|
ĐẠO PHẬT VÀ D̉NG SỬ VIỆT HT.Thích Đức Nhuận |
Ngô Quyền[20] người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), một ḍng dơi quư tộc, cha là Mân làm quan Bản Châu, ông có chí lớn, mưu cao, tài kiêm văn vơ, khi quân Nam Hán c̣n ngấp nghé bên ngoài bờ cơi, ông đă sửa soạn công cuộc ứng chiến, và việc trước hết là chiếm lấy thành Đại La, giết tên phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn để trừ nội họa; ổn định t́nh h́nh trong nước.
Cuối năm 938, vua Nam Hán ra lệnh cho hàng trăm vạn quân, do thái tử Lưu Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm chiếm nước ta. Trận chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng Thao bị chết, c̣n quân giặc phần bị giết, phần bị chết ch́m hoặc bị bắt, thiệt hại quá nửa. Hán chủ đành phải nuốt hận thu tàn quân về Tàu, chấm dứt thời kỳ mất nước kéo dài 1031 năm (một ngh́n không trăm ba mươi mốt năm).
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên) ở ngôi mới được sáu năm th́ mất. Đáng lẽ ngôi cửu ngũ phải về tay Ngô Xương Ngập, con trưởng Ngô Quyền, nhưng Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền và là con trai Dương Đ́nh Nghệ) lại đoạt mất và xưng vương. Năm 950, Ngô Xương Văn là em Ngô Xương Ngập, nhờ có Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc giúp sức, liền từ Sơn Tây kéo quân về vây thành và bắt được Tam Kha, nhưng v́ nể t́nh cậu cháu tha cho Tam Kha tội chết. Khi đă chiếm được chính quyền, Ngô Xương Văn tự xưng Nam Tấn Vương và cho người đi triệu anh là Ngô Xương Ngập, tức Thiên Sách Vương về kinh để cùng coi việc nước. Nhưng t́nh h́nh lúc ấy rối loạn, cuối đời nhà Ngô, anh em Ngô xương Văn và con cháu bất lực nên mới có cảnh Thập nhị sứ quân[21].
Mỗi sứ quân chiếm giữ một vùng đất, xây thành đắp lũy, nhằm thôn tính lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hai mươi hai năm (945-767), gây ra không biết bao là tổn thất về nhân mạng và tài sản; dân t́nh phải chịu cực khổ lầm than. Sự sống c̣n của một dân tộc không thể để t́nh trạng ấy kéo dài thêm nữa; hoàn cảnh và lịch sử đ̣i hỏi phải chấm dứt cuộc nội loạn, thống nhất đất nước về một mối.
(Đạo Phật Việt Nam từ thời Bắc thuộc thứ II qua thời Lư Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III tuy có phát triển nhưng chưa được hưng thịnh như các triều đại ĐINH – LÊ – LƯ – TRẦN sau này).
[20] Sử chép: "Khi sinh ra ông có hào quang sáng khắp nhà, trên lưng có 3 nốt ruồi, mắt sáng như điện, người xem tướng cho là điềm lạ, bảo rằng ông sau này sẽ làm vua, nhân đấy đặt tên là Quyền. Lớn lên ông làm nha tướng của Dương Đ́nh nghệ, Nghệ gả con gái cho, sai trấn thủ ở Ái Châu.
"Vương đă giết giặc trong nước để phục thù cho chúa, giết địch bên ngoài để cứu nạn cho nước, dựng quốc độ, nối lại chính thống, công nghiệp thật là to lớn lắm".
[21] (Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh giặc ở Thái B́nh, bị địch thủ bắn chết, cháu là Ngô Xương Xí lên thay, nhưng không ai phục ṭng nữa. Thực chất t́nh trạng lúc ấy đă phân tán, các tướng lĩnh mỗi người chiếm giữ một vùng. Sử gọi là 12 sứ quân:
1. Trần Lăm, chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Vũ Tiên, Thái B́nh)
2. Kiều Công Hăn, là cháu nội của Kiều Công Tiễn, chiếm giữ Phong Châu (H. Bạch Hạc)
3. Nguyễn Khoan, chiếm giữ Tam Đới (H. Vĩnh Lộc)
4. Ngô Nhật Khánh, chiếm giữ Đường Lâm (Sơn Tây).
5. Lư Khuê, chiếm giữ Siêu Loại (Thuận Thành)
6. Nguyễn Thủ Tiệp, chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
7. Phạm Bạch Hổ, chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
8. Lữ Đường, chiếm giữ Tế Giang (H. Mỹ Văn)
9. Nguyễn Siêu, chiếm giữ Tây Phù Liệt (Thanh Tŕ, Hà Đông)
10. Kiều Thuận, chiếm giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây)
11. Đỗ Cảnh Thạc, chiếm giữ Đỗ Động (thuộc huyện Thanh Oai)
12. Ngô Xương Xí, con rai Ngô Xương Ngập, rút về cố thủ Nông Cống (Thanh Hoá).