ĐẠO PHẬT VÀ D̉NG SỬ VIỆT

HT.Thích Đức Nhuận


ĐẠO PHẬT THỜI KỲ TỰ CHỦ NHÀ ĐINH (968-980)
VÀ TIỀN LÊ (981-1009)

Vạn thắng vương Đinh Bộ Lĩnh sau khi đă dẹp xong loạn thập nhị sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, lập nên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, lấy niên hiệu là Thái B́nh Nguyên Niên, nhằm xóa hẳn vết tích thống trị của hoàng đế phong kiến Trung Hoa, nêu cao ngọn cờ thống nhất độc lập quốc gia, lập triều chính, vua liền nghĩ đến việc chỉnh đốn hàng ngũ Giáo Hội Tăng Già và định phẩm trật cho các tăng sĩ lỗi lạc hữu công  tham dự quốc chính, nên đă tặng chức Khuông Việt Thái sư cho ngài tăng thống Ngô Chân Lưu, ban chức Tăng Lục Đạo sĩ cho Pháp sư Trương Ma Ly, và thiền sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn Uy nghi.

Về sinh hoạt chính trị, văn học trong nước lúc bấy giờ đều do các bậc tăng già hữu học nhận lĩnh trông coi. Đạo Phật Việt được vương triều công nhận là quốc giáo kể từ nhà Đinh.

Lịch Sử Việt Nam, tập 1, viết về Phật giáo thời nhà Đinh:

"Trong buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong xă hội. Trong nước nhiều chùa tháp được xây dựng. Riêng ở Hoa Lư, năm 973, Nam Việt vương Đinh Liễn là con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng). Các nhà sư là tầng lớp có học thức, có uy tín và ảnh hưởng trong xă hội. Ngoài văn học dân gian, lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ yếu cũng là các nhà sư. Những tác phẩm văn học thành văn của giai đoạn này c̣n lại đến nay là một số bài thơ chữ Hán của các nhà sư như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, v.v… (Sđd, trang 150).

Sau nhà Đinh[22] là nhà Tiền Lê, các tăng sĩ vẫn được trọng dụng. Vua Lê Đại Hành đă triệu thỉnh Khuông Việt Thái sư làm cố vấn và thiền sư Pháp Thuận lo việc ngoại giao; đồng thời triều đ́nh cũng cho thiết lập các tự viện, và năm 1008 vua sai sứ là các ông Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhă qua Trung Hoa thỉnh Đại tạng kinh. Đây là lần đầu tiên nước ta sai sứ đi thỉnh kinh.

Năm Thiên Phúc thứ VII (986), sứ nhà Tống là Lư Giác sang nước ta[23] vua nhờ ngài Khuông Việt Thái sư giữ việc ngoại giao để ứng tiếp với sứ giả. C̣n thiền sư Pháp Thuận cải trang làm chú lái đ̣ cho sứ giả. T́nh cờ có đôi ngỗng bơi trên mặt nước, Lư Giác vốn có tài văn thơ, liền tức cảnh:

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha.

Song song ngỗng một đôi

Ngửa mặt ngó ven trời

Chú lái đ̣ – tức thiền sư Pháp Thuận – đă ứng đối:

Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo băi thanh ba.

Lông trắng phơi gịng biếc

Sóng xanh chân hồng bơi

            Thích Mật thể dịch

Sứ giả nghe xong lấy làm ngạc nhiên và kính phục, không ngờ nước Việt lại có lắm nhân tài. Qua những lần tiếp đăi lịch sự của một thiền sư (Khuông Việt Thái sư đại diện cho triều đ́nh) đối với sứ giả một nước lớn là Trung Hoa, Lư Giác càng lúc càng tỏ ra kính trọng vua nước ta, nên ông đă viết tặng bài thơ:

Hạnh ngộ minh thời tân thịnh du

Nhất thân lưỡng độ xứ Giao Châu

Đông đô tái biệt tâm lưu luyến

Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu

Mă đạp yên vân xuyên lăng thạch

Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.

Thiền sư Mật Thể đă dịch bài thơ ấy ra tiếng Việt:

May gặp minh quân giúp việc làm

Một ḿnh hai lượt sứ miền Nam

Mấy phen qua lại ḷng thêm nhớ

Muôn dặm non sông mắt chửa nhàm

Ngựa đạp mây bay qua suối đá

Xe ṿng núi chạy tới gịng lam

Ngoài trời lại có trời soi sáng,

Vầng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

Câu thứ bảy của bài thơ tác giả có ư xưng tụng vua nước Việt cũng như vua của họ. Thật là thần t́nh, chỉ do khẩu khí thơ văn xướng họa mà đă làm chuyển đổi được vận mệnh của cả nước đang từ thế yếu sang hẳn một thế mạnh. Và, v́ cảm mến đức hóa của người xưa, Lê Quí Đôn, nhà bác học thế kỷ XVIII, đă hết lời ca tụng hai vị thiền sư Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận:

"Câu thơ của thiền sư Pháp Thuận, làm cho sứ giả nhà Tống phải kinh dị; điện từ của đại sư Ngô Chân Lưu đă nổi danh một thuở (Sư Thuận thi ca, Tống sứ kinh dị, Chân Lưu từ điệu, danh chấn nhất thời) – Thiền Dật –

Thiền sư Pháp Thuận được vua Lê tôn trọng như bậc quốc sư, vua thường hỏi ngài về những việc b́nh trị quốc gia và ngôi cửu ngũ dài ngắn ra sao? – Thiền sư trả lời bằng một bài thơ:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lư thái b́nh

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh

 

Vận nước như dây quấn

Trời Nam mở thái b́nh

Niết bàn trong điện ngọc

Đây đó hết đao binh

Các vị quốc sư, thiền sư đă đóng góp không nhỏ cho công tŕnh dựng nước và giữ nước, các ngài đă khai hóa nền văn học quốc gia, đă giáo hóa toàn dân. Vốn sẵn có tinh thần yêu nước cao độ, nhân dân ta lại được thấm nhuần giáo lư Giác Ngộ Giải Thoát của Đạo Phật và đă lấy đó làm chất men cho cuộc nổi dậy, chống lại sự thống trị của người phương Bắc; giành lấy quyền độc lập tự chủ cho quốc gia kéo dài hơn 5 thế kỷ, kể từ thời nhà Đinh trở về sau (968 – 1504).

T̀M HIỂU THÊM

Từ trước năm 441 TL, cơi Giao Châu bị người phương Bắc đô hộ; trong giai đoạn gian nan này Đạo Phật đă cùng với người bản địa nỗ lực phấn đấu: bằng mọi cách quyết giành lấy quyền độc lập tự do cho quốc gia Việt; nên năm 542, ngướ anh hùng họ Lư (Lư Bí) quê ở Long Hưng (Thái B́nh) đă cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa: đánh đuổi tên Thái thú bạo tàn nhà Lương là Tiêu Tư và bè lũ về Tàu, tự xưng là LƯ NAM ĐẾ (Vua Nước Nam), thiết lập một triều đ́nh Tự Chủ ở phương Nam, đặt quốc hiệu là VẠN XUÂN, có nghĩa là nước Việt bền vững dài lâu, đồng thời sáng lập một ngôi chùa lấy tên là KHAI QUỐC (Mở Nuớc). Sau Lư Phật Tử lên kế vị năm 571 – 603 (mà lịch sử gọi là Hậu Lư Nam Đế), ở ngôi 31 năm. Dưới triều đại Lư Phật Tử, Ngài Tỳ-Ly-Đa-Lưu-Chi, người Nam Ấn Độ sang Tây Thiên Trúc để khảo cứu Đạo Phật rồi qua cơi Đông Đô, vào Trung Hoa, đến Trường An năm 574; cách sáu năm sau (580) th́ ngài qua đất Giao Châu, trụ tŕ chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), để truyền bá Thiền Học và dịch kinh "Tổng Tŕ".

Năm 603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương đem quân theo đường tây bắc xuống xâm lăng nước ta. Lư Phật Tử chặn đánh quân Tuỳ ở núi Ô Long (thuộc tỉnh Tuyên Quang), nhưng quân Tuỳ quá mạnh; quân ta chống không lại. Giặc tiến vây thành Cổ Loa, bắt Lư Phật Tử đưa về Tàu, rồi bặt vô âm tín, không biết sau đó sống chết ra sao? Nước ta từ đó, lại một lần nữa bị nội thuộc hết nhà Tuỳ đến nhà Đường (từ năm 603 đến năm 906) cộng 304 năm.

Niên hiệu Khai Hoàng thứ XIV nhà Tuỳ (594) Ngài Pháp Hiền họ Đỗ, quê ở Chu Diên (Sơn Tây), khi mới xuất gia, thụ giới với đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân. Đệ nhất Thiền tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi khi mới thấy Pháp Hiền th́ nh́n chăm chăm vào mặt mà hỏi:

- Chú họ ǵ?

Pháp Hiền đáp:

- Hoà thượng họ ǵ?

Thiền sư lại hỏi lại:

- Chú không có họ à?

- Sao lại không có? Nhưng đố Ḥa thượng biết?

Thiền sư liền quát lên:

- Biết để làm ǵ?

Ngài Pháp Hiền chợt hiểu ư Đệ nhất thiền tổ Tỳ-Ly-Đa-Lưu-Chi, liền sụp xuống lạy xin theo làm đệt tử và sau được truyền tâm ấn.

(Đoạn văn đối thoại trên dẫn theo sách Đại Nam thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục. Microfilm Ecole francaise D'Extrême Orient A –2767. No/Aout 1954)

Trong giai đoạn này, các thiền sư là gạch nối giữa kẻ thống trị (Trung Hoa) và người bị trị (Việt Nam), mà không gặp bất cứ một trở ngại nào, cho nên: một mặt, đối với kẻ thống trị th́ khuyến cáo họ thực hiện hạnh từ bi, biết tôn trọng nhân phẩm con người mà đừng gây khổ đau cho nhau; mặt khác, đối với đồng bào đồng chủng đương bị áp bức bởi nỗi khổ của người dân mất nước, th́ truyền đạt tư tưởng "giác ngộ, giải thoát và tự chủ" để kích động ḷng yêu nước, tạo chất men cho công cuộc giành quyền tự chủ dưới các triều đại: Ngô Vương (939 – 944); Đinh Tiên Hoàng (968 – 980); nhà Tiền Lê (980 – 1009).

Sự trao đổi văn hóa Phật giáo và các kiến thức tổng quát giữa hai nước Việt – Hoa mỗi ngày một trở nên thắm thiết tốt đẹp: vào thời đại Tuỳ – Đường, các thiền sư đất Giao Châu sang thuyết pháp trong cung vua là chuyện thường t́nh, rồi sau ở lại bên đó. Ngược lại, cũng có các vị thiền sư và trí thức Trung Hoa qua Giao Châu hoằng đạo. Các thiền sư Ấn Độ qua lại giữa hai nước Việt – Hoa cũng thường ghé lại Giao Châu. Đạo Phật tại Giao Châu buổi ấy, nhiều lúc long thịnh hơn hẳn Trung Hoa. Các vua Văn Đế (nhà Tuỳ), Cao Tổ (nhà Đường) đều hướng về Đạo Phật Việt, cúng dường những ḥm (rương) lễ vật và xá lợi; đồng thời c̣n truyền lệnh cho các quan lại phải phụng mệnh thánh chỉ tạo dựng lại chùa, tháp ở Giao Châu. Tuy nhiên, về phương diện giáo pháp chính truyền th́ Đạo Phật Việt lại trực tiếp thu nhận tinh hoa giáo lư do chính các nhà sư Ấn Độ truyền vào. Các thiền sư Giao Châu vừa thông hiểu Phạm văn và cả Hán văn nên đă giúp các sư Ấn độ những phương tiện cần thiết để tới Trung Hoa giảng đạo hoặc ngược lại, đón nhận các thiền sư Ấn Độ từ Trung Hoa vào Giao Châu.

Hiểu đặc tính văn hóa phương Bắc không ai khác hơn là các thiền sư đất Giao Châu. Ngay chính bên Trung Hoa, hay nơi nước Việt cũng vậy, các thầy đi hoằng hóa giữa hai nước, thường đem tư tưởng "Tự Chủ" của Đạo Phật phổ biến trong quần chúng nhắm chống lại tư tưởng nô dịch của người phương Bắc muốn đồng hóa các dân tộc nhỏ bé. Hay nói rơ hơn là, các sư Việt Nam đă chịu ảnh hưởng trực tiếp nguồn văn hóa Phật giáo Ấn Độ khai hóa cho ḿnh.

Luận cứ trên đây được chứng minh cụ thể bằng sự trỗi dậy của LƯ NAM ĐẾ năm 542, lập nên nhà Tiền Lư độc lập đầu tiên ở nước ta; kế KHÚC THỪA DỤ (thuộc quư tộc) bằng cách tự xưng tiết độ sứ mà nhà Đường sau đó bất đắc dĩ phải thừa nhận; và cuộc khởi nghĩa năm 939 của NGÔ QUYỀN là những sợi dây nối kết giữa giới quí tộc (nhưng bất lực trước thời cuộc lúc ấy…) với giới b́nh dân (chưa ư thức rơ vai tṛ của ḿnh) mà điểm tựa chính yếu phải nhờ vào giới trung gian thứ ba là các thiền sư, vốn rất khôn khéo một cách tế nhị đă kết hợp nổi hai giới (quí tộc và b́nh dân) gần lại với nhau: tạo thành phong trào lớn mạnh mà năm 938, nhân dân ta, dưới sự chỉ đạo của ngô quyền, đă chiến thắng đạo quân hung hăn do thái tử Hoàng Thao chỉ huy bị chết trên sông Bạch Đằng, khiến cho vua tôi nhà Nam Hán khiếp sợ, không dám coi thường người Việt nữa. Kể từ đấy chấm dứt nạn đô hộ của người phương Bắc trên đất nước ta suốt một ngh́n không trăm ba mươi mốt (1031) năm.

Có điều này thiết tưởng người Việt cũng cần t́m hiểu là: Vị sơ tổ của Đạo Phật Việt Nam khác với vị sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam. (Có lẽ) Đạo Phật Việt không hẳn chịu ảnh hưởng của ḍng Thiền Tỳ-Ni-Đà-Lưu-Chi chỉ mới hiện diện trên đất Giao Châu vào năm 580 – tức cuối triều đại Lư Phật Tử (Hậu Lư Nam Đế) đương trị v́ nước ta – Khoảng 603 – 604 ở Giao Châu (buổi ấy) đă có quan thái thú là LƯU PHƯƠNG, dâng sớ về nhà Tuỳ, tâu rằng:

"Cơi Giao Châu ngày nay dân chúng rất tôn sùng Đạo Phật lại có nhiều vị danh tăng giáo hóa nên bốn phương thảy đều qui y"

Như vậy là chỉ có khoảng 23 hay 24 năm mà "bốn phương thảy đều qui y". Hơn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn sau này (618) nhà Tùy đổ, nhà Đường lên thay, th́ ở Giao Châu đă có rất nhiều thiền sư biết chữ Phạm và cả chữ Nho, cả thảy có sáu ngài xuất dương du học tại Ấn Độ. Như vậy, có thể khẳng định rằng: Trước khi Đệ nhất thiền tổ Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi tới nước ta truyền bá Thiền học th́ Đạo Phật Việt đang trên đà phát triển rực rỡ.

Và, trước cả ngài Mâu Bác, chắc chắn phải có các thiền sư khác đă có mặt tại Giao Châu. Ngài Mâu Bác là một trong bốn vị đến nước ta vào cuối thế kỷ II. Nhưng ngài Mâu Bác, khi đến Giao Châu với người mẹ, th́ tại nơi đây đă có Đạo Phật cũng như nền tín ngưỡng dân gian đều đă xuất hiện trên đất Giao Châu.

Ngài Mâu Bác là người Trung Hoa, thông hiểu Lăo giáo, Nho giáo của người Trung Hoa nên chưa chắc là ngài đă gây được sự hưng thịnh của Đạo Phật Việt. Thật rơ ràng nếu muốn t́m hiểu vị Sơ tổ của Phật giáo Việt Nam th́ điều rất hữu lư là phải t́m từ năm 111 tr TL, hoặc từ năm 194 là năm Mâu Bác qua Giao Châu trở về trước. Mà vị sư tổ đó phải là người Ấn Độ, và là vị đă gây ư thức giác ngộ tinh thần tự chủ cho người Việt quật khởi để tự cường !

Đạo Phật Việt, ở thời kỳ này c̣n có Tông VÔ NGÔN THÔNG. Tông này rất chú trọng đến vấn đề hoằng hóa truyền thừa, ít khi có sự cẩu thả trong khi truyền pháp hoặc ấn chứng cho ai. Chính ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch, có dạy: [ ] "Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa: nghĩa là không gặp các bậc thượng căn th́ chớ có truyền bậy! Ngài Vô Ngôn Thông qua Việt Nam năm 820, cách rất xa ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (580). Do đó sự giáo hóa của ngài chắc sẽ chẳng gây được ảnh hưởng bao nhiêu, trong một thời gian quá ngắn, hầu giúp tạo sự lấy lại độc lập cho quốc gia Việt, dưới triều Ngô Quyền. Ở đây có thể tạm kết luận: Đạo Phật Việt trong thời kỳ đầu truyền bá chính pháp tại Văn Lang – Âu Lạc (rất có thể) từ đời Hùng Vương hoặc ít ra cũng từ trước kỷ nguyên Tây lịch.

Lịch Sử Việt Nam, tập 1, nhận định: dưới hai triều đại nội thuộc Tùy – Đường (từ năm 603 đến năm 906) Đạo Phật ở nước ta rất hưng thịnh.

"Dưới thời Tùy Đường, hai phái Thiền tông của Phật giáo Trung Quốc được du nhập vào nước ta. Phái thứ nhất (do Tỳ-Ni-Đà-Lư-Chi cầm đầu) truyền bá vào cuối thế kỷ VI, trung tâm là chùa Pháp Vân (Thuận Thành, Hà Bắc). Phái thứ hai (do Vô Ngôn Thông cầm đầu) truyền bá vào đầu thế kỷ IX, trung tâm là chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, ngoài thành Hà Nội).

"Lúc này ở nước ta đă có nhiều chùa lớn (88 chùa ở Giao Châu), có chùa có số sư tới vài trăm; đă xuất hiện nhiều cao tăng người Việt. Chùa là một tổ chức trang viện, có nhiều ruộng đất và điền nô. Như vậy ở nước ta bấy giờ đă h́nh thành một lớp tăng lữ là tầng lớp trí thức trọng yếu. Nhiều vị sư đă vượt biển sang Thiên Trúc cầu đạo, thỉnh kinh và sang Trường An giảng kinh cho vua Đường" (Sđd, tr 127.

Theo sử gia Trần Văn Giáp khảo cứu trong các  sách cho biết là "về đời Đường có ba đoàn truyền giáo ở nước ta. Đoàn thứ nhất có ba người Tàu; đoàn thứ hai cũng có ba người Tàu và một là người Trung Á; đoàn thứ ba: có sáu pháp sư An Nam mà bốn người ở Giao Châu (Hà Nội và nam Định) và hai người ở Ái Châu (Thanh Hoá bây giờ)" – Le Bouddhisme en Annam, trang 31 – Danh sách ba đoàn truyền giáo, xem trang 55.

 


[22] Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm. Về sau chính vua và con cả là Nam Việt vương  Đinh Liễn bị cận thần Đỗ Thích giết, rồi sau Đỗ Thích cũng bị bắt và giết đi. Sấm truyền có câu:

Đỗ Thích giết hai Đinh,

Nhà Lê hiện thánh minh.

Tranh nhau, nhiều kẻ chết,

Đường sá, người vắng tanh".

(Đỗ Thích thí Đinh Đinh, Lê gia xuất thánh minh. Cạnh đầu đa hoạch tử, đại lộ tuyệt nhân hành). Đinh Tuệ, sáu tuổi, lên ngôi vua. Mọi việc triều chính đều do Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng với Dương thái hậu đảm nhiệm. Các đại thần trung thành với triều vua trước của ḍng họ Đinh, như các ông Nguyễn Bặc, Đinh Điền định thanh toán Lê Hoàn nhưng ngược lại bị lê Hoàn phát giác và giết chết. Giữa lúc t́nh h́nh trong nước rối loạn; bên ngoài nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân sang định đánh lấy nước ta. Đứng trước t́nh thế khó xử ấy, Lê Hoàn lại được Thái hậu tư thông, âm mưu với nhau, họp cùng với Phạm Cự Lượng và quân sĩ, tôn Lê Hoàn lên làm vua để đối phó với quân ngoại xâm; bảo toàn nền độc lập tự chủ của quốc gia Đại Cồ Việt. Lê Hoàn (tức Đại Hành hoàng đế) trị v́ 24 năm th́ mất. Người con cả là Ngân Tích, không được tôn lập, trái lại, người con thứ ba là Long Việt được vua cha ưu ái giao cho quyền bính cai trị muôn dân. Mấy người con của Lê Hoàn tranh nhau ngôi báu, nổi loạn, người th́ chết, kẻ c̣n sống sót. Long Việt chính thức lên ngôi chưa được ba ngày th́ Long Đĩnh sai người giết rố kế vị. Ta cần nên nhớ điều này: khi Long Việt bị hạ sát th́ các quan đều hoảng hốt chạy trốn hết, ngoại trừ Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Lư Công Uẩn là người rất trung và rất can đảm c̣n ở lại trong triều.

- Dưới thời Lê Ngọa Triều, người ta phát giác ở châu Cổ Pháp (quê hương Lư Công Uẩn) có cây đa bị sét đánh, ở ruột cây có những hàng chữ:

"Thụ căn diểu diểu

Mộc biểu thanh thanh

Ḥn đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Chấn cung hiện nhật

Đoàn cung ẩn tinh

Lục thất niên gian,

Thiên hạ thái b́nh".

 (Gốc cây sâu thăm thẳm,

Ngọn cây cao xanh xanh.

Cây "ḥa đao" rụng xuống

Mười tám hạt h́nh thành

Hướng đông mặt trời mọc,

Phía tây sao náu h́nh

Trong khoảng sáu bảy năm

Thiên hạ sẽ thái b́nh).

Đây là một trong những bài thơ "Sấm" xuất hiện vào thời cuối Lê, đầu Lư. Lời giải thích của Ngài Vạn Hạnh đoán rằng: "Câu thụ căn diểu diểu th́ căn là gốc, diểu là yếu đồng âm nên đọc là yểu (tức là non yểu). Câu mộc biểu thanh thanh th́ biểu là ngọn; ngọn là bề tôi. Chữ thanh đồng âm với chữ thanh nên viết là thanh, tức là thịnh. Ḥa đao mộc là chữ Lê, Thập bát tử là chữ Lư (…) câu chấn cung hiện nhật, th́ Chấn là phương Đông, hiện là hiện ra, nhật cũng giống như thiên tử. Câu Đoài cung ẩn tinh, th́ Đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh như thứ nhân. Mấy câu đó ư nói vua th́ non yểu, tôi th́ cường thịnh, họ Lê mất th́ họ Lư nổi lên, thiên tử ở phương Đông mọc ra th́ thứ nhân ở phương Tây lặn mất. Trải qua 6, 7 năm th́ thiên hạ thái b́nh = Theo trong ĐVSKTT, nguyên văn chữ Hán; Tăng Vạn Hạnh tư tự b́nh viết: Thụ căn diểu diểu, căn giả bản dă; diểu yểu âm đồng; diểu đương tác yếu. Mộc biểu thanh thanh, biểu giả mạt dă. Mạt do thần dă; thanh thanh tương cận; thanh đương tác thanh, thịnh dă. Ḥa đao mộc: Lê tự, thập bát tử: Lư tự ( ) Chấn cung hiện nhật giả, chấn, đông phương dă; ẩn do một dă; tinh do thứ nhân dă. Thử ngôn quân yểu thần thịnh; Lê lạc Lư thành; đông phương xuất thiên tử, tây phương một thứ nhân. Kinh lục thất niên gian nhi thiên hạ thái b́nh hĩ - dẫn theo sách ĐVSKTT tập IV, phần chữ Hán, tr. 106 – Nhà xb/ KHXH –

Trong dân gian có ghi câu chuyện: "Ở chùa Thiên Tâm, châu Cổ Pháp, có con chó đẻ ra con chó trắng, lưng có lông đen, nổi lên hai chữ "thiên tử", người ta đồn rằng người sinh tuổi tuất sẽ được đại quư. Quả nhiên vua Lư tức Lư Công Uẩn đẻ vào năm giáp tuất, niên hiệu Thái B́nh thứ 5". Chép theo Việt Sử Tiêu Án và trong Thiền Uyển Tập Anh có ghi lại bài thơ:

 Tật Lê trầm Bắc thủy,

Lư tử thụ Nam Thiên.

Tứ phương can qua tĩnh,

Bát biểu hạ hành yên.

(Gốc Lê(1) ch́m bể Bắc,

Chồi Lư (2) mọc trời Nam

Bốn phương tan giáo mác,

Tám cơi được b́nh an.

                Bản dịch của Đoàn Thăng – TVLT, tập I

 Qua bài thơ sấm trên cho ta thấy đây là điểm báo trước nhà Lư sẽ lên thay thế nhà Tiền Lê đă hết thời!…

Hơn nữa, Long Đỉnh ông vua cuối cùng ḍng họ Lê lại rất bạc nhược về cả tinh thần lẫn vật chất: Long Đỉnh là một con sâu rượu, suốt ngày say sưa, cộng thêm sự hoang dâm vô độ. Về thể chất th́ Long Đĩnh gần như tê liệt toàn thân, đến nỗi phải có cận thần khiêng ra long sàng để vua cứ nằm bàn bạc việc nước với các quan (do đó có tên: Lê Ngọa Triều); về tinh thần th́ Long Đĩnh ở ngay giữa buổi chầu, đông đủ văn vơ bách quan, lại cho một thằng hề đứng bên cạnh để pha tṛ, nhạo các đ́nh thần. Đă vậy lại c̣n chế ra rất nhiều kiểu hành tội các phạm nhân cực kỳ dă man: những người bị đưa ra hành h́nh thường bị Long Đĩnh, sai lấy cỏ gianh quấn vào người rồi đốt cho chết, hoặc cho nhốt tội nhân trong chiếc cũi rồi đem thả xuống sông cho nước cuốn trôi ra biển, hoặc bắt người bị tội trèo lên cây cao rồi cho chặt gốc hoặc đánh bằng gậy, hoặc cho rắn cắn chết… Long Đĩnh c̣n thích chọc tiết ḅ, lợn, có lần sai lính bắt nhà sư Quách Ngang (v́ ông dấy loạn chống lại triều đ́nh) đến chầu, hạ lệnh ngồi xuống, rồi tự tay lấy mía róc lên đầu nhà sư, song chốc lát lại giả vờ lỡ tay bổ dao… làm cho máu chảy xối xả để ḿnh cười một cách khoái trá! Đấy là chỉ mới kể có yếu tố nhân sự có tính cách tranh chấp nội bộ cũng như dùng h́nh luật để TRẤN ÁP… làm cho dân khiếp sợ!… chứ chưa nói đến bất cứ thời nào và lúc nào, cả hai phương Bắc lẫn phương Nam, luôn luôn có nạn ngoại xâm ŕnh rập để thừa dịp tràn vào chiếm đất đai. Nạn ngoại xâm đe dọa và nạn giết vua đoạt quyền, ở ngay trong nước, là hai ác mộng chính của thời ấy. Nếu kể cả những điều phụ nữa th́ rất nhiều, nhưng đại khái th́ hầu như chẳng bao giờ Việt Nam thoát được cảnh trộm cướp thành đảng của người phương Bắc lẫn người bản xứ trên miền thượng du Bắc Việt, hoặc tại miền Hoa Nam, và ngay ở cả trong các khu rừng núi rậm rạp, hiểm trở nội địa nữa.

Với sự vừa kể, hẳn không thể chối căi điều này: Lê Long Đĩnh, ông vua cuối cùng, rất quái dị của ḍng họ Lê, tất phải bị thay thế, không do người này th́ ắt phải do người khác. Đó là lẽ dĩ nhiên phải xảy ra.

[23] Khi sứ nhà Tống là Lư Giác sang nước Việt, trong nước không có ai là nho học lỗi lạc, nên vua phải nhờ hai vị Pháp Thuận và Khuông Việt ra tiếp sứ, hai vị cùng Tống sứ làm thơ xướng họa, Tống sứ cũng phải phục tài. Vậy th́ dù chữ Hán, truyền vào Việt Nam đă từ lâu, nhưng trong mười thế kỷ Bắc thuộc cho đến ba triều độc lập Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho học chưa đào tạo được một nhân tài bác học nào; người giỏi lại xuất hiện ở Thiền môn…" Trích Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu của nghiêm Toản.