|
TUYẾT LAN
Một ngày mùa đông năm Dân quốc
thứ 25, trên tòa giảng trong chùa Cổ Lâm tại Nam Kinh, Hòa thượng Tuệ
Học đang giảng kinh “Bát Đại Nhân Giác”. Ngôi giảng đường chìm ngập
trong bầu không khí yên lặng hoàn toàn. Người ta chỉ còn nghe thấy pháp
âm của vị Hòa thượng như một tiếng hồng chung ngân nga, tràn lan rồi
vang dội vào lòng thính chúng.
Sau khi tan buổi giảng, mọi người
chen lấn nhau để vào lễ tạ Hòa thượng. Tuyết Lan nghĩ thầm: “Vạ gì mà
phải chen lấn thế kia cho khổ thân, hãy vào thư viện đọc sách một lát,
chờ cho họ về hết thì mình vào lễ tạ Hòa thượng cũng được ”. Bởi thế,
nàng tiến vào thư viện. Tòa thư viện được xây hai tầng: Tầng trên tàng
trữ ba Tạng kinh điển và chỉ dành riêng cho các sư, còn tầng dưới bày đủ
các loại sách dành cho công chúng vào xem.
Tuyết Lan vô ý đẩy cửa đánh rầm
một cái, làm cho Đức đang vùi đầu vào quyển sách ở bàn bên kia phải giật
mình. Chàng ngẩng lên nhìn nàng, Tuyết Lan cảm thấy hơi thẹn vì cử chỉ
thô bạo của mình nên cặp má nàng ửng hồng. Nàng khẽ cúi đầu bẽn lẽn, nói
câu “xin lỗi “rồi lướt qua mặt Đức, đến ngồi ở một chiếc bàn gần đấy.
Nhưng lòng nàng cứ rạo rực, hình ảnh của Đức đang ngồi ở bàn bên kia cứ
quay cuồng trong đầu óc nàng, nên tuy đọc sách, song tâm nàng lại nghĩ
vẩn vơ và tự hỏi: “Lạ thật! Sao từ trước đến giờ, mình không thấy anh
ta? Hay lần này anh ta mới đến lần một?”.
Rồi thỉnh thoảng nàng lại liếc
trộm Đức. Diện mạo của Đức khôi ngô tuấn tú, cặp lông mày đen và dài,
vầng trán cao rộng và chiếc mũi thẳng tỏ ra là một thanh niên thông
minh, trầm mặc và ít nói. Tuyết Lan thấy ngồi đọc sách không yên.
Mọi người lũ lượt kéo nhau ra về.
Tuyết Lan thấy có thể vào bái kiến Hòa thượng được rồi, nên nàng lại
lướt qua mặt Đức và mở cửa bước ra. Song Đức vẫn cứ cặm cụi đọc sách,
chàng đọc như say mê và không hề để ý đến Tuyết Lan khi nàng đi qua.
Lúc đến trước Hòa thượng, Tuyết
Lan vái ba vái, Hòa thượng vừa vẫy tay vừa mỉm cười nói:
- Thế nào, con nghe có hiểu
không?
Tuyết Lan đứng bên cạnh, nhìn Hòa
thượng và đáp:
- Bạch Hòa thượng, Hòa thượng
giảng dễ hiểu lắm. Theo con, tất cả mọi người đều nên đọc tụng kinh “Bát
Đại Nhân Giác”.
Tuyết Lan vừa dứt lời, lúc đó Đức
bỗng đi vào. Chàng cung kính vái Hòa thượng rồi đứng sang một bên. Thấy
hai người có vẻ lúng túng, Hòa thượng tươi cười nói:
- Ơ kìa! Các con không quen nhau
à?
Thế rồi Hòa thượng giới thiệu họ
với nhau:
- Đây là Tuyết Lan, vừa thi vào
Đại học Trung ương. Còn đây là Chu Đức, sinh viên năm thứ ba Đại học
Trung ương. Các con sẽ cùng học một trường. Từ nay, các con hãy coi nhau
như anh em, phải giúp đỡ và khích lệ nhau cả về phương diện học vấn lẫn
đạo đức.
Hòa thượng nói xong, Chu Đức hơi
cúi đầu chào Tuyết Lan. Cặp mắt sáng quắc của chàng làm cho Tuyết Lan
ngây ngất. Nàng khẽ hỏi Hòa thượng Tuệ Học:
- Bạch Hòa thượng, anh ấy quy y
đã lâu chưa ạ?
- Lâu rồi, chừng mười năm nay.
Sức học Phật pháp của anh ấy khá lắm, lòng tin cũng vững chắc và lại
chịu khó tu niệm. Người rất có chí.
Tuyết Lan nhìn Chu Đức, nói:
- Sau này, xin anh chỉ dẫn cho
em.
- Không dám! Không dám!
Trước mặt con gái, xưa nay Đức
vốn nói năng vụng về, cho nên hiện giờ đứng trước Tuyết Lan, người thiếu
nữ vừa mỹ lệ vừa hoạt bát, chàng lại càng cảm thấy bối rối, cứ lúng túng
như thợ vụng mất kim, chỉ biết khiêm tốn vâng vâng dạ dạ và gật đầu lia
lịa. Hòa thượng Tuệ Học bảo họ ở lại dùng cơm trưa. Mãi xế chiều, họ mới
cáo biệt Hòa thượng ra về.
Từ đó, ngày nghỉ nào, họ cũng gặp
nhau ở thư viện. Đôi khi có nhiều điểm về Phật học, Tuyết Lan không
hiểu, lại đem hỏi Đức, mà Đức thì rất giỏi về Phật học. Chàng giảng thao
thao bất tuyệt, hình như ngoài việc giảng về Phật học, chàng không biết
nói chuyện gì khác. Cứ như thế, họ gần gũi nhau, nên dần dần họ đã hiểu
nhau và cảm tình giữa họ càng tăng thêm. Mỗi ngày nghỉ học, họ cùng đến
chùa thăm Hòa thượng, rồi dắt nhau vào thư viện. Sau khi đọc sách xong,
họ lại cùng đưa nhau về.
Thời gian đi như bay, thấm thoắt
đã hết đông sang xuân. Một hôm, Tuyết Lan hỏi thử Đức:
- Anh Đức ạ, có người nói mùa
xuân là mùa đọc sách. Theo anh, câu nói ấy có đúng không?
- Rất đúng! Theo tôi, đời người
quá ngắn ngủi. Không những chỉ đọc sách trong mùa xuân mà mùa nào cũng
cần phải đọc cả!
Cái học của Đức đã ảnh hưởng sâu
xa đến tính tình của chàng. Về phương diện ái tình, chàng rất vụng về.
Thời gian qua, tuy chàng mến Tuyết Lan và chàng cũng biết Tuyết Lan thật
mến chàng, song chàng cứ thản nhiên và vô tình như không biết gì cả! Có
lẽ nào chàng không hiểu ý nghĩa thầm kín trong câu hỏi của Tuyết Lan?
Thế nhưng, chàng vẫn trả lời một cách đứng đắn đàng hoàng.
- Thật anh chịu khó ghê! Anh muốn
trở thành một vị lão tăng hay sao đấy? Em tưởng ngày nào chúng ta cũng
cứ vùi đầu vào sách vở, không học bài nhà trường thì lại học Phật, toàn
những thứ khô khan thế này thì đến mụ người đi mất! Em đề nghị tuần tới,
chúng ta phải đi chơi một hôm. Anh có bằng lòng không nào?
Vừa hỏi, nàng vừa nhìn Đức với
ánh mắt khẩn cầu.
- Tôi xin chìu lòng Tuyết Lan,
nhưng chúng ta sẽ đi đâu?
- Lên núi Ngũ Đài. Tuyết Lan mỉm
cười. Người ta bảo mùa xuân thì vùng ấy toàn là hoa, đi đến đâu cũng chỉ
thấy hoa, đủ mầu sắc; hơn nữa trên núi còn có ngôi chùa rất cổ kính và
trang nghiêm. Vậy chúng ta vừa đi xem cảnh vừa được lễ Phật.
- Thế thì chúng ta nhất định đi!
Đức không nói gì thêm, chàng lại
bắt đầu nhìn vào quyển sách. Còn Tuyết Lan thì sung sướng và thầm mong
chóng đến ngày nghỉ tuần tới như một đứa trẻ mong chóng đến Tết để được
mặc áo mới.
Khi lên đến núi Ngũ Đài, họ vào
chùa lễ Phật, rồi đi vòng ra phía sau chùa, tới một dòng suối nhỏ, nước
trong vắt và chảy róc rách. Tuyết Lan hớn hở nói:
-Thôi, đừng đi nữa anh ạ! Hãy
ngồi đây nghỉ chân một lúc!
Vừa nói, nàng vừa trải tấm dạ ra,
rồi ngồi xuống. Nàng đưa mắt nhìn trời một lát và nói:
- Chỗ này đẹp quá, anh nhỉ? Trời
mây thăm thẳm, non nước một mầu, phong cảnh thật nên thơ, thanh thoát
đúng như thế giới Cực Lạc vậy!
- Thế giới Cực Lạc, đất toàn bằng
vàng. Còn ở đây hiện giờ, tôi ngồi trên phiến đá và em ngồi trên tấm dạ.
Khác xa lắm chứ!
Hai người cùng cười, nụ cười bí
ẩn biểu lộ sự giao cảm giữa hai tâm hồn. Không hiểu tại sao ánh mắt của
họ chạm nhau như một luồng điện và ánh mắt ấy khó che giấu được tâm tư
thầm kín của họ! Họ đều cảm thấy một khích động khác lạ trong lòng.
Tuyết Lan sung sướng, nhưng cảm giác sung sướng ấy tiêu tan ngay khi
nàng nhận thấy trước mặt nàng chỉ là một thanh niên có thái độ uy
nghiêm, đạo mạo và rất vụng về trước việc tán tỉnh. Một nụ cười đâu có
thể diễn tả được hết tâm trạng của chàng! Gió xuân đưa đến cho người ta
bao tình nồng đượm và gợi lên bao niềm mơ ước trong lòng người. Làm sao
Đức có thể tránh khỏi những rạo rực và ham muốn của tuổi trẻ? Song chàng
đủ năng lực kềm chế tình cảm và tự chủ lòng mình. Chàng không muốn dùng
lời nói khéo để chinh phục lòng người. Nói chuyện với một thiếu nữ ngây
thơ, thật thà và hiền hậu mà dùng những lời phù phiếm thì đó chỉ là tội
ác. Bầu không khí yên lặng bao quanh họ. Một hồi lâu, Đức mới chậm rãi
nói:
- Con đường đời chỗ nào cũng đầy
chông gai và sỏi đá. Bởi thế, nhân loại mới khổ sở và bất an. Mục đích
tin Phật của chúng ta là mong làm thế nào để biến cải thế giới đầy hầm
hố hiểm nguy này thành một cảnh giới yên vui và phẳng lặng, trong đó con
người không còn tham sân si, chém giết, giành giật và cướp bóc lẫn nhau.
- Vâng, đại nguyện của các bậc Bồ
tát bao giờ cũng thế! Các Ngài cứu độ chúng sinh, hóa cõi đời nhơ nhớp
thành một nơi trong sạch và vĩnh viễn xa lìa mọi phiền muộn.
- Tôi nguyện noi gương của các
Ngài, học theo hạnh từ bi và trí tuệ của các Ngài.
- Anh đã học được cái phong độ uy
nghiêm trang trọng của một vị lão Hòa thượng rồi! Chỉ cần tiến thêm một
bước nữa là anh có thể trở thành gỗ đá.
Nghe xong, Đức hơi nhếch mép cười
và khẽ nói:
- Đúng rồi! Em nói phải lắm! Tôi
là một vị lão tăng ngây ngô như gỗ đá.
Một cảm giác buồn rầu dâng lên trong lòng Tuyết
Lan. Tại sao Đức lại không hiểu câu so sánh đầy tình tứ và âu yếm của
nàng? Có lẽ chàng không yêu nàng! Rồi nàng lại thấy Đức phóng tầm mắt ra
xa và lẩm bẩm như nói một mình:
- Trong lúc tâm hồn chan hòa với
thiên nhiên, một cảnh giới lâng lâng siêu thoát cũng phát hiện và đó mới
là sự thụ hưởng vi diệu nhất của con người. Nhưng sự thụ hưởng ấy chỉ có
thể tự mình cảm lãnh, chứ không thể dùng lời nói để miêu tả hoặc truyền
cảm cho người khác.
Tuyết Lan vờ như không nghe thấy.
Nàng cúi đầu yên lặng, đưa tay ngắt mấy ngọn cỏ bên cạnh tấm dạ. Một lát
sau, nàng ngẩng đầu nhìn Đức, thấy chàng vẫn đăm chiêu vời vợi như đang
thả hồn đến một thế giới cao siêu mầu nhiệm nào với dáng điệu vô cùng
thanh thoát. Bất giác, nàng cảm thấy hổ thẹn vì đã có một ý nghĩ không
được thanh cao lắm đối với một tâm hồn hoàn toàn trong trắng.
*****
Những trận mưa thu rả rích liên
miên mấy ngày đêm không ngớt.
Tuyết Lan đứng trong cửa sổ nhìn ra, phía ngoài
trời vẫn mưa lất phất, thỉnh thoảng một trận gió lùa qua các cây, mấy
chiếc lá vàng quay cuồng trong không khí rồi lả tả rơi xuống đất. Một
người đàn ông cao lớn, mặc áo mưa, đang lù lù tiến đến và Tuyết Lan, như
một cái máy, chạy vội ra mở cửa.
- Ô, anh Trung! Sao anh lại về
vào giờ này? Vào mau, không ướt hết bây giờ!
Trung cởi chiếc áo mưa, mắc ngoài cửa rồi đi vào
phòng khách. Chàng hỏi vội:
- Má có nhà không?
- Không, đi khỏi rồi!
Thấy Trung về bất thần, Tuyết Lan
tỏ vẻ lo ngại:
- Anh, sao anh lại về vào giờ
này? Nàng nhắc lại câu hỏi lúc nãy.
- Tình hình càng ngày càng trầm
trọng. Lư Câu Kiều đã thất thủ, Thượng Hải cũng rất nguy cấp vì quân
Nhật đang tiến tới. Sinh viên trường anh có người xin đầu quân, có người
về quê. Bởi thế, anh mới về thăm em, thăm sư phụ và các bạn hữu vì kỳ
nghỉ hè vừa rồi anh đã không về.
Dứt lời, Trung cố nở một nụ cười
gượng gạo. Trung là bạn chí thân của Tuyết Lan. Từ khi còn thơ ấu, họ đã
nô đùa với nhau và luôn luôn gần gũi nhau, đồng thời lại cùng quy y Hòa
thượng Tuệ Học, nên họ coi nhau như anh em. Trung vốn xấu trai, vóc
người chàng cao lỏng khỏng, cặp mắt ti hí, chiếc mũi hếch, đôi môi dày
và cái mồm rộng hoác. Tuy chàng yêu Tuyết Lan tha thiết, song tự biết
mình xấu xí, nên không dám hé răng mở miệng để bày tỏ nỗi niềm. Hiện
giờ, nụ cười gượng lại càng làm cho bộ mặt của chàng khó coi hơn!
- Thế có nghĩa là anh sẽ không
trở về trường nữa?
- Có về cũng không thể yên tâm và
cũng không đủ số để học, vì lớp của anh giải tán gần hết, cả giáo sư
cũng có mấy vị nghỉ.
- Chao ôi! Sắp mạt kiếp rồi sao
đây? Con người cứ chém giết nhau hoài.
Tuyết Lan than thở, rồi cả hai
người đều ngồi yên lặng. Ngoài hiên, những giọt mưa rơi tí tách nhịp
nhàng, trong lòng họ có bao ý nghĩ thầm kín muốn bộc lộ, nhưng họ không
dám nói lên.
Qua mấy phút trầm mặc, Trung nói:
- Thế nào, mọi sự đều như ý cả
chứ em? Em có năng lên thăm sư phụ không?
- Cảm ơn anh, em vẫn thường. Sư
phụ nhắc đến anh luôn đấy!
- Ồ, hôm nay trời mưa lớn, chắc
không đi được! Hơn một năm rồi, chùa Cổ Lâm chắc cũng có thêm nhiều giáo
hữu. Mai chúng ta cùng lên thăm sư phụ, em nhé?
- Vâng, nhưng …
Tuyết Lan định nói lại thôi. Nàng
muốn đem chuyện của nàng và Đức nói cho Trung nghe, nhưng lại không biết
nên bắt đầu từ đâu. Bởi thế, nàng cúi gằm mặt xuống và hai bàn tay cứ
mân mê tà áo.
Điều đó khiến Trung hoài nghi tâm
sự của nàng, mới gần một năm không gặp mà Tuyết Lan đã thay đổi rồi!
Tính ngây thơ của nàng trước kia giờ đã biến thành tính e lệ, chứa đựng
một ý nghĩa khó hiểu. Mới mấy tháng trời mà trông Tuyết Lan lớn hẳn lên
và cũng đẹp hơn trước. Chàng hạ giọng nói:
- Tuyết Lan, có điều gì em cứ
nói. Chúng ta lớn khôn cả rồi và như là anh em, có gì đáng ngại?
Tuyết Lan bẽn lẽn, cặp má hồng
hồng và đôi môi khẽ rung rung:
- Em nói, anh đừng cười em cơ!
- Không, anh không cười, nói đi!
- Em biết anh rất thương mến em
nên xưa nay có điều gì buồn lòng, em đều nói với anh. Anh thường an ủi
và khích lệ em, song hiện giờ em có một tâm sự thấy khó nói quá!
- Tâm sự gì thì cứ nói mau lên!
- Từ khi gặp chàng ở chùa Cổ Lâm,
em đã đem lòng yêu chàng.
- Chàng là ai kia chứ? Nói rõ xem
nào! Đừng ngại, anh có phải người xa lạ đâu!
- Chàng là Đức, chàng quy y đã
lâu hơn chúng ta nhiều, chàng đang học năm thứ ba tại Đại học Trung
ương. Chàng đứng đắn lắm, ít cười nói. Phật pháp đã đào tạo cho chàng
một tính tình nghiêm khắc. Chàng chẳng hiểu gì về phương diện ái tình
cả, rất dè dặt và thường nói yêu là nguồn gốc của mọi khổ não. Chàng đối
với em thường tỏ vẻ thờ ơ. Do đó, em thấy buồn khổ. Giờ anh đã về, mong
anh giúp em! Nếu sau này lập gia đình, em không lấy được chàng thanh
niên ấy thì em quyết ở vậy, chứ nhất định sẽ không lấy ai!
Trung thất vọng, người mà chàng
thầm yêu trộm nhớ mấy năm nay giờ đã yêu người khác. Chàng tự biết mình
xấu xí nên bấy lâu vẫn không dám thổ lộ tâm tình. Những lời của Tuyết
Lan vừa nói như một tiếng sét giáng vào đầu chàng, nhưng nhờ được bồi bổ
theo tinh thần Phật giáo nên Trung nghĩ thầm: “Yêu cũng có nhiều thứ
khác nhau: Có người yêu hoa lại ngắt hoa, người yêu chim đem nhốt chim
trong lồng. Cũng có kẻ muốn hủy hoại vật mình yêu, nhưng tình yêu cao cả
nhất là tình yêu không biên giới và không ích kỷ. Con người cao quý bởi
nhân cách, đạo đức và tư tưởng. Tuy người mình yêu đã yêu người khác,
song mình phải khoan thứ, rộng lượng, yêu tất cả, đã yêu Tuyết Lan thì
phải yêu cả người tình của nàng ”.
Tuyết Lan đưa đôi mắt trong sáng
nhìn chàng, chờ đợi và hy vọng. Trung suy nghĩ một lát rồi mạnh dạn nói:
- Được, anh sẽ cố gắng giúp em,
làm cho em sung sướng. Nhưng em muốn anh giúp em bằng cách nào?
Tuyết Lan cảm ơn chàng, rồi bày
phương pháp cho chàng. Nghe xong, Trung cương quyết gật đầu.
Từ đấy, Đức và Trung trở thành
đôi bạn thâm giao, vì họ cùng một tín ngưỡng và cùng một tư tưởng nên họ
rất chóng hiểu nhau. Họ và Tuyết Lan thường đến chùa Cổ Lâm tụng kinh,
đọc sách, có lúc họ vào xin Hòa thượng chỉ dạy cho những điều họ không
hiểu. Cứ như thế, họ sống qua những ngày tháng êm đềm và thích thú.
Một hôm, chỉ có Đức và Trung ngồi
với nhau, không biết vô tình hay hữu ý, Trung bỗng hỏi Đức:
- Anh Đức này, tôi xem ý Tuyết
Lan đối với anh tốt lắm. Hơn nữa, nó là người có nhân phẩm, có học thức.
Sao anh không ngỏ lời đính ước với nó? Có lẽ anh cho là nó không xứng
đáng?
Đức suy nghĩ một lát rồi thản
nhiên đáp:
- Tuyết Lan là người thiếu nữ
ngoan ngoãn ít có. Tôi rất mến nàng.
Trung phá lên cười và thôi thúc:
- Thế thì anh hãy bạo dạn lên một
chút nữa. Tôi cứ tưởng anh có ý định xuất gia nên mới thờ ơ. Nếu đã vậy
thì từ nay anh phải tỏ ra hoạt bát, linh động và nói những lời tình tứ
thắm thiết với nó; chứ đừng nên có thái độ “bát phong xuy bất động “mãi
như thế!
- Anh Trung, anh không hiểu nỗi
khổ tâm của tôi. Theo tôi, tình bè bạn có thể tùy thời mình cho hay lấy
lại được; chứ tình yêu thì không thế! Nói đến tình yêu tất phải có trách
nhiệm. Vả lại, chúng ta là Phật tử, cần phải nhận chân rằng sự sinh tử
là việc hệ trọng; ái tình ràng buộc con người và là nguyên nhân của khổ
não; người có trí nếu chưa xa lìa hẳn được thì cũng phải dập tắt dần
dần, chứ không nên đắm đuối quá!
- Anh nói đúng! Song Đức Phật
cũng cho phép những đệ tử tại gia sống cuộc đời yêu đương chính đáng,
chứ Ngài không bắt buộc ai cũng phải xuất gia diệt dục. Tôi xem Tuyết
Lan thương yêu anh lắm, chỉ còn đợi anh thổ lộ tâm tư mà thôi. Có lẽ nào
tim anh không biết rung cảm?
- Tôi rất thâm cảm tấm chân tình
của Tuyết Lan đối với tôi, nhưng anh nên biết rằng ở đời không có gì bền
vững, con người hợp để mà tan, bông hoa tươi thắm rồi cũng có lúc tàn
tạ, hạnh phúc ở đời bao giờ cũng kèm theo đau khổ, tình yêu của thế gian
là do động cơ nhục dục và tự tư thúc đẩy. Bởi thế, tình cảm của tôi đối
với Tuyết Lan từ trước đến nay là một tình bạn cao quý và thanh khiết.
Trung gật gật đầu, lòng chàng
thầm phục và càng kính trọng Đức. Thảo nào mà sư phụ thường khen sức học
Phật của Đức. Trung nhìn chàng đăm đăm, cảm thấy thái độ của chàng thật
nhu mì và đạo đức khiến cho ai thấy cũng phải kính mến chàng.
- Nếu vì hạnh phúc của Tuyết Lan,
sau này giả sử anh không xuất gia thì anh có săn sóc nó không?
Đức mỉm cười:
- Dĩ nhiên! Tôi đã chả nói là tôi
mến nàng lắm là gì?
Đức ngừng một lát rồi chậm rãi
nói tiếp:
- Song tất cả đều do nhân duyên
định đoạt. Chúng ta không thể nói trước.
- Thế thì tôi yên lòng rồi! Tôi
hy vọng lúc nào anh cũng lưu tâm đến Tuyết Lan.
- Anh nói gì kỳ vậy? Chúng ta là
Phật tử mà lại sợ không có người lưu tâm săn sóc? Ví phỏng sau này cả
anh và tôi đều không thể săn sóc Tuyết Lan thì vẫn có Đức Phật che chở
nàng kia mà! Song điều tôi mong muốn nhất là tất cả chúng ta đều có thể
thoát ly vòng ân ái để xuất gia học đạo. Đó là lý tưởng cao đẹp hơn cả!
- Tôi thì có hy vọng xuất gia
được lắm, vì tướng mạo tôi xấu xí, người con gái nào thèm để ý đến tôi?
Xấu người lại càng dễ tu! Sau này chỉ một chiếc bát đi vân du khắp đó
đây, há không siêu thoát lắm ru?
Hai người nhìn nhau cùng cười,
tiếp đó Đức nói:
- Anh nói coi bộ dễ quá, chưa
biết đâu anh lại “quẵm “một cô, rồi vài năm sau là con cái quấn quít
ngay đấy mà!
- A Di Đà Phật! Trung chắp hai
tay đặt lên chiếc mũi hếch của chàng. Quẵm ai?
- Quẵm Tuyết Lan! Đức thẳng thắn
nói. Tôi nhận thấy anh là người chồng tương lai mà Tuyết Lan có thể tin
cậy suốt đời. Còn tôi, tôi không hiểu tâm lý đàn bà. Hơn nữa, tâm hồn
tôi lại mơ ước một cảnh giới cao siêu khác, một ngôi chùa tịch mịch
thanh u để …
- Nói nhảm. Trung cắt ngang câu
nói của Đức. Cư sĩ tại gia cũng tu hành được chứ sao? Như ông Duy Ma và
bà Thắng Mạn đều là đệ tử tại gia của Đức Phật, nhưng họ cũng thành tựu
được hạnh nguyện cao cả của Bồ tát đó thôi!
Đến đây, Trung hạ thấp giọng và
nói chậm hơn:
- Vì tôi xấu xí nên Tuyết Lan chỉ
coi tôi như anh ruột của nó, còn đối với anh thì lại khác!
- Sao anh lại bắt chước thói đời,
chỉ nhận xét và phán đoán con người theo hình thức bề ngoài? Riêng tôi,
tôi nhận thấy anh là người thanh niên có khí phách, lòng anh cao đẹp lắm
và đó mới là vẻ đẹp chân chính. Tôi chắc Tuyết Lan phải hiểu điều ấy.
- Buồn cười chưa! Tôi đến khuyên
anh, song lại bị anh khuyên. Nhưng, như anh đã nói, tất cả đều do nhân
duyên.
Hôm ấy, Đức và Trung cùng đưa
Tuyết Lan lên lễ Phật trên núi Ngũ Đài. Sau khi lễ xong, sắp sửa ra về
thì Đức đưa mắt nháy Trung, ý muốn bảo Trung đem quyết định của hai
người nói cho Tuyết Lan biết. Trung hiểu ý, nên lúc họ vừa bước ra khỏi
cửa chùa, Trung nói với Tuyết Lan:
- Hãy còn sớm, chúng ta đi ra
phía sau chùa, ngồi trên bờ suối nghỉ chân và ngắm cảnh một lúc đi!
- Ý kiến anh Đức thế nào? Tuyết
Lan hỏi.
Đức gật đầu:
- Cũng được! Anh Trung còn có
chuyện muốn nói với em.
Khi tới bờ suối, ba người cùng
ngồi trên một phiến đá lớn. Trung bắt đầu:
- Tuyết Lan à, Bình Tân thất thủ,
em có thấy chiến sự ở Thượng Hải trở nên khẩn trương lắm không?
- Có, em có đọc tin tức trên báo.
- Trong lúc quốc gia lâm nguy như
thế, là thanh niên, các anh phải làm gì?
Tuyết Lan đã linh cảm trước, nên
hỏi lại:
- Thế các anh tính sao?
- Các anh đã quyết định mai lên
đường tòng quân.
- Thật à? Tuyết Lan vội hỏi Đức.
Đức gật đầu. Tuyết Lan kinh ngạc.
Ba người cùng yên lặng. Bầu không khí nặng nề như muốn nghẹt thở. Cuối
cùng, Tuyết Lan hỏi qua giọng u uất:
- Sao các anh không cho em biết
sớm?
- Sợ em bịn rịn. Đức đáp.
- Em sẽ không ích kỷ, em sẽ không
ngăn cản chí nguyện cứu quốc của các anh.
Những giọt lệ tràn ra mí mắt và
lăn xuống hai gò má của nàng.
- Thế thì em giỏi lắm! Trung nói.
Mong em ở nhà hãy giữ gìn sức khỏe. Khi nào thắng lợi, các anh trở về.
Lúc đó, chúng ta sẽ lại gặp nhau.
- Biết bao giờ mới được tái ngộ?
Đức nói an ủi nàng:
- Luật nhân quả của Phật đã dạy:
“Kẻ tàn bạo không bền ”. Em cứ yên tâm, quân phiệt Nhật không thể dày
xéo đất nước này lâu được!
- Mong các anh sẽ về sớm!
Khi thốt ra những lời ấy, Tuyết
Lan đặc biệt nhìn Đức. Đức gật đầu.
Tuyết Lan lau nước mắt rồi theo
Đức và Trung đi xuống núi. Khi họ về tới Nam Kinh, mọi nhà đều đã thắp
đèn.
Ngay tối hôm ấy, Tuyết Lan tìm
đến nhà Đức. Nàng mang theo một bức tượng Đức Quan Âm bằng vàng, trao
cho Đức và nói:
- Đây là bức tượng Đức Quan Âm mà
em thường mang ở cổ. Em tặng anh để anh mang theo trong người, vừa để
cầu Ngài phù hộ cho anh, đồng thời cũng để kỷ niệm nữa.
- Cảm ơn em, anh nhìn thấy hình
tượng Bồ tát Quan Âm cũng như nhìn thấy em vậy!
Nói xong, Đức và Tuyết Lan lại
đến Trung để cùng lên chùa Cổ Lâm bái biệt Hòa thượng Tuệ Học. Sau khi
biết ý định của họ, Hòa thượng nói:
Các con là thanh niên, lúc quốc
gia lâm nguy mà biết lập chí cứu nước như thế, thầy cũng khen cho chí
nguyện của các con. Dù các con có vì nước mà hy sinh thì đó là sự quang
vinh của người thanh niên vậy!
Được Hòa thượng khuyến khích mấy
câu, họ lại kiên quyết và tin tưởng hơn. Sau đó, vì đêm đã khuya nên họ
bái biệt Hòa thượng rồi kéo nhau ra về.
Sáng hôm sau, Đức và Trung lên
đường. Giờ phút chia ly mới ai oán làm sao! Tuyết Lan thấy lòng quặn đau
và không thể nào ngăn được dòng lệ thảm.
******
Đúng vào lúc Đức và Trung tham
chiến trên các mặt trận thì địch quân cũng mở các cuộc tấn công dồn dập
và mãnh liệt để chiếm các căn cứ trọng yếu. Tiếng liên thanh, đại bác nổ
vang rền; lửa từ mũi súng lóe lên như những lằn chớp giật, đạn bay như
mưa, khói đen mù trời. Quân đội hai bên lần lượt xung phong và tiếp nhau
ngã gục trước những ngọn súng đang nhả từng loạt đạn. Chiến tranh diễn
tiến một cách vô cùng khốc liệt.
Tiếng súng thưa dần và cuối cùng
chiến trường đã trở lại bình tĩnh. Từ cạnh một mô đất nhỏ, Trung lóp
ngóp bò dậy, toàn thân lấm láp như người vừa dưới nấm mồ chui lên. Quân
đội đã rút hết, chàng đưa mắt nhìn tứ phía, nhưng không thấy bóng quốc
kỳ tung bay. Chàng thất vọng và biết chắc rằng lát nữa đây thế nào địch
quân cũng sẽ đến quan sát và lục soát. Chàng sờ vào mình, bỗng chàng có
cảm giác như người vừa tỉnh mộng. Đức, đồng bạn của chàng đâu? Trước mặt
chàng như có những bóng đen lờ mờ đang lướt tới. Chàng không thể chạy
được, chàng phải đi tìm Đức trong những xác chết nằm ngổn ngang trên mặt
đất. Người thì gãy tay đứt chân, kẻ thì vỡ sọ, thủng bụng, máu me lênh
láng như một dòng suối đỏ ngầu. Bầu không khí chết chóc bao trùm trên
trận địa hoang lương thê thảm. Trung đang vội vàng tìm Đức, bỗng chàng
nghe có tiếng rên rỉ ở đâu vang lên. Trung lắng hết sức để nghe, cuối
cùng chàng nhận ra tiếng than thở văng vẳng từ một đống thây ma gần đấy.
Lập tức, Trung chạy lại và dùng hết sức lực để bới đống xác người chồng
chất lên nhau thì thấy một bộ mặt nhợt nhạt bị vùi ở dưới.
- Ô, còn sống, may quá! Trung
sung sướng nói một mình. Chỉ bị thương ở đùi thôi, không nguy hiểm đến
tính mạng, nhưng máu ra nhiều quá!
Vừa nói, Trung vừa xé một mảnh áo
của chàng, rồi buộc vết thương lại để máu khỏi chảy. Lâu lắm, Đức mới hé
cặp mắt lờ đờ nhìn Trung, mắt chàng mở to dần và khi chàng nhận ra Trung
thì một cảm giác sung sướng tràn ngập lòng chàng. Nhưng chàng cố nói một
cách yếu ớt và thương thảm:
- Tôi không có hy vọng sống được
đâu, hãy chạy mau đi!
- Không! Hễ về được trạm cứu
thương là anh sẽ sống.
- Thôi, xin anh đừng bận bịu vì
tôi, mang theo một người bị thương vượt qua khu vực của địch là một việc
vô cùng khó khăn. Sư phụ đã nói đem thân đền nợ nước là một vinh quang
của chúng ta. Hiện giờ, tôi còn sống để được nhìn anh lần cuối cùng, thế
là tôi thỏa mãn lắm rồi!
- Không! Tôi không thể bỏ anh.
- Đi đi! Anh chạy mau đi. Nếu
không, chúng ta sẽ chết cả! Đức quả cảm nói. Xin anh về báo cho cha mẹ
tôi, báo cho sư phụ và Tuyết Lan, nói là tôi đã đi theo chư Phật. Xin
đừng thương xót và đau buồn.
Mấy giọt lệ anh dũng tràn ra mí
mắt Đức và chàng nghẹn ngào thổn thức nói:
- Mong anh hãy săn sóc Tuyết Lan,
đem bức tượng Đức Quan Âm này trả lại nàng.
- Không! Anh không đi thì tôi
cũng không đi. Chúng ta cùng chết với nhau!
Trung lại thúc giục và khuyên
giải thêm:
- Nếu ở lại đây, chúng ta sẽ bị
quân địch bắt làm tù binh, như thế thì càng tủi nhục hơn! Nào, đứng lên!
Tôi cõng anh đi.
Đức cúi đầu yên lặng. Trung bế
chàng dậy. Một cảm giác đau đớn nhức nhối chạy khắp người chàng, toàn
thân chàng như tan rã. Bám trên lưng Trung, chàng khổ sở nói:
- Anh Trung, xin anh để tôi ở lại
đây! Tôi không thể đi được. Hơn nữa, đi như thế này thì nguy hiểm cho
anh lắm!
- Thôi, anh đừng nói nhiều.
Trung cặm cụi cõng Đức đi. Khi họ
tới bờ sông, trời đã nhá nhem tối. Trung đặt Đức ngồi nghỉ một lát trên
bờ sông và để quan sát địa thế. Con sông nhỏ hẹp không sâu lắm và cây
cối um tùm hai bên bờ, tạo thành một hàng rào phòng ngự thiên nhiên. Bên
kia sông, chắc là ít quân địch.
Trung tìm một khúc nông và hẹp,
rồi cõng Đức qua sông. Họ vừa mới lóp ngóp lên được bờ sông bên kia thì
bỗng một tràng liên thanh vang lên từ phía bên này sông. Hai người vội
nằm sát xuống đất, nín thở để nghe ngóng và họ yên lặng trong một hồi
lâu.
Màn đêm đã phủ kín, gió lạnh,
sương mờ, bốn bề tịch mịch hoang lương, lòng họ luôn luôn thầm niệm danh
hiệu Phật.
- Anh Trung ơi! Địch quân đã biết
mục tiêu của ta rồi. Anh hãy bỏ tôi đây, một mình anh chạy mau đi!
-Chỉ cần qua được giai đoạn khó
khăn tối hậu này là chúng ta nhất định trở về đến đồng đội.
-Bây giờ, ta đi về phía tay mặt;
qua ba cánh đồng thì sẽ tới một hào lũy và qua hào lũy ấy là đến dinh
trại, thế là an toàn rồi!
Đường đất gập ghềnh khó đi. Trung
cõng Đức mò từng bước trong đêm tối. Thực sự, chàng thấy mệt mỏi vô
cùng. Khi họ gần tới hào lũy, lại một loạt liên thanh vang lên, rồi tiếp
sau đó là một ngọn đèn pha xanh lè từ một đồn bót nào gần đấy phóng ra,
như một ngọn chổi, ánh sáng quét trên cánh đồng rồi dừng lại trên thân
hình Đức và Trung. Một nhân viên từ đồn bót chiếu kính viễn vọng theo
ánh đèn và thấy hai người mặc y phục quốc quân, liền ra lệnh cho mấy
binh sĩ tiến đến để dò xét. Khi họ tới nơi thì phát giác Đức và Trung
đang nằm bất tỉnh. Lập tức, họ đưa hai người về dinh trại cứu cấp.
Nhưng liền sau đó, Đức đã tỉnh.
Chàng mở mắt tìm Trung thì thấy Trung đang nằm bên cạnh. Mặt Trung tái
mét, máu thấm đầy ngực áo. Một cảm giác đau thương đã xâm chiếm cõi lòng
Đức, toàn thân chàng run rẩy, nước mắt trào ra, chàng khẽ lay lay người
Trung và gọi “Anh Trung! Anh Trung! ”, nhưng không thấy Trung trả lời.
Đức ôm lấy Trung, hai hàng lệ ràn rụa ướt đẫm hai gò má hốc hác nhợt
nhạt của chàng:
- Anh Trung! Tôi làm khổ anh, tôi
đã hại anh, xin anh tha thứ cho tôi!
Dứt lời, Đức đổ người xuống. Một
cơn đau đớn kịch liệt bộc phát, máu lại tuôn ra từ vết thương của Đức.
Chàng cảm thấy như trăm ngàn mũi dao bén nhọn đang xỉa xói vào tâm can
chàng. Chàng quờ quạng một lúc, rồi đôi mắt trợn lên và cũng trút hơi
thở cuối cùng.
******
Sau khi Đức và Trung vĩnh biệt
cõi đời, trong những di vật của Đức, người ta thấy một phong thư đã viết
từ trước, đề gởi cho một người con gái tên Tuyết Lan; ngoài bì thư nói
là nhờ viên đội trưởng mở ra xem rồi trao tận tay cho Tuyết Lan.
Bức thư của Đức viết như sau:
Tuyết Lan,
Đêm nay, ngoài tiền tuyến, anh
đang ngồi trong một chòi gác nơi đèo heo hút gió để viết bức thư này cho
em. Sự sống chết của các anh qua giờ nào biết giờ ấy, được ngày nào hay
ngày ấy. Đối với em, anh vẫn còn ôm ấp một tâm sự trong lòng mà chưa bao
giờ anh nói ra. Bởi thế, anh viết trước mấy hàng này để lại. Nếu anh
được vinh hạnh hiến thân cho tổ quốc, mong rằng anh em đồng đội sẽ hiểu
thấu nỗi lòng anh và sau khi thắng lợi sẽ mang bức thư này trao tận tay
em.
Tuyết Lan ơi! Con người từ xưa đã ai tránh khỏi
cái chết? Nhất là đối với chúng ta, những người Phật tử kiền thành, sự
sống chết chẳng khác gì bọt trên mặt nước. Anh thú thật với em rằng khi
anh ghi tên tòng quân, anh đã lập chí nguyện là sẽ chiến đấu và bỏ mình
trên sa trường để đền nợ nước.
Điều đó không phải là không có lý
do. Tuyết Lan ạ, mối tình thắm thiết và thầm kín của em đối với anh, anh
đã hiểu từ lâu. Nhưng Tuyết Lan ơi, trước khi anh được quen biết em,
cũng đã có một người mang lòng thầm yêu trộm nhớ em rồi! Người ấy tự cho
mình xấu xí nên không dám thổ lộ tâm tình cùng em. Trái lại, chàng nuốt
khổ, chịu đau và giúp đỡ em để mang lại mối tình khắng khít giữa chúng
ta. Tâm hồn chàng cao cả như vậy, lẽ nào anh lại có thể ích kỷ và tự tư?
Tuyết Lan ạ, người ấy chính là
Trung, bạn thâm tình của chúng ta.
Trung là một thanh niên có phẩm
tính cao thượng. Trong quân ngũ, các anh vui buồn có nhau, hoạn nạn có
nhau; các anh đối với nhau như tình ruột thịt. Trung cứ nhắc anh khi nào
thắng lợi trở về thì phải kết hôn với em. Còn Trung, chàng nguyện trọn
đời hiến thân cho Phật pháp. Tuyết Lan, anh biết nếu anh làm thế thì
lương tâm anh sẽ cắn rứt suốt đời. Anh quy y Phật từ lâu, trong gia đình
anh còn nhiều anh em, ba má anh đã dạy anh phải thương yêu người khác
như thế nào? Anh yêu em và yêu cả Trung, tình yêu không nhất định cứ
phải kết hôn. Yêu là hy sinh. Khi còn tu hành, chư Phật và Bồ tát đã
thương yêu cả muôn loài, đem thân mệnh bố thí cho cọp đói. Trung và anh
cùng một tín ngưỡng, cùng một tôn sư, sướng khổ có nhau, làm sao anh có
thể cướp người mà Trung hằng yêu thương?
Tuyết Lan, anh mong em đừng xét
người theo bề ngoài. Nếu anh có hy sinh cho tổ quốc và khi quân đội trao
bức thư này đến tay em, anh xin em hãy sớm kết duyên với Trung. Nếu được
như vậy, anh sẽ ngậm cười nơi chín suối và chúc mừng hạnh phúc của các
em.
Ngày 4 tháng 3 năm Dân quốc thứ
29
CHU ĐỨC
Viên đội trưởng xem xong bức thư,
tỏ vẻ rất cảm động. Ông giao phong thư cho một nhân viên tình báo, dặn
phải tìm đến trao tận tay Tuyết Lan hiện bị kẹt trong khu vực do địch
kiểm soát, đồng thời viết thêm một bức thư gửi kèm theo để báo cho nàng
biết là Đức và Trung đều bỏ mình ngoài mặt trận.
Ít lâu sau, trong số các sư nữ ở
am Tử Trúc tại Nam Kinh, người ta thấy một ni cô trẻ đẹp đã tốt nghiệp
tại Đại học Trung ương và mới xuất gia, trông nàng như một người mẹ
hiền. Nàng đã đem tình yêu Đức và Trung dâng lên Đức Phật và hiến cho
hết thảy chúng sinh. Nàng lấy công việc từ thiện và cứu tế xã hội làm sự
nghiệp.
Đáng tiếc
là loạn ly lại phát khởi, không biết ngày nay ra sao?
dƯỚI MÁI CHÙA HOANG
Bản dịch của HT.
Thích Quảng Độ
|