đem dân ra xử ở pháp đình theo vương pháp, qua những khí cụ như đao,
gậy, hoặc để đâm chém cho chết, hoặc để đánh đập cho bị thương tích, nên
cũng gọi là Đao trượng nạn.
Hoặc do oan mà rơi
vào tai nạn hình sự, hoặc do tạo nhân hình sự mà rơi vào hậu quả của
hình sự, hoặc bị pháp đình tuyên bố xử bắn, hoặc làm thương tích, hoặc
bị kêu án tù tội, trong những trường hợp ấy, người bị nạn trì niệm danh
hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm với tâm chí thành đều có hiệu quả tốt đẹp.
Tại sao? Tại do năng
lực trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, khiến cho năng lực từ bi
và trí tuệ châu biến cả pháp giới của Ngài, tự xâm nhập vào tâm chí của
người niệm, tạo thành năng lực trí tuệ, từ bi có khả năng gia trì, khiến
cho người xử án đủ năng lực sáng suốt, để xét xử vấn đề một cách phân
minh. Nếu người bị xử bị oan, thì sẽ được minh oan; Nếu người bị xử đúng
tội danh, đúng tội chủng, đúng tội tướng và tội hình, thì tức thời được
giáo huấn đạo đức, sớm phục thiện và được giảm án hoặc được bồi thường
bằng tài vật, mà không bị tổn hại đến thân thể hoặc được tha bỗng, tùy
theo những trường hợp của vấn đề.
Nhưng, chắc chắn khi
bị đem ra xét xử, mà người bị xét xử do niệm trì danh hiệu Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì không thể bị gia hình, hoặc bị gia oan. Trái lại, tội nặng
sẽ biến thành tội nhẹ và tội nhẹ chuyển thành vô tội. Dù vậy, nhưng công
lý vẫn được tôn trọng. Tại tội do tâm, khi tâm đã hối hận và thay đổi
bằng cách chí thành niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tội
danh, tội chủng, tội tướng và tội hình đều tùy thuộc theo sự thay đổi
của tâm người phạm, mà tự thay đổi, và tâm của quan tòa cũng duyên theo
tâm đổi thay của phạm nhân mà thay đổi cách xét xử và mức độ của bản án.
Nên, niệm trì danh
hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm mà vượt thoát khỏi tai nạn hình sự là điều
có thể xẩy ra và chúng ta có thể kiểm nghiệm từ nơi các phạm nhân và
phiên tòa, dù rằng phạm nhân do niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm mà
thoát khỏi nạn hình sự, nhưng công pháp vẫn được tôn trọng và công lý
vẫn được bảo toàn.
1.5 Vượt Thoát Nạn
Quỷ Dạ Xoa:
Kinh nói: “Nếu giả sử
cả thế giới tam thiên và đại thiên, đầy cả quỷ Dạ Xoa, La Sát, những
loài ấy muốn đến não hại người nào, mà nghe người ấy, xưng danh hiệu của
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì các loài quỷ dữ ấy, còn không thể dùng mắt để
nhìn người ấy, huống nữa làm hại”.
Không những La Sát là
loài quỷ dữ mà Dạ Xoa cũng là loài quỷ dữ. Quỷ Dạ Xoa là loài quỷ hay
gây bệnh cho chúng sanh và thích hút tinh khí của người và chúng sanh.
Tại sao niệm trì danh
hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì các loài quỷ dữ nầy không thể dùng mắt
dữ để nhìn người niệm, huống là có hành động làm hại?
Tại vì Bồ Tát Quán
Thế Âm đối với hết thảy các loài thiên nhân, thánh phàm, quỷ thần …,
không những Bồ Tát có ân đức cứu độ lớn đối với họ, mà còn có uy đức
nhiếp phục lớn đối với hết thảy chúng sanh nữa.
Đối với chúng sanh
nào, loài nào cần dùng ân đức để nhiếp phục, thì Bồ Tát Quán Thế Âm sử
dụng ân đức để nhiếp phục và đối với những loài nào cần dùng uy đức để
nhiếp phục, thì Bồ Tát liền dùng uy đức để nhiếp phục, và trong danh
hiệu của Bồ Tát có chuyển tải đầy đủ cả hai chất liệu ân đức và uy đức
ấy, nên khi nghe, niệm trì danh hiệu của Ngài, thì các loài quỷ nầy đã
từng thọ ân giáo hóa, hoặc sợ hãi uy đức, khiến cho các loài quỷ ấy
không dám đưa mắt dữ mà nhìn người đang trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán
Thế Âm. Và, vì người trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm là làm
cho ân đức và uy đức của vị Bồ Tát nầy, đang có mặt một cách đích thực ở
nơi thân tâm của người đang niệm, do uy đức đó, khiến cho các loài quỷ
ấy, không thể nào đưa mắt dữ mà nhìn người đó, huống nữa là có hành động
ám hại.
1.6 Vượt Thoát Khỏi
Nạn Gông Cùm:
Kinh nói: “Giả sử,
lại có người có tội, hoặc không có tội, mà thân thể của họ bị gông cùm,
trói buộc, xiềng xích, người ấy xưng trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì những dụng cụ trói buộc, gông cùm, xiềng xích ấy, đều bị đứt rã và
người ấy liền được giải thoát”.
Đây là thần lực giải
cứu người đang bị bắt tù, dù người đó là có tội hay không có tội. Người
tù bị bắt trói nơi tay gọi là nữu
(杻),
bị trói nơi
chân gọi là giới
(械);
bị trói ở cổ
gọi là giā
(枷);
bị trói ở thân
gọi là tỏa
(鎖).
Người bị bắt tù dù có
tội, không có tội, bị bắt trói bằng bất cứ cách gì, người tù ấy biết
khởi tâm giải thoát đối với ái nghiệp, đối với ái kiến, đối với sự chấp
thủ ngã và khởi tâm sám hối đối với những tác nghiệp hiện tại và dư báo
từ đời trước, rồi nhất tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một
cách chí thành, làm cho tự thân phát sinh định lực giải thoát và định
lực giải thoát ấy, lại tiếp xúc và hội nhập được với định lực giải thoát
châu biến pháp giới của Bồ Tát Quán Thế Âm, khiến cho cai tù sinh khởi
từ tâm và tự tháo gỡ cho kẻ bị tù, hay làm cho người giám đốc nhà tù
sinh khởi từ tâm, mà ra lệnh phóng thích cho người ở tù, hoặc làm cho
cảnh nhà tù thay đổi, khiến hết thảy mọi sự gông cùm tự nhiên đứt rã.
Bồ Tát Quán Thế Âm
còn gọi là Bồ Tát Quán Tự Tại, nên khi bị gông cùm, tù đày, ta niệm danh
hiệu của Ngài, khiến cho những hạt giống tự tại phát khởi và lớn mạnh
trong tâm ta, trong mọi suy nghĩ của ta, trong lời nói và hành động của
ta, nên khi nhân duyên hội đủ, thì ta có sự tự do, sự tự tại và ta thoát
khỏi lao ngục, xiềng xích, gông cùm một cách tự nhiên.
Và trong khi trì niệm
danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm như vậy, thân ta tuy đang bị gông cùm
mà tâm ta đã bắt đầu có sự tự do. Ta càng trì niệm danh hiệu của Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì sự tự do trong tâm ta càng mở rộng. Và mỗi khi tâm đã
có được sự tự do lớn, tâm sẽ giúp cho thân có tự do và tâm sẽ có khả
năng tháo gỡ mọi sự hệ luỵ và gông cùm cho thân.
Mỗi khi tâm ta đã có
sự tự do, đã có giải thoát, thì việc thân thể bị gông cùm, bị xiềng xích
không còn là quan trọng nữa. Trước sau gì thân cũng được tự do, giải
thoát, bởi vì mọi sự tự do và giải thoát của thân hoàn toàn tùy thuộc
vào sự tự do và giải thoát của tâm.
Đây là một sự thật mà
ta có thể thực tập để chứng nghiệm lời dạy của Kinh.
1.7 Vượt Khỏi Nạn
Giặc Cướp:
Kinh nói: “Nếu trong
tam thiên đại thiên thế giới đầy cả giặc cướp, có một thương chủ cầm đầu
đoàn đi buôn, mang cầm vàng bạc quý trọng đi qua con đường hiểm; trong
đoàn có một người xướng lên rằng: Hỡi các thiện nam tử, đừng sợ hãi,
chúng ta hãy cùng nhau hết lòng xưng trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm!
Vị Bồ Tát nầy có khả năng ban cho chúng sanh sự không sợ hãi. Chúng ta
chấp trì danh hiệu của Ngài, thì sẽ thoát khỏi giặc cướp trên con đường
hiểm nầy. Đoàn người đi buôn nghe nói, tất cả đồng thanh phát lên lời
trì niệm Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm. Do xưng trì danh hiệu của vị Bồ Tát
nầy mà tức khắc vượt thoát được nạn giặc cướp”.
Nạn giặc cướp là nạn
cướp của, giết người. Con đường hiểm là trên con đường ấy, thường xẩy ra
tai nạn giết người, cướp của. Trong tình trạng đường hiểm, giặc cướp đón
đường mà trong đoàn có một người xướng lên rằng, đừng sợ hãi, chúng ta
cùng nhau xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, thì chúng ta sẽ thoát
khỏi hiểm nạn nầy. Và tất cả mọi người đều đồng thanh niệm danh hiệu Nam
Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, tức thời họ đều thoát nạn.
Ở đây, con đường hiểm
là bóng đêm, giặc cướp là những người thường hoạt động trong bóng đêm,
chúng ta đi trong bóng đêm mà có dụng cụ của ánh sáng, lại cùng nhau có
sức mạnh của đức Tin, có Niệm lực, có Tuệ lực và cùng nhau biểu hiện đức
tin, biểu hiện niệm lực, biểu hiện tuệ lực, xưng niệm danh hiệu của đức
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì chẳng khác nào, đi trong bóng đêm lại có ánh
sáng bảo hộ, đối diện với giặc cướp lại có thiện pháp và thiện thần bảo
hộ, làm cho giặc cướp tự nó rút lui không dám tung hoành, đây là điều mà
chúng ta có thể lý giải được.
Ở mặt đạo lý, con
đường hiểm là con đường sinh tử, giặc cướp là những tâm sở bất thiện
ngày đêm hoạt động một cách tự do ở nơi tâm thức của mỗi chúng ta, chúng
cướp hết thảy thiện pháp nơi tâm ta và giết chết giới thân tuệ mạng của
mỗi chúng ta, khiến cho chúng ta không đi đến nơi an lạc của Niết Bàn.
Trong tình trạng ấy, ta có bậc Thầy với Giới Định Tuệ vững chãi, khuyên
ta nên niệm trì danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, thì ta có thể
thoát khỏi sự quấy phá của đám giặc phiền não trên con đường hiểm sinh
tử ấy, để bảo toàn giới thân tuệ mạng mà đi đến bờ bến Niết bàn.
Bậc Đạo Sư dạy ta
niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm là giúp ta đưa chủ thể năng niệm
nhập vào đối tượng sở niệm, tức là nhập vào đại bi và đại trí của Bồ Tát
Quán Thế Âm, khiến cho chất liệu đại bi và đại trí của Bồ Tát Quán Thế
Âm có mặt trong tâm trí của ta, soi chiếu vào tâm thức ta, khiến đám
giặc phiền não trong tâm thức ta tự tan biến, trả lại sự yên tĩnh và tự
do cho tâm hồn ta, khiến ta vượt qua được con đường hiểm của sinh tử mà
đi về quê hương Niết Bàn một cách như ý.
Như vậy, niệm danh
hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, không những giúp ta vượt thoát được
những tình trạng tệ nạn của xã hội, mà còn vượt thoát khỏi tệ nạn của
tâm thức chúng ta nữa. Những tệ nạn của xã hội, chúng luôn luôn gắn liền
với những tệ nạn của tâm thức. Những tệ nạn xã hội, chúng sinh khởi từ
những tệ nạn của tâm thức, nếu tâm thức cá nhân và cộng động hoạt động
trong sự yên tịnh và thương yêu, thì mọi sinh hoạt xã hội tự nó đi về
hướng tốt đẹp, và nhất định những tệ nạn của xã hội càng ngày càng giảm
thiểu và sẽ chấm dứt.
2. Chuyển Hóa Ba
Căn Bản Phiền Não:
Kinh nói: “Nếu có
chúng sanh tính nhiều dâm dục mà thường xuyên niệm trì danh hiệu của Bồ
Tát Quán Thế Âm một cách cung kính, thì liền thoát được tính ấy.
Nếu có chúng sanh
tính nhiều sân hận, mà thường xuyên niệm trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế
Âm một cách cung kính, thì liền thoát được tính ấy.
Nếu có chúng sanh
tính nhiều ngu si, mà thường xuyên niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm một cách cung kính, thì liền thoát được tính ấy”.
Tham dục, sân hận và
ngu si là ba thứ phiền não căn bản, liên hệ trực tiếp với ý nghiệp và
qua ý nghiệp tác động lên thân nghiệp và ngữ nghiệp để tạo ra muôn ngàn
tội lỗi dẫn đến khổ báo.
Dâm dục là một năng
lực hoạt động sinh tồn của hết thảy chúng sanh ở trong dục giới. Năng
lực ấy hoạt động không phải chúng do tác động và sinh khởi bởi những yếu
tố thuần sinh học, mà chính chúng được tác động bởi những năng lượng hay
ý chí sinh tồn, thèm khát và hưởng thụ có nội dung tâm lý.
Chính ý chí sinh tồn,
thèm khát và hưởng thụ là tác nhân và những năng lượng vật lý hay sinh
học là tác duyên làm điều kiện cho tác nhân sinh khởi.
Do đó, ta phải biết
quản lý khả năng sinh tồn của chúng ta, ta không đẩy khả năng sinh tồn
ấy đi về phía thấp kém, mà phải biết cách chuyển hóa khả năng sinh tồn
ấy đi lên với những sinh hoạt cấp cao.
Ta phải biết đưa khả
năng sinh tồn trong ta đi lên theo lý tưởng, bản hạnh và bản nguyện của
Bồ Tát Quán thế Âm. Ta niệm trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm một cách
cung kính, là ta có khả năng quản lý nguồn năng lượng sinh tồn của ta,
và đẩy nguồn năng lượng sinh tồn ấy, đi lên với lý tưởng Từ bi, với bản
nguyện cứu khổ, với bản hạnh độ đời của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì năng
lượng sinh tồn ấy, không còn là năng lượng bức bách và não hại ta, mà nó
giúp ta thăng hoa trong cuộc sống.
Do đó, ta phải biết
chăm sóc năng lượng sinh tồn trong ta bằng chất liệu Từ bi và Trí tuệ
của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì chắc chắn tính dục, hay nguồn năng lượng
sinh tồn trong ta sẽ được chuyển hóa và sẽ nhập vào nguồn năng lượng của
đại bi và đại trí của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vấn đề nầy, không phải là lý
luận hay lý thuyết mà là vấn đề của thực tập, thực nghiệm, chứng nghiệm
và tự tri.
Nguồn năng lượng dâm
dục vốn không có tự tính, chúng sinh khởi theo duyên, thì chúng tùy diệt
hay chuyển hóa cũng theo duyên. Niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế
Âm, khiến cho các duyên đại bi và đại trí, đại nguyện và đại hạnh sinh
khởi trong ta, làm thay đổi và chuyển hóa nguồn năng lượng sinh học thấp
kém trong ta là điều có thể nhìn thấy, tiếp xúc và thực tập.
Sân hận cũng là một
nguồn năng lượng thuộc về những hạt giống bất mãn đang vận hành trong
tâm thức của mỗi chúng ta. Người nào có nhiều năng lượng nầy, người đó
trong đời sống của họ có rất nhiều bất mãn và khổ đau. Và chỉ có nguồn
năng lượng của thương yêu, hỷ xả và bao dung mới có thể dập tắt và hóa
giải nguồn năng lượng giận dữ của tâm thức nầy.
Sự chấp ngã càng lớn,
thì sự kiêu mạn và giận dữ càng nhiều. Do đó, khi giận dữ khởi lên trong
tâm thức ta, ta phải nhớ ngay đến Bồ Tát Quán Thế Âm và niệm danh hiệu
của Ngài một cách cẩn trọng, để cho năng lượng Từ Bi, Hỷ Xả và Bao Dung
của Ngài xâm nhập vào tâm ta, tác động hạt giống Từ Bi, Hỷ Xả và Bao
Dung vốn có nơi tâm ta khởi dậy, để chúng hóa giải nguồn năng lượng giận
dữ đang hoạt động và biểu hiện nơi tâm thức ta, khiến cho nguồn năng
lượng giận dữ ấy lắng yên và từ từ tan biến.
Tâm ta không còn giận
dữ, thì lời nói và hành động của ta không còn tạo nên những oán kết và
đổ vỡ cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nguồn năng lượng giận
dữ trong tâm ta, chúng vốn không có tự tánh, chúng biểu hiện do sự liên
hệ giữa những tác nhân và tác duyên chấp ngã mà sinh khởi, do đó chúng
sinh khởi do duyên, thì chúng tùy diệt hay chuyển hóa cũng theo duyên và
do duyên.
Bởi vậy, khi trong ta
có quá nhiều tính sân hận, thì phải thường xuyên niệm trì danh hiệu của
Bồ Tát Quán Thế Âm là vị Bồ Tát có nguồn năng lượng Trí tuệ và Từ bi bao
trùm cả pháp giới, khiến cho nguồn năng lượng ấy của Ngài, có cơ hội đi
vào tâm thức ta và chuyển hóa những hạt giống giận dữ, sân hận trong tâm
thức ta, thành Từ bi và Trí tuệ.
Năng lượng Trí tuệ và
Từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm châu biến cả pháp giới là tha lực, là ngoại
duyên, ta chấp trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách thành khẩn
để hạt giống Trí tuệ và Từ bi trong tâm thức ta phát khởi là tự lực, là
nội nhân và nội duyên.
Tự lực và tha lực,
nội nhân và ngoại duyên tác động lên nhau, phối hợp cùng nhau, chắc chắn
những hạt giống giận dữ, sân hận trong tâm thức ta sẽ được thay thế và
hóa giải bởi năng lượng Từ bi cao đẹp ấy.
Ngu si cũng là một
nguồn năng lượng ô nhiễm căn bản của tâm thức. Tự mình sai lầm, không
phân định được chánh tà, thiện ác, chân vọng, người như vậy gọi là ngu.
Làm cho người khác mê lầm, không biết thế nào là chánh tà, thiện ác,
chân vọng, đúng sai, người như vậy gọi là si. Ngu mà cọng với si, thì
chỉ lao đầu vào bóng tối, rớt xuống vực thẳm, nhảy vào vạc dầu sôi, sa
vào lò lửa lớn để tự thiêu, tự đốt, tự hại lấy mình.
Sống với thân trâu
ngựa, bị kéo cày, chở nặng, chết bị phanh thây, chưa phải là khổ, cái
khổ đích thực là do ngu si vô trí đem lại.
Với người nhiều ngu
si như vậy, nếu chấp trì danh hiệu Bồ Tát Quán thế Âm một cách thành
khẩn, thì sự ngu và si ấy cũng từ từ được chuyển hóa.
Tại sao? Do ta tha
thiết trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, nên tâm ta từ từ có
định, và mỗi khi tâm ta đã có định lực, thì tuệ sẽ có cơ sở để sinh
khởi. Ánh sáng trí tuệ trong tâm ta phát sinh, thì sự ngu si trong tâm
ta từ từ xóa sạch.
Do đó, nếu ta có quá
nhiều ngu si, ta chỉ cần chấp trì danh hiệu của vị Bồ Tát nầy, thì ta
cũng phát sinh được trí tuệ. Niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm là
tác duyên để cho tâm ta được đi vào thiền định và dẫn khởi trí tuệ.
Như vậy, chúng ta
thấy, chấp trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, không những giúp cho ta
chuyển hóa khổ quả mà còn chuyển hóa khổ nhân, không những giúp ta làm
thay đổi Khổ đế mà còn thay đổi Tập đế.
Bảy tai nạn được đề
cập ở trước là khổ quả hay Khổ đế, ba căn bản phiền não gồm tham dục,
sân hận, ngu si là khổ nhân hay Tập đế.
Biết khổ và muốn vượt
thoát khổ đau là phải đoạn trừ nhân duyên sinh khởi chúng. Biết bảy tai
nạn gồm lửa, nước, gió, quỷ La Sát, hình sự, quỷ Dạ Xoa, gông cùm tù
tội, oán tặc, là những tai nạn của sinh tử, thì ta phải nỗ lực tu tập để
đoạn trừ những độc tố căn bản của tâm là tham, sân, và si, chính từ nơi
ba độc tố nầy, mà gây ra bảy tai nạn ở trên và có thể gây ra vô số tai
nạn khác nữa.
Bởi vậy, ở phẩm Phổ
Môn của kinh Pháp Hoa nầy, Bồ Tát Quán Thế Âm không những mở rộng cánh
cửa, đưa ta đi vào thế giới của Khổ đế để thấy đủ thứ tai nạn, mà cũng
còn mở rộng cánh cửa của Tập đế, để giúp ta thấy rõ những tập khởi của
khổ đau, và cũng giúp ta thấy rõ con đường diệt khổ tức là Đạo đế qua
Tín căn và Tín lực, Tấn căn và Tấn lực, Niệm căn và Niệm lực, Định căn
và Định lực, Tuệ căn và Tuệ lực.
Hãy tin vào uy lực và
bản nguyện hóa độ của Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là Tín căn và Tín lực; hãy
nỗ lực nắm lấy danh hiệu của Ngài để trì niệm, khiến cho những điều ác
trong ta chưa sanh, thì không thể sanh; khiến cho những điều ác trong ta
đã sanh liền bị hủy diệt; khiến cho những điều thiện trong ta chưa phát
sanh liền phát sanh và những điều thiện trong ta đã phát sanh liền tăng
trưởng liên tục, đó là Tấn căn và Tấn lực; hãy nắm lấy danh hiệu của
Ngài, khiến danh hiệu ấy càng lúc càng hiện rõ và duy trì vững chãi
trong sự trong sáng của ý thức và biểu hiện cụ thể qua các quan năng, và
hãy duy trì nó qua các động tác đi đứng nằm ngồi hay mọi phong thái hoạt
động, đó là Niệm căn và Niệm lực. Niệm căn và niệm lực như vậy, cho đến
khi tâm ta không còn bị hôn trầm, dao động, nghi ngờ và sợ hãi, đó là
Định căn và Định lực. Định căn và Định lực như vậy, cho đến khi những
khát ái, những chấp thủ, những tạo tác, những chủng tử luân chuyển tử
sinh không còn hiện khởi, những vô minh và bóng dáng của nó đều bị xóa
sạch, bấy giờ thấy rõ tự thân của thực tại, ấy là Tuệ căn và Tuệ lực. Và
ngay khi đó, Thánh đạo vô lậu sinh khởi, liền thoát khỏi tai nạn sinh tử
và được giải thoát, đó là thành tựu Diệt đế, bấy giờ Khổ đế và Tập đế
hoàn toàn vắng bặt.
Cho nên, phẩm Phổ môn
của kinh Pháp Hoa đã giúp cho ta có cách nhìn từ cạn tới sâu, từ thấp
tới cao, từ thô đến tế, từ tinh đến diệu, và từ một điểm cho đến châu
biến cả pháp giới. Nên, ở trong pháp giới, ai cũng có thể thọ trì đọc
tụng thực tập kinh Pháp Hoa và ai cũng có thể trì niệm danh hiệu của Bồ
Tát Quán Thế Âm cả, vì danh hiệu ấy là danh hiệu của mọi pháp môn và là
danh hiệu của Đại Bi và Đại Trí, có năng lực nắm giữ và duy trì hết thảy
thiện pháp.
3. Thỏa Mãn Hai Ước Nguyện:
Kinh nói: “Giả sử,
nếu có người nữ nào muốn cầu con trai mà lễ bái cúng dường Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì liền sanh con trai, vừa có phước đức và vừa có trí tuệ.
Giả sử, nếu có người
nữ nào muốn cầu con gái mà lễ bái cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
liền sanh con gái đẹp, đoan chánh, có gốc rễ phước đức đã gieo trồng từ
trước và đều được mọi người thương quý”.
Một trong những nỗi
khổ của người nữ là khi lập gia đình mà không có con, hoặc có con mà chỉ
là trai, hoặc chỉ là gái, hoặc trai và gái đều không có phước đức, trí
tuệ, tướng hảo và đoan chính.
Như vậy, dù có sinh
con hay không sinh con vẫn không được như ý muốn, vẫn đau khổ cả.
Bất như ý là một
trong tám nỗi khổ đau thuộc về Khổ đế.
Để giải quyết Khổ đế
nầy, phẩm Phổ môn kinh Pháp Hoa giúp cho người nữ sinh con theo ý muốn,
qua đức tin cúng dường và lễ bái đối với Bồ Tát Quán Thế Âm.
Tín và Kính là hai
chất liệu quý báu vốn có nơi tâm thức của mỗi chúng ta, nhưng do vọng
niệm, do không có chánh niệm, khiến cho hai chất liệu ấy không thể biểu
hiện.
Nên, khi người nữ tín
và kính Bồ Tát Quán Thế Âm, biểu lộ và nuôi dưỡng sự tín kính ấy của họ,
qua sự lễ bái và cúng dường đối với Ngài, thì phước đức, trí tuệ, tướng
hảo và sự đoan chánh của người nữ sẽ phát sinh và lớn mạnh, cọng thêm sự
gia trì lực của Bồ Tát Quán Thế Âm, khiến cho người nữ ấy, có khả năng
sinh con trai hoặc con gái theo ý muốn.
Lại nữa, từ nơi chất
liệu tín và kính qua sự lễ bái, cúng dường đối với Bồ Tát Quán Thế Âm
của người nữ, khiến cho phước đức, trí tuệ, tướng hảo và sự đoan chánh
của họ sinh khởi phối hợp với sức Từ bi và nguyện lực của Bồ Tát Quán
Thế Âm đang châu biến pháp giới làm tác duyên, khiến cho trung ấm thân
của những Thánh giả Nhất lai, hoặc Thất lai, hoặc của những vị Bồ Tát
muốn thác hóa vào thân thể nhân loại để độ sinh, thì những vị ấy liền
thác sinh vào làm con trai phước đức, trí tuệ hoặc là con gái tướng hảo
đoan chánh của những người nữ có lòng tín kính đối với Bồ Tát Quán Thế
Âm ấy.
Đây là điều không
phải chỉ giải thích bằng đức tin mà ta cũng có thể giải thích nó về mặt
tâm học và khoa học nữa.
Như vậy, việc sinh
con theo ý muốn đã được kinh Pháp hoa đề xuất và có phương pháp thực
hiện, nhưng với việc sinh con theo ý muốn, gần đây khoa học mới đề xuất
và đã có những công trình thực nghiệm.
4. Ba Mươi Ba Ứng
Thân:
Phẩm Phổ Môn của kinh
Pháp Hoa có nêu ra Bồ Tát Quán Thế Âm biểu hiện ba mươi ba ứng thân
thích hợp với căn cơ, nghiệp chủng, y báo, chánh báo của từng chủng loại
trong mười pháp giới chúng sanh để thuyết pháp, nhằm biểu thị rằng, Bồ
Tát Quán Thế Âm là vị Bồ Tát đã đạt đến Lý, Sự tương dung. Nên đối với
Lý tánh, hết thảy chúng sanh nương nơi Ngài mà thể nhập và đối với sự
tướng, thì hết thảy chúng sanh nương nơi Ngài mà biểu hiện. Tuy, biểu
hiện sự tướng mà không làm trở ngại bất cứ một sự tướng nào của chúng
sanh trong toàn thể vũ trụ.
Kinh nêu rõ ba mươi
ba ứng thân thích hợp là chỉ tiêu biểu, chứ thật ra chúng sanh trong
mười phương pháp giới có bao nhiêu thể loại, có bao nhiêu tánh chất, có
bao nhiêu sắc tướng, có bao nhiêu năng lực, có bao nhiêu nhân, có bao
nhiêu duyên, có bao nhiêu quả, có bao nhiêu nghiệp báo, thì Bồ Tát Quán
Thế Âm có khả năng biểu hiện bấy nhiêu thân thể để diễn thuyết diệu pháp
nhằm khai, thị, ngộ, nhập phật tri kiến cho hết thảy họ.
Nên, ở phẩm Phổ Môn
của kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Vô Tận Ý đã hỏi đức Thế Tôn, việc du hóa của
Bồ Tát Quán thế Âm nơi cõi Ta Bà là như thế nào, và Bồ Tát Vô Tận Ý đã
được đức Phật nêu ra cụ thể ba mươi ba ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm
du hóa trong cõi Ta Bà.
Đức Phật nêu rõ các
ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm như vậy, là nhằm biểu thị khả năng hoằng
truyền kinh Pháp Hoa một cách phổ cập và sinh động của vị Bồ Tát nầy.
Đồng thời không những giúp cho Bồ Tát Vô Tận Ý thấy rằng, chúng sanh có
bao nhiêu ý niệm thì Bồ Tát Quán Thế Âm có bấy nhiêu hình thể thiền định
để nhiếp phục ý niệm ấy. Và nếu chúng sanh có vô tận ý, thì bản nguyện
độ sinh của Bồ Tát cũng vô cùng, mà ứng thân của Bồ Tát cũng vô tận.
Nên, trong bài học
ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã giúp ta hiểu thêm các mặt như sau:
1.
Bất cứ hình thức nào ta cũng có thể giảng kinh Pháp Hoa.
2.
Bất cứ hình thức nào ta cũng có thể nghe kinh Pháp Hoa.
3.
Bất cứ hình thức nào ta cũng có thể sống và thực hành kinh Pháp
Hoa.
Vì
sao? Vì kinh Pháp Hoa là kinh chỉ rõ diệu pháp ở nơi các pháp để cho
chúng sanh thấy, biết mà ngộ nhập, nên kinh Pháp Hoa là kinh của tất cả
pháp và là kinh đem lại quyền lợi cao nhất cho hết thảy chúng sanh, nên
kinh ấy là kinh của chúng sanh, và hết thảy chúng sanh đều có bổn phận
phải giữ gìn, đọc tụng, hành trì, tuyên thuyết và truyền bá cùng khắp.
|