|
NẶNG NỢ TRẦN DUYÊN
Tôi vốn bẩm tính là một người
cứng cỏi, ngang ngược và nhạo báng tất cả. Tôi không tin tưởng ở bất cứ
cái gì trên đời này, kể cả tình yêu, tình bè bạn, pháp luật, đạo đức,
cho đến tôn-giáo và chân-lí.
- Thế mà hiện giờ không hiểu tại
sao tôi lại tự nguyện quy y theo Phật giáo và hết
sức kiền thành?
Có người cho rằng, trong hết thảy
mọi việc ở đời đều có chữ “duyên”. Vậy sự tin theo Phật giáo của tôi có
lẽ cũng là do “nhân-duyên”.
***
Kể lại câu chuyện tại sao tôi
quy-y Phật giáo thì hơi dài và cũng hơi phức tạp, câu chuyện đó có vẻ
như một vở tuồng nhiều tình tiết, hoặc như một cuốn tiểu thuyết vậy.
Hai mươi lăm năm về trước, giữa
mùa đông giá rét, tôi đang sống trong một thôn xóm hẻo lánh ở đất
ba-thục.
Lúc đó tôi mắc nhiều chứng bệnh:
lở bao tử, sốt rét rừng, phong thấp và kiết. Thuốc
thang đều vô hiệu mà tiền nong thì cũng đã hết
sạch, tôi chỉ còn nằm để chờ ngày tử-thần đến
đón.
Lang thang, lưu lạc, không
gia-đình không thân thích, hàng ngày tôi nằm trong một túp lều tranh
xiêu vẹo, trống trải và lạnh lẽo như một nấm mồ,
tôi chỉ còn nghe thấy tiếng rên rỉ của tôi vang
lên giữa bầu không-khí chìm lặng trong túp lều.
Một hôm, ngoài nhà mưa đổ tuyết
xuống, gió bất vù vù, tiếi trời ảm-đạm, tôi nằm
co quắp trên chiếc chõng tre, vì quần áo mỏng
manh nên tôi cảm thấy cóng buốt vô cùng, tiếng
rên rỉ của tôi càng dữ dội, càng thảm hại và vọng
đến tai một ông già bán hàng rong đang đi trên con đường mòn xuyên qua
thôn xóm. Ông là người rất phát-thực và trung
hậu. Ông đã hiểu rõ bệnh-trạng và cảnh ngộ rủi ro
của tôi, cho nên ông nói:
- Không sao đâu, để tôi đi tìm vị
cứa tinh đến cho ông.
- Cảm ơn cụ. Nhưng bệnh của
tôi khó cứu chữa lắm, vả lại tôi cũng không còn tiền nong gì cả.
- Ngài sẽ không đòi tiền ông,
Ngài là một vị tu hành, pháp danh Ngài là Tỉnh Thế.
Tôi lắc đầu tỏ vẻ nghi ngờ:
- Một vị sư tu hành mà cũng chữa
bệnh được ư? Cụ có biết không, bệnh của tôi là bệnh nan y tuyệt chứng!
- Bệnh càng khó khăn, hiểm nghèo
bao nhiêu, Ngài lại càng có phương dược linh diệu bấy nhiêu. Ở vùng này
đã có bao nhiêu người đau gần chết mà Ngài còn cứu sống. Mắt tôi lòa đã
hơn mười năm, Ngài cũng chữa khỏi, đấy ông xem, mắt tôi bây giờ có kém
gì mắt ông đâu nào?
- À, thế thì Ngài thật là Phật
sống, hiện giờ Ngài ở đâu? Cách đây có xa không ạ?
- Ngài ở trong một ngôi chùa tồi
tàn, cách đây chừng năm sáu cây số.
Nghe lời ông lão nói, tôi cảm
thấy thất vọng:
- Bên ngoài tuyết xa ngập đường
thế kia, gió bất giá buốc như cắt, không biết Ngài có chịu đến không?
- Ông cứ yên trí, người tu-hành
giàu lòng từ-bi, tôi đi thỉnh Ngài nhất định Ngài sẽ đến!
- Tôi làm phiền cụ nhiều, xin cảm
ơn cụ
- Không có gì! Bệnh-tình ông trầm
trọng, nếu không chữa mau sợ nguy đến tính-mệnh, hơn nữa sư-phụ là một
vị tăng vân-du hành-hóa bốn-phương, nếu không đến sớn sợ Ngài lại đi
khỏi.
- Nói song, ông già đứng dậy, mở
tấm phiên che cửa ra, buộc lại chiếc
khăn quàng đầu rồi băng mình ra mưa tuyết.
Đã gần trưa mà tôi vẫn chưa ăn
uống gì, bụng thấy đói, đầu thì nhức và mình mẫy
đau buốc rất khó chịu, tiếng rên rỉ của tôi lại
càng trở nên dữ tợn, nghe như tiếng gừ gừ của một
con chó dại.
Bên ngoài, tuyết vẫn đổ
xống, gió vẫn gào thét, giận giữ, rích từng cơn, giật từng trận như muốn
cuốn theo cả vạn-vật.
Một khắc trôi qua.
Nửa giờ
trôi qua.
Rồi một giờ trôi qua.
Thời-gan càng dài tôi càng cảm
thấy tuyệt vọng.
Vị hòa-hượng vẫn chưa thấy đến,
hay Ngài đã đi nơi khác rồi? hay ông già đã chết cóng giữa đường?!
Nhưng không, vì vào khoảng hai
giờ trưa thì cả hòa-thượng và ông già điều đã tới. Khi họ tiến vào liều
tranh, tôi tưởng đâu họ là những người tuyết!
Ông già nói với tôi:
- Thầy trò tôi về hơi trễ.
- Không, không! các Ngài đã lặng
lội bao nhiêu đường đất, tôi không biết nói thế nào để bày tỏ niềm thâm
cảm của tôi.
Giọng tôi đau đớn, tôi muốn cố
bám víu để ngồi dậy nhưng đã kiệt sức.
- Lẽ ra thì về lâu rồi.
Ông già nói: Nhưng vì sư-phụ còn
đi phá từng lớp tuyết ở trên núi để tìm lá thuốc về chữa cho ông.
Nghe xong, tôi không thể nén được
lòng cảm-động, bất giác hai hàng lệ ứa ra, tôi gạc nước mắt để nhìn vị
ân-nhân của tôi đang đứng
trước mặt tôi, lúc đó hòa-thượng đã phủi hết tuyết bám trên người, tôi
có thể thấy rõ dung-nhan của Ngài. Nhưng khi nhận
ra Ngài thì mồ hôi lạnh toát ra và toàn thân tôi như một khúc gỗ.
Trời ơi! có ngờ đâu vị Tỉnh Thế
hòa-thượng ấy chính là người đã cướp đoạt vị hôn thuê của tôi!
Tôi bắt đầu run sợ, cuồng loạn,
tôi sợ Ngài sẽ giết tôi, song trước kẻ thù-địch,
tôi chỉ là một người bệnh-hoạn, ốm-yếu, làm thế nào mà trốn được?
Tôi chú ý nhìn hòa-thượng Tỉnh
Thế, người mặc một chiếc áo màu cũ, bạt phết, thắt một sợi dây gai ngang
lưng, đầu để trần, chân đi đôi giày vải đã thũng
một vài chỗ chiếc áo rộng lùng thùng còn dính
nhiều vết bùn, cát và tuyết, phục sức thật lôi thôi lết thết và trông
người có vẻ đã dầy dạn sương gió.
Hòa-thượng Tỉnh Thế không hề để ý
đến tôi. Ngài ngồi xệp suống mặt đất, đang chăm chú trộn lẫn ba thứ lá
thuốc với nhau, thái-độ hiền từ và cặp mắt phóng ra một tia sáng rất dị
thường. Ông già đứng bên cạnh, kính cẩn nhìn Ngài, hai bàn tay luôn luôn
cử động như muốn giúp hòa-thượng trộn thuốc, nhưng lại không biết cách
làm.
Hình như hòa-thượng Tỉnh Thế
không nhận ra tôi, tôi cảm thấy vững dạ.
Song cử chỉ của Hòa thượng Tỉnh
Thế khiến tôi kinh sợ, Ngài trộn thuốc không những đã chẳng rữa tay, mà
đôi khi còn gãi đầu, móc tai và cào mình sồn sột, thậm chí có lúc tụt cả
dầy ra để gải khẽ ngón chân: Chưa hết, cuối cùng Ngài bỏ lá thuốc rồi
nhai ngấu nghiến, bọt mép sùn ra trắng hếu, trông
thật ghê tởm. Nhìn Ngài, tôi không thể không nhớ đến câu chuyện được lưu
truyền ở dân gian về một vị sư điên diên, khùng khùng là Tế Công Hòa
thượng.
Sau khi nhai nát nhừ lá thuốc,
Ngài nhổ xuống đất và chia thành ba phần tròn tròn, rồi dặn tôi mỗi ngày
uốn một phần. Nói xong, Ngài đứng dậy định đi, thì ông già hỏi:
- Bạch Sư phụ, hết ba phần thuốc
này, Sư phụ có đến nữa không ạ?
- Không cần, hết ba phần thuốc
này là khỏi tất cả mọi bệnh.
Sau khi Hòa thượng Tỉnh Thế đi
rồi, tôi vừa kinh tởm, vừa hoài nghi, và nói đúng ra thật tôi không dám
uốn thuốc ấy. Bệnh của tôi là chứng nan y, đã hơn mười năm tôi uốn không
biết bao nhiêu thuốc, kể cả thuốc tây, và các danh y điều lắc đầu, bó
tay, thế mà hiện giờ ba phần thuốc đơn giản và
bẩn thỉu kia làm sao cứu chữa được tôi?
Điều đó có vẻ thần thoại lắm.
Song ông già là người rất tốt, ông nói là một tiều phu vào rừng đốn củi,
bị rắn độc cắn, Hòa thượng củng chữa khỏi ; Một em bé gái câm từ lúc mới
sinh, Hòa thượng cũng chữa khỏi; Một bà già đã liệt nữa người lại thêm
loạn óc, thế mà Ngài củng chữa khỏi. Ông già khuyên tôi đến lần thứ
ba,tôi nể quá đành phải nhắm mắt, bịch mũi để uốn một phần thuốc.
Uống song, tôi nằ yên, rồi dần
dần thiếp đi và không biết dã đưa hồn vào cỏi mộng lúc nào.
***
Hòa thượng Tỉnh Thế đi rồi, nhưng
hình ảnh của Ngài vẫn còn lẩn quẩn trong đầu óc tôi. Khi tôi tỉnh dậy
thì cuốn phim quá khứ cũng bắc đầu diễn ra trong kí ức tôi.
Năm ấy là năm Trung Hoa Dân Quốc
thứ 16, việc xẩy ra tại du thành.
Hồi đó Hòa
thượng Tỉnh Thế chưa xuất gia, tên tục của Ngài
là Giang Bình.
Giang bình là một giáo sư trung
học và nổi tiếng về văn chương. Ngoài việc nghiên
cứu văn học ra, Giang Bình còn sở trường về hội
họa nữa. Các thân hào, thân sĩ địa phương điều xin nét vẽ của Giang Bình
về treo và cho đó là một vinh dự.
Một lần Ái Lan vị hôn thuê của
tôi bảo tôi đưa nàng tới thăm Giang Bình. Ái Lan đẹp và tính tình hiền
hậu, nàng thích văng chương, âm nhạc và hội họa. vì là người yêu dĩ
nhiên tôi phải chìu lòng đưa nàng đến.
Giang Bình thật xứng đáng là một
nhà văn kiêm họa sĩ, mới lần đầu được kiến diện tôi đã cảm thấy mến
chàng vì thái độ phong nhã và văn vẽ của chàng. Ái Lan và
Ging Bình nói chuyện rất tương hợp, họ thảo luận về các
vấn đề văn học và nghệ thuật, tôi học ngành kỹ sư nên không hiểu
gì về văn học, âm nhạc hay hội họa,đo đó, tôi cảm thấy bối rối, bực bội,
và chỉ ngồi rít thuốc lá để nghe họ nói.
Ái Lan cười duyên giáng
và nói:
- Ông Bình ạ, ông họa mai tuyệt
lắm, tôi thích vẻ đẹp ẻo lã và lạnh lùng của hoa
mai, ông có thể họa cho tôi một bức không?
- Ô, được! mai
tôi vẽ rồi cho người đem đến.
Giang Bình đáp một cách nhã nhặn.
- Thôi, để tôi tự đến lấy, còn
nhiều điểm về văn, thơ tôi cũng mong được học ông
thêm.
Không dám! Nếu cô thích, chúng ta
sẽ cùng nghiên cứu.
Rồi cứ như thế Ái Lan và Giang
Bình thường gặp nhau, họ cùng một khuy hướng, cùng một thị hiếu, nên họ
rất chóng thân nhau.
Còn tôi thì dĩ nhiên là không
bằng lòng, Ái Lan là vị hôn thuê của tôi, tôi có quyền hạn chế hành động
của nàng. Nhưng, Ái lan tuy hiền hậu song có tính cứng
cỏi, tôi càng hạn chế nàng, nàng lại càng tự do đi lại.
Một hôm tôi hỏi Ái lan:
- Tại sao em kết bạn với Giang
Bình?
- Em thích anh ấy vì anh ấy là
một thanh niên có khí phách, có tài hội họa.
Ái Lan đáp một cách bạo dạn và
thảm nhiên.
Tôi đe dọa nàng:
- Từ hôm nay tôi cấm em không
được đi lại, giao du với Giang Bình!
- Anh không có quyền!
Ái Lan tỏ ra không chịu kém.
- Ô hay! em quên à? em là vị hôn
thuê của anh mà.
- Nếu anh cảm thấy chướng mắt thì
chúng ta có thể hồi hôn!
Cuối cùng tôi ức quá liền nghĩ
đến thủ đoạn báo thù, tôi viết thư yêu cầu ông hiệu trưởng trường trung
học mà Giang bình hiện đang dạy, đuổi chàng đi. Vì tôi giàu có và nhiều
thế lực, nên việc đuổi một anh nhà giáo ra khỏi trường dĩ nhiên là không
thành vấn đề.
Song mặc dù bị đuổi, Giang Bình
và Ái Lan vẫn liên lạc với nhau, thường viết thơ
từ qua lại, họ đã yêu nhau tha thiết và đang chuẩn bị đi đến hôn nhân.
Một chàng giáo học quèn mà dám ngang nhiên cướp
đoạt vị hôn thuê của tôi, bôi nhọ thể diện tôi, bởi thế, sau tôi quyết
dùng độc kế để hại hắn.
Lần đầu tôi mướn một bọn lưu manh
đến đốt nhà hắn, giết hết gia súc và dọa sẽ giết hắn.
Lần sau tôi thông đồng với một
viên thống đốc nhà pha, bắt một tên phỉ đồ phải vu khống cho Giang Bình
là đồng mưu với chúng để giết người cướp của.
Độc kế ấy đã có kết quả: không
bao lâu Giang Bình bị bắt và bị lên án tử hình.
Từ ấy tôi ăn ngon, ngủ yên, coi
như đã thanh toán đực mối thù “bất cộng đới
thiên” tôi còn muốn thấy tận mắt giờ phúc kẻ thù của tôi chịu tội, nhưng
hôm sau tôi bỗng nhận được thơ của ba tôi, bảo tôi phải về tỉnh ngay để
nhận chức chủ sự phòng tài chính. Lúc đó ba tôi là tỉnh trưởng kiêm chủ
sự phòng tài chính, cậu tôi là tổng bí thư tòa tỉnh trưởng, tục ngữ có
câu: “Một người làm quang cả họ được nhờ” quả
không sai. Điểm đáng buồn là tôi không quen về tài chính, nhưng vì lệnh
của cha, không dám trái, nên tôi phải chuẩn bị đi ngay.
Cuộc sống nơi phồn hoa đô hội rất
náo nhiệt, chổ nào cũng có cao lâu, tửu điếm, có giải trí trường, do đó
tôi cảm thấy đời sống được thõa mãn. Hàng ngày, khi song công việt lại
đi tìm các thú vui và kích thích mới. Một hôm, trong một buổi dạ tiệc,
tôi tình cờ gặp cô bạn học cùng trường - Hứa Lộ Minh. Lộ Minh còn ít
tuổi, trẻ, đẹp, và khéo ngoại giao, nàng là sinh viên văn khoa. Chúng
tôi gặp nhau trong một bầu không khí tưng bừng, sặc mùi phú quý, nên
chẵng bao lâu chúng tôi yêu nhau cuồng nhiệt và
đã làm lễ thành hôn với nhau. Từ đây việc Ái Lan
và Giang Bình không làm bận óc tôi và đã rơi hững
vào quên lãng.
Đó là mối cừu thù giữa tôi và
Giang Bình, tôi không ngờ hơn hai mươi năm qua, Giang Bình đã đi tu và
trở thành một vị Hòa thượng.
Cuộc đời diễn biến thật khó suy
lường.
***
Ba phần thuốc ấy đúng là tiên
duợc.
Ba hôm sau, quả
nhiên bệnh tình của tôi
huyên giảm đi rất nhiều. Ở đời có nhiều việc
kỳ quái khiến người ta khó tin. Toàn thân bệnh
hoạn, nào sốt rét, nào phong thấp, nào kiết lỵ, lại thêm chứng lở loét
bao tử, mà nhất là chứng này, bao nhiêu thuốc
thang điều vô hiệu, các bác sĩ cũng đầu hàng. Thế
mà một vị Hòa thượng, không khám mạch, không xem nhiệt độ cũng chẵng có
phù chú, quỷ thuật gì, chỉ dùng ba thứ lá thuốc nhai dừ, chữa khỏi
mọi bệnh. Và ba thứ lá mà Ngài trộn lẫn với nhau để chế thuốc, cũng
không phải thứ cây hiếm hoi, cứ theo chổ nhận biết của tôi, thì
đó chỉ là lá cây xương hồ và một thứ cỏ có lông, lá dài mà ta thường
thấy ở khắp hương thôn, chổ nào cũng có. Song các
thứ đó vào tay Hòa thượng lại trở thành vị thuốc tiên, thì các bạn bảo
có lạ không?
Tôi không thể tưởng tượng được
rằng kẻ thù không đội trời
chung của tôi, cuối cùng lại trở nên ân nhân của tôi.
Để cảm tạ ơn cứu mạng của Ngài,
tôi quyết định đến bái yết Ngài, đồng thời để xin Ngài tha tội.
Tuyết đọng ngoài nhà đã tan dần,
trên đỉnh núi, ngoài đồng nội và trong đồng nội
lại tràng nghập một màu xanh biếc. Vòm trời cũng đã quang đãng, vừng
thái dương hiện ra chói lọi giữa một buổi sáng mùa đông, khiến người ta
có cảm tưởng đó là một ngày xuân ấm áp.
Theo lời chỉ dẫn của
ông cụ già, tôi tìm đến ngôi chùa tồi tàng, hoang vắng trên đỉnh núi.
Đường đất nhấp nhô, tôi đi xuyên qua một khu rừng cây cao vút, vòng
quanh máy ngôi cổ mộ rồi băng qua một dòng suối nhỏ, khoản hơn một giờ
sau tôi đã đến chân núi. Núi không cao lắm nhưng đường rất quanh co, cây
cối um tùm tôi men theo một con đường mòn, rêu xanh phủ kính và cỏ rừng
bò lang trên mặt đường. Lúc ấy tôi cảm thấy tôi khỏe hơn trước rất
nhiều, đi không bao lâu tôi đã lên đến đỉnh núi.
Đây hoàn toàn là một nơi hẻo
lánh, ít ai đặt chân đến, trên đỉnh núi có một ngôi chùa nhỏ, ngoài có
tấm biển đề bốn chữ lớn “Thanh Vân Cổ Tự”, nét
chữ già dặn, đẹp đẽ, có vẻ là bút tích của một tay danh sĩ. Đáng tiếc
là miền phụ cận không có người ở, đã lâu lắm rồi, không ai sửa chữa,
nên chùa đã hoang tàn và lạnh lẽo vô cùng!
Tôi đi quanh ngôi chùa hai vòng,
nhưng không thấy bóng vị Hòa thượng cứa tôi đâu cả. Tôi hoảng hốt. Sau
tôi đi đến một gốc cây cổ thụ mới tìm thấy Ngài.
Hòa thượng Tỉnh Thế ngồi xếp bằng dưới gốc cây, tay cầm chuỗi tràng hạt,
vẽ mắt trang nghiêm như đang ngồi tham thiền.
Tôi yên lặng đứng một bên, không
dám động đậy. chừng một tiếng đồng hồ sau Ngài
rung rung cặp lông mày và nói:
- Ông đến đây làm chi?
Ngài vẫn còn nhắm mắt, chưa thấy
tôi, sao Ngài đã biết tôi đến? Tôi vội đáp:
- Hòa thượng đã cứu tôi, tôi đến
để xin tạ ơn.
Nghe song Ngài phá lên cười như
điên, như khùng, rồi lại vẩn thái độ điên điên khùng khùng ấy, Ngài đứng
dậy nói:
- Xin lỗi
ông, tôi bận lắm. Chiều nay có mấy bệnh nhân đang đợi tôi.
- Bạch Hòa thượng tôi xin
đưa Ngài đi?
- Đó là vùng bệnh dịch tả ông
không đến đựợc.
Nghe đến bệnh
dịch lòng tôi run sợ và toàn thân sởn ốc, tôi nói:
- Vậy Hòa thượng đi mấy giờ mới
về? tôi xin ở đây đợi Hòa thượng.
- Tôi không có chỗ
ở nhất định, ông chờ tôi làm gì?
- Tôi muốn theo Hòa thượng xuất
gia tu hành.
Lại vẫn
tếng cười oang oang và điên khùng lúc nãy vang lên.
- Trần duyên của ông chưa hết,
xuất gia sao đựợc.
- Không!
lòng tôi nhất định thoát ly, tôi không còn lưu
luyến gì cả.
Kế đó,
tôi thuật lại tất cả cảnh ngộ rủi ro của tôi cho Ngài nghe.
- Bạch Hòa thượng, cuộc đời biến
ảo vô thường, giàu sang tựa như mây khói. Thế mà cõi
đời này vẫn đầy dẫy những sự tàn nhẫn, tranh
giành, giết chóc, lừa bịp, giã giối và tội ác ngập trời.
Lần này Hòa thượng Tỉnh Thế không
cười nữa, Ngài chăm chú nhìn tôi rồi lắc đầu nói:
- Ông lầm. Đời bao giờ cũng có
hai mặt, một mặt sáng sủa đẹp đẽ,
một mặt đen tối xấu xa. Hiện giờ ông chưa thoát li được trần duyên, tiền
đồ của ông vẫn còn sáng lạng. Nếu thật ông muốn xuất gia thì sau
sẽ nói, kiếp này chúng ta sẽ còn gặp nhau ba lần nữa.
Tôi kinh ngạc, hỏi:
- Ngài có thể biết chắc những
việc tương lai?
- Dĩ nhiên là không thể biết
chắc, tôi là một ông sư điên điên, khùng khùng, chỉ nói bậy bạ vậy thôi.
Dứt lời, Ngài lại cười khanh
khách, rồi lại cầm lấy chiếc tích trượng(gậy) ra đi.
- Bạch Hòa thượng tôi xin đưa
Ngài xuống núi!
Như sợ tôi nói nhiều, Ngài không
đáp nữa, bởi thế tôi cũng chỉ im lặng theo sau Ngài.
Từ trên đỉnh núi xuống
đến chân núi, tình cờ tôi thấy hai việc mà cho đến nay, khi nghỉ tới,
tôi vẫn còn cho là kì quái.
Việc thứ nhất: dọc đường, bên
sường núi có một cây quất hồng bì, quả sai chi chít và to gần bằng quả
vải, màu chín vàng ối. Khi đi qua gốc cây, Hòa thượng Tỉnh Thế dơ tay
dức một trái rồi bóc vỏ, bỏ vào mồm nhai ngon lành. Tôi cũng định hái
một trái, nhưng cây cao hơn hai trượng, không thể hái được, tôi không
hiểu cách nào mà Ngài với tới được.
Việc thứ hai: trong đám cỏ rậm
rạp, một con rắn độc rất lớn đang nằm cuộn tròn, trông rất sợ, Hòa
thượng Tỉnh Thế vô ý, giẫm đại lên nó, mà con
rắn, vẫn nằm yên không cắn.
Xuống đến chân núi tôi không còn
nén nổi sự tò mò về những hành động kì quái của vị Hòa thượng điên điên,
khùng khùng ấy, nên tôi hỏi thử:
- Bạch Hòa thượng,
Ngài có nhận ra tôi là ai không?
Tất nhiên là tôi nhận ra vì tôi
vẫn chưa lòa, Ông là một thân sĩ ở Du Thành tên Cát Ứng Lương!
Tôi rùng mình kinh sợ, thế ra
Ngài đã nhận ra tôi. Một lúc khá lâu sau tôi mới trấn tĩnh được lòng sợ
hãi, hoảng hốt. Tôi hỏi:
- Bạch Hòa thượng Ngài đã nhận ra
tôi, tôi là kẻ thù của Ngài, sao Ngài không trả thù tôi?
Trên môi Ngài nở một nụ cười hiền
từ, tràn đầy tình thương:
- Đệ tử của Phật chỉ biết cứu
đời, cứu người chứ không hiểu thế nào là thù địch cả.
- Trước kia tôi bức hại Ngài thảm
thương thế, có lẽ nào Ngài lại không oán hận tôi?
- Oán hận lắm chứ, tôi còn muốn
giết ông nữa là khác, nhưng sau khi xuất gia, thì
tôi tha thứ cho ông, tha thứ tất cả những chúng sanh tội ác.
- Bạch Hòa thượng tâm hồn Ngài
cao cả lắm!
- Đó là tôi noi theo lòng từ bi,
hỉ xả của đức Phật.
Lúc ấy tôi bỗng nhớ đến Ái Lan và
hỏi:
- Tại sao Ngài lại xuất gia và đi
vân du hành hóa bốn phương? Còn Ái Lan?
Nhe câu hỏi của tôi, Hòa thượng
Tỉnh Thế dừng lại Ngài hơi cúi đầu, tỏ vẽ thương
cảm:
- Ái lan chết rồi, đáng thương
lắm!
- Chao ôi! Nàng còn ít tuổi thế
sao đã chết? tôi ngậm ngùi hỏi.
- Ái Lan yếu đuối, không chịu
đựng nổi cuộc sống phong sương, bỏ nhà ra đi chưa đầy ba tháng thì nàng
lâm bệnh, và chẳng bao lâu nàng đã vĩnh biệt cõi
đời!
Tôi cảm thấy mang nhiên:
- Sao Ngài lại bỏ nhà ra đi?
- Không đi sao được? nhà tôi đã
bị bọn lưu manh của ông mướn đến đốt phá, sau mặc dầu ông đã về tỉnh,
nhưng bọn họ vẫn đến hăm dọa chúng tôi hoài.
Tôi vừa hối hận, vừa xấu hổ. Trên
cõi đời này tôi là một kẻ lòng lang, dạ thú, một
kẻ tiểu nhân ti tiện và bỉ ổi nhất!
Nghĩ đến cái chết của Ái Lan, tôi
không thể không liên tưởng đến sự tù đày oan uổng
của Hòa thượng Tỉnh Thế:
- Bạch Hòa thượng, trong lao
ngục, Ngài đã bị lên án tử hình rồi kia mà, sao nay Ngài vẫn
còn sống?
- Những kẻ côn đồ giết người, đốt
nhà, tuy làm những việc cực ác như thế, song cũng có những lúc còn có
lương tâm và nhân tính. Buổi chiều hôm trước ngày tôi bị hành hình,
lương tâm họ đột nhiên phát hiện, họ cung khai và thừa nhận tất cả, rồi
tự động minh oan và chịu tội thay tôi.
Tôi lại càng ăn năn và xấu hổ,
mình sinh trưởng trong một gia đình giàu sang, quyền
quý, được ăn học đến nơi đến chốn, thành người có một nền giáo dục cao
đẳng, thế mà hành vi của mình không bằng một tên giặc cướp, phỉ đồ, tôi
la lên thất thanh, quỳ xuống trước mặt Hòa
thượng, vừa khóc than vừa van xin Ngài tha thứ cho những việc làm nhơ
bẩn của tôi.
***
Lúc ấy thái độ của Hòa thượng
Tỉnh Thế không còn như điên như khùng nữa, Ngài âu yếm, triều mến đỡ
tôi dậy rồi hiền từ hỏi tôi;
- Ông có thể kể lại cho tôi nghe
qua tại sao ông lại lưu lạc đến đây?
- Chao ôi! Nói ra dài lắm, phảng
phất như một giấc chiêm
bao vậy. Nữa cuộc đời trước của tôi thì Hòa
thượng đã rõ, không còn nói đến nữa,
tôi xin bắt đầu từ ngày về tỉnh làm quan.
- Khi tôi về tỉnh thì tất cả đều
thuận lợi, vì công việc đều do ba tôi và cậu tôi làm cả. Tôi sống một
cuộc đời xa hoa, đàng điếm. Mấy hôm đầu tôi vẫn
còn nhớ đến Ái Lan và thầm giận Ngài, nhưng sự kiện thay đổi rất nhanh
khi tôi có người tình khác, chúng tôi yêu nhau và chỉ mấy hôm sau chúng
tôi thành hôn.
- Sau khi lập gia đình,
tôi bắt đầu thấy khổ não dần, nguyên nhân là vì
Lộ Minh có tính đi ngang về tắt,
giả dối, phản bội, nàng chỉ cần hưởng thụ; động
cơ chính thúc dục nàng lấy tôi là vì tiền của, địa vị và quyền thế của
tôi, nhưng điều làm tôi đau đớn nhất là nàng không chịu giữ
đạo làm vợ, suốt ngày chỉ chơi bời, giao thiệp, sau tôi không thể chịu
đựng được nữa đành phải ly
hôn, cắt đứt hết mọi quan hệ với nàng.
Hòa thượng Tỉnh Thế đồng tình:
- Gặp phải vợ bất chính ngỗn
ngược là một điều rất buồn khổ.
Tôi nói tiếp:
- Vận mệnh
bi thảm của tôi cũng bắt đầu từ khi li dị Lộ
Minh. Ngày nay hồi tưởng lại, tôi thấy hỗ thẹn vô
cùng! Cha không ra cha mà con cũng chẳng ra con, có lẽ
đó cũng là quan hệ di truyền. Cha tôi sống cuộc đời phóng túng, dâm dật
thế nào thì tôi cũng sống đúng như thế: không ở phòng trà thì cũng
đến tiệm nhảy, không một tửu điếm hay một thanh lâu sang trọng nào mà
chúng tôi không đặt chân tới. Tiền nong để chi
tiêu vào các việc ấy hoàn toàn là của công quỹ.
Cha tôi là tỉnh trưởng có thể lạm quyền để thụt
két, còn tôi là chủ sự phòng tài chính, dĩ nhiên có thể ăn cắp của công
một cách dễ dàng. Thời gian càng lâu, công quỹ
càng thâm hụt, sau cùng cả hai cha con tôi điều bị truất chức và bị tống
giam!
Giọng hoà thượng Tỉnh Thế trang
nghiêm:
- Điều đó trong kinh Phật gọi là
nhân quả báo ứng. tự mình gieo lấy nhân ác thì phải hái lấy quả khổ?
- Đúng thế!
Tôi nói tiếp đó là nhân quả báo ứng. cha tôi bị kết án
tù chung thân. Còn tôi, sau mấy năm bị giam cầm trong ngục thất, khi trở
về nhà thì ruộng vườn cơ nghiệp bị cưỡng chế phát mại hết, thêm vào đó
là anh em lục đục, đánh chém nhau, gây nên cảnh cốt nhục tương tàng,
khuynh gia bại sản!
Hòa thượng Tỉnh Thế thở dài và
lắc đầu liên hồi:
- Cốt nhục tương tàn là cảnh thảm
khốc nhất trên đời!
Ngừng một lúc, tôi nói tiếp:
- Sau đó ra sao, tưởng không cần
nói. Không nhà cửa, không nơi nương tựa, tứ cố vô thân, tôi bắt đầu sống
cuộc đời lưu lạc, nỗi trôi.
Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện,
chúng tôi đã xuyên qua rừng cây cao vút, băng qua dòng suối nhỏ, vòng
quanh mấy ngôi cổ mộ và đến thôn xóm lúc nào không hay biết.
Nơi đây có thể rất nhiều kẻ tội
ác, ôn dịch đang hoành hành, một làng mây sầu thảm, thuê lương đang bao
trùm khắp thôn xóm.
Hòa thượng Tỉnh Thế bảo tôi dừng
bước tôi chỉ biết tuân theo, đứng nhìn Ngài rảo bước vào hoang
thôn, để thực hiện tinh thần cứu thế, độ sinh của Phật giáo.
***
Từ biệt Hòa thượng Tỉnh Thế, một
mình tôi lủi thủi lên đường để tiếp tục cuộc sống
phiêu lưu, chìm nổi giữa biển đời sóng gió.
Đúng như lời Hòa thượng Tỉnh Thế
đã nói trần duyên của tôi chưa hết, sau đó bao nhiêu sự kiện bất ngờ lần
lược xảy đến cho tôi.
Và cũng đúng như Hòa thượng đã dự
đoán, kiếp này chúng tôi còn gặp nhau được ba lần và lời dự đoán ấy rất
linh nghiệm. Vì trong khoảng hơn mười năm
sau, tôi đã được gặp Ngài hai lần. đáng tiết là tôi
không có tuệ căn và duyên lành, nên trong hai lần hội ngộ ấy, tôi vẫn
không đả động gì đến vấn đề xin xuất gia.
Tại sao tôi phản bội lòng mình!
lí do rất dễ: lần thứ nhất tôi gặp Ngài vào năm
dân quốc thứ 36, lúc ấy tôi đang ở Nam kinh và vừa mới kết hôn với Ý Như
nữ sĩ; lần hai tôi gặp Ngài tại Hồ Nam hiện đang làm tỉnh trưởng, công
việc bận rộn, nên cũng không nghĩ đến việc xuất gia.
Ngày nay tôi trôi dạt đến Đài
Loan, thấm thoát đã hơn mười năm trời, từng trải qua bao nhiêu gian
truân, khổ sở, chức vị ngày xưa đã bị truất phế, Ý Như ở lại trên lục
địa, không biết sống chết ra sao, quay đầu nhình lại bước đường qua, tôi
có cảm giác như đã trãi qua mấy kiếp!
Hiện giờ tôi quyết định thoát ly
khỏi cảnh hồng trần, hàng ngày tôi trong mong vị Hòa thượng cứu
nhân độ thế sớm xuất hiện để đưa tôi ra khỏi cuộc đời phiền
muộn cho thân tâm được thanh thoát.
Nhưng tôi vẫn
không thấy dấu vết của Hòa thượng Tỉnh Thế xuất hiện, có lẽ tôi hãy còn
nặng nợ trần duyên?
dƯỚI MÁI CHÙA HOANG
Bản dịch của HT.
Thích Quảng Độ
|