ĐẠO PHẬT VÀ D̉NG SỬ VIỆT

HT.Thích Đức Nhuận


VUA TRẦN NHÂN TÔNG, ĐỆ NHẤT TỔ
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
(1258 – 1308)

Vua tên là Khâm, đản sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu ngọ, niên hiệu Nguyên Phong thứ VIII (1258), con trưởng thượng hoàng Thánh Tông và hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Năm 16 tuổi, được lập làm Thái tử, vua có ư từ chối, xin nhường cho em nhưng không được vua cha chấp thuận. Vua bản tính thông minh, học rộng, đa tài, đọc hết các sách sử thế gian; về Phật học, cũng rất tinh tường, thường cùng các vị tôn đức trong thiền gia giảng cứu Thiền học; nhất là được sự giáo huấn của ngài Tuệ Trung Thượng sĩ, nên vua am hiểu Phật pháp đến chỗ uyên áo. Năm vua 21 tuổi, được thượng hoàng truyền ngôi và lấy hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên (1279). Tuy ở ngôi chí tôn, vua vẫn giữ ḿnh thanh tịnh, ban ngày làm việc triều chính, đêm về nghỉ ở chùa Tư Phúc trong nội thành.

Vua trị v́ mười lăm năm (1279 – 1293). Quốc sử ghi: "Vua giáng sinh có được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung (tức hai bà phi) đều cho là lạ, gọi là "Kim Tiên đồng tử" (sách Tam Tổ Thực Lục gọi là "Kim Phật"); ở vai bên trái có một nốt ruồi đen, cho nên cố thể cáng đáng được việc lớn. Vua lên ngôi năm 21 tuổi, trị v́ 14 năm, đến niên hiệu Trùng Hưng thứ IX (năm Quí Tị) th́ nhường ngôi cho con là Anh Tông. Cách mấy năm sau vua xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, rồi sau ra tu ở núi Yên Tử và băng ở am Ngọa Vân. Nhân Tông là một vị vua nhân từ, ḥa nhă, cố kết ḷng dân, sự nghiệp trùng hưng làm vẻ vang đời trước. thực là vị vua hiền của nhà Trần…"

Đại Việt Sử Kư Toàn Thư –

Niên hiệu Trùng Hưng thứ IX (1293), vua truyền ngôi cho con là thái tử Thuyên (tức vua Trần Anh Tông), rồi về Thiên Trường làm thái thượng hoàng 6 năm, để dạy con cách quản trị việc nước.

Niên hiệu Hưng Long thứ III (1295) vua dời đến ở hành cung Vũ Lâm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh B́nh. Đây là năm đầu tiên khởi sự "thực tập xuất gia", vua có làm bài tgơ Vũ Lâm Thu Văn:

"Hoa kiều đảo ảnh trám khê hành

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh.

Tịch tịch thiên sơn, hồng diệp lạc,

Thấp vân ḥa lộ tống chung thanh"

 

CUỐI THU Ở HÀNH CUNG VŨ LÂM

Con khe d́n ngược bóng cầu

Hắt lên một vết sáng màu tà dương.

Núi non lặng trút là hường,

Móc dầm mây ướt đưa đường tiếng chuông.

Bản dịch Giản Chi-

Vua chỉ ở hành cung Vũ Lâm trong thời gian ngắn, rồi trở lại quê hương ở Thiên Trường (Nam Định), mở Vô Lượng Pháp Hội tại chùa Phổ Minh "bố thí tiền của, vải vóc, vật thực và trợ cấp cho những nơi mất mùa nghèo đói…"

Niên hiệu Hưng Long thứ VII (1299(, vua cho dựng thảo am ở ngọn Tử Tiêu, núi Yên Tử, lấy pháp danh là Hương Vân Đại Đầu Đà, hiệu là Đại Hương Hải Ấn Thiền Sư. Vua là người sáng lập pháo thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam, hoàn toàn mang trái tim, khối óc và hơi thở Việt nam, và cho lập chùa Long Động (ở bên nuí) để độ tăng và giảng dạy Chính Pháp. Số học chúng tới xin thụ giáo đông có hàng ngàn.[131]

Cũng trong năm 1299, vua Anh Tông sắc cho ấn hành cuốn "Phật Giáo Pháp Sự Đạo Tràng Công Văn Nghi Thức" để phổ biến trong toàn quốc, ghi dấu ngày thượng hoàng Nhân Tông xuất gia.

Niên hiệu Hưng Long thứ XII (1304), vua lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng, rồi cùng với đệ tử là tôn giả Pháp Loa và mười đồ đệ đi khắp nẻo thôn quê giảng pháp, khuyên dân bỏ mê tín, hủy dâm từ, thực hành giáo lư Thập Thiện,[132] với mục đích xây dựng một xă hội đạo đức "nhân gian tịnh độ".

Sau đó Giác Hoàng trở về chùa Sùng nghiêm, ở Linh Sơn, mở khoá dạy thiền:

Mở đầu Pháp hội, ngài nói: Đức Thích Ca Văn Phật, v́ một đại sự nhânn duyên, thị hiện xuống cơi đời, ṛng ră ngót nửa thế kỷ "hoằng pháp độ sinh", nhưng Phật vẫn tự nhận là "chưa hề nói một chữ…"

Nay ta lên ngôi ṭa này, chẳng biết phải nói ǵ với các ngươi?

Một vị tăng đứng dậy, chắp tay bạch:

- Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

- Chấp theo lối cũ là không đúng.

Lại nói tiếp:

- Thế nào là Pháp?

Ngài đáp:

- Chấp theo lối cũ là không đúng.

Hỏi tiếp:

- Thế nào là tăng?

Ngài đáp:

- Chấp theo lối cũ là không đúng.

Lại hỏi:

- Cứu cánh sẽ ra sao?

Ngài đáp:

- Tám chữ [133]

Cuối năm 1304, vua Anh Tông cung thỉnh Giác Hoàng về kinh đô Thăng Long xin thụ Bồ Tát Giới Tại Gia. Năm 1306, Giác Hoàng vào tu trong am Ngọc Vân, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ.

Niên hiệu Hưng Long thứ XVI (1308), ngày 1 tháng giêng năm Mậu Thân, Giác Hoàng chính thức ủy cử tôn giả PHÁP LOA, đảm nhận chức trụ tŕ chùa báo Ân, ở Siêu Loại (Bắc Ninh).[134]

Tháng 4 Giác Hoàng đích thân tới chùa Vĩnh nghiêm ở Lạng Giang (Bắc Giang) chủ tŕ và giảng Truyền Đăng Lục và bảo quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho chư tăng kiết hạ tại đây.

Sau ngày làm lễ "tự tứ", kết thúc ba tháng hạ, Giác Hoàng trở lại núi Yên Tử, và cho hết những tịnh nhân xuống núi, chỉ giữ lại mười vị thị giả theo ngài lên ở trên am Tử Tiêu và giảng riêng Truyền Đăng Lục cho tôn giả Pháp Loa. Giác Hoàng dạo khắp các hang động, lúc quá mệt, vào nghỉ ở Thạch Thất. Bảo Sát bạch:

- "Tôn Đức xuân thu đă cao, mà xông pha mưa nắng lỡ khi nóng, lạnh bất thường thi mệnh mạch Phật pháp biết nương tựa vào đâu?"

Giác Hoàng bảo:

- "Thời tiết đă đến, ta chỉ c̣n đợi ngày viên tịch nữa thôi".

Ngày 5 tháng 10, bỗng có gia đồng của chị là công chúa Thiên Thụy lên tâu rằng:

- "Công chúa bị đau nặng, chỉ mong được diện kiến Tôn Đức trước khi nhắm mắt".

Giác Hoàng bùi ngùi than:

- "Thời tiết mà thôi vậy!"

rồi xuống núi cùng với một thị giả đi hầu. Ngày mồng mười th́ tới kinh, thăm chị xong, ngày rằm lên đường về núi, đêm nghỉ ở chùa Siêu Loại. Sáng dậy đi bộ ghé ngang qua chùa làng Cổ Châu, và đề bài thơ:

"Thế số nhất tức mặc,

thời t́nh lưỡng hải ngân.

Ma cung hồn quản thậm,

Phật quốc bất thăng xuân".

Dịch:

Kiếp người một hơi thở!

T́nh đời đôi mắt buồn…

Cung ma nhiều rối rắm

Cơi phật vui nào hơn.

Ngày 17, nghỉ ở chùa Sùng Nghiêm, núi Linh Sơn, hoàng thái hậu Tuyên Từ thỉnh về am B́nh Dương phó trai. Giác Hoàng vui vẻ nói: "Đây là buổi cúng dường cuối cùng"!

Ngày 18 lại lên đường, tới chùa Tú Lâm, ở ngọn An Sinh, Giác Hoàng bị nhức đầu, bảo hai vị tỳ khưu Tử Doanh và Hoàn Trung rằng: "Ta muốn lên đỉnh Ngọa Vân mà chân yếu quá, không thể lên nổi, phải làm sao?"  -Hai vị tỳ khưu bạch: "Hai chúng con xin đỡ ngài đi". Vừa đến am Ngọa Vân, Giác Hoàng căm ơn hai vị và nói: "quí vị xuống núi tu hành đi, chớ coi thường sinh tử".

Ngày 19, Giác Hoàng bảo thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu, núi Yên Tử, gọi Bảo Sát đên gấp.

Ngày 20, Bảo Sát đeo tay nải ra đi, đến Doanh Tuyền bỗng thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua núi Lỗi th́ dừng lại. Bỗng nhiên nước dâng lai láng, cao đến vài trượng, khi nước rút xuống, thấy hiện hai con rồng, đầu như đầu ngựa, ngóa cao hơn một trượng, hai mắt sáng như sao, chỉ trong khoảnh khắc, rồi biến mất. Chiều tối, Bảo Sát phải nghỉ lại ở sườn núi, đêm chiêm bao thấy hiện những điềm bất thường.

Ngày 21, Bảo Sát đến am Ngọa Vân. Giác Hoàng trông thấy cười và nói: "Ngươi sao đến chậm thế? Ta sắp đi đây. Trong Phật Pháp có điều nào c̣n ngờ th́ hăy nói gấp đi".

Bảo Sát thưa: "Khi đại sư Mă Tổ bệnh, vị viện chủ hỏi: Những ngày gần đây Tôn Đức thế nào?" Mă Tổ bảo: "Ngày thấy Phật, đêm thấy Phật. Vậy ư ấy thế nào?"

Giác Hoàng lớn tiếng: "Ngu đế và Tam hoàng là vật ǵ?"

Bảo Sát nói: "Hoa nở sum suê màu rực rỡ, tre phương nam với gỗ phương bắc phải hiểu thế nào?"

Giác Hoàng nói: "Ngươi là kẻ ngu".

Bảo Sát liền thôi.

Suốt mấy hôm trời đất mù mịt tối tăm, gió bảo nổi lên, mưa tuyết làm ướt đẫm cây cỏ; vượn, khỉ liệng quanh am gào khóc thê thảm, chim núi cùng hót giọng buồn rầu…

Ngày 1 tháng 11, vào lúc nửa đêm, tự nhiên trời quang mây tạnh, sao sáng đầy trời. Giác Hoàng gọi Bảo Sát:

"-Bây giờ là giờ ǵ?"

Bảo Sát thưa: "Giờ tư".

Giác Hoàng đưa tay vén màn nh́n ra ngoài và nói: "Đă đến giờ ta đi đây".

Bảo Sát hỏi: "Tôn Đức đi đâu bây giờ?"

Giác Hoàng nói bài kệ:

"Nhất thiết pháp bất sinh,

Nhất thiết pháp bất diệt.

Nhược năng như thị giải,

Chư Phật thường hiện tiền

Hà khứ lai chi hữu dă".

 

(Các pháp vốn không sinh

Các pháp vốn không diệt

Nếu hiểu rơ như thế

Chư Phật thường hiện tiền…

Chẳng đi đâu mà cũng chẳng lại đâu cả).

Bảo Sát hỏi thêm: "C̣n khi bất sinh bất diệt th́ sao?"

Giác Hoàng bỗng nhiên xoè bàn tay và nói:"Đừng có ngủ mơ".

Nói xong ngài nằm trên ṭa sư tử mà hóa, trụ thế 51 năm[135] Tôn giả Pháp Loa rước ngọc thể lên hỏa đàn. Tương truyền: "Khi đó có hương thơm tỏa ra và thấy những tiếng nhạc ở trên trời, mây ngũ sắc tụ lại thành h́nh cái tàn để che nơi hỏa thiêu Thượng hoàng Nhân Tông. Tôn giả Pháp Loa thu nhặt ngọc cốt: ngoài xương (ngọc cốt) c̣n thấy những xá lợi ngũ sắc. Sách Tam Tổ Thực Lục ghi là sau khi hỏa thiêu có thu nhập được 3.000 xá lợi. Nhưng sách Tam Tổ Hành Trạng ghi là có 1.000 xá lợi. Sau lúc đó th́ vua Trần Anh Tông và đ́nh thần đến núi Yên Tử để chịu tang. Theo sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược HT Mật Thể ghi: vua Anh Tông cùng đ́nh thần đem long giá rước ngọc cốt về an thổ ở Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, lấy tên là "Huệ Quang Kim Tháp" và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật". trong sách  Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép: tên thụy hiệu của Thượng hoàng Nhân Tông là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hoá Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Vũ nguyên Minh Huệ Hiếu Hoàng Đế".

Louis BEZACIER trong bài "Le Stupa du Phổ Minh Tự" nghiên cứu những tài liệu Tam Tổ Thực Lục, Tam Tổ hành Trang, Trúc lâm Tông Chỉ, Nam ông Mộng LụcTan Tổ Hành Trạng th́ lễ táng của Trần Nhân Tông được tổ chức tại Hà Nội. Nhưng theo sách Nam ông Mộng Lục th́ lễ hỏa táng ngọc thể của Trần Nhân Tông được tổ chức ở gần am Ngọa Vân.

"Trong lễ tang có hoàng tử Oanh (cũng gọi là Mạnh), lên 9 tuổi, đứng ở gần vua Anh Tông. Sách Nam Ông Mộng Lục chép là xá lợi của Thượng hoàng Nhân Tông đă bay đến ẩn trong áo của một hoàng tử con vua Trần Anh Tông và chiếu sáng lên. Vua Anh Tông quỳ lạy xin tuân lệnh, sau khi đó th́ ánh sáng của xá lợi biến đi. Vua Anh Tông đă chọn vị hoàng tử đó làm đông cung thái tử. Sách Tam Tổ Thực Lục cũng kể sự việc này và có ghi là vua Trần Anh Tông đă khóc và không c̣n nghi ngờ các xá lợi. Vua Anh Tông truyền để ngọc cốt trong bảo tháp xây trên lăng của Thượng hoàng Nhân Tông và những xá lợi chia làm hai phần đựng trong b́nh đựng di cốt. Sau lễ tang, ngọc cốt được đem chôn ở Đức Lăng, một phần xá lợi đặt ở tháp trong lăng (nhưng đặt ở kim tháp trong chùa Vân Yên trên núi Yên Tử).

"Các tài liệu trên đều không ghi ngày tháng cử hành lễ tang, Thượng hoàng Nhân Tông, nhưng trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập VI, có ghi tháng 9 âm lịch, mùa thu năm 1310, an táng linh cửu Nhân Tông ở Đức Lăng, phủ Long Hưng, tỉnh Hưng Yên ngày nay.

"Như vậy theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục th́ Thượng Hoàng Nhân Tông mất ở chùa núi Yên Tử vào tháng mười một âm lịch năm Mậu Thân (1308) và măi tới tháng chín âm lịch năm Canh Tuất (1310) mới làm lễ an táng linh cữu ở Đức Lăng, nghĩa là linh cữu của Thượng hoàng Nhân Tông được an táng.

"Trong sách Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có hai nơi chôn ngọc cốt và xá lợi Thượng hoàng Nhân Tông là tháp Đức Lăng và tháp ở chùa Vân Yên, mà không nói phần xá lợi thứ hai được để ở đâu. Theo L. BEZACIER th́ phần xá lợi này phải để ở tháp[136] xây ở trước chùa Phổ Minh, làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định"[137]

Theo Việt Sử Tiêu Án:  "Khi rước di hài vua Nhân Tông về táng ở Đức Lăng, lúc tử cung (quan tài của vua gọi là tử cung) sắp đưa ra, người xem đông chật cả cung, phải dùng đến lính ngự lâm để mởi lối đi cũng không được. Vua (Anh Tông) sai Trịnh Trọng Tử dẹp mở đường. Trọng Tử đến sân rồng gọi đạo quân Long Dực hát khúc long ngâm, dân chúng kéo đến đó xem; cung điện mới rộng chỗ đi được, lại lấy những câu hát ở dọc đường, phổ vào khúc hát, làm cho có tiếng hát liền măi, không cần phải truyền bảo ǵ, mà khi đi lên, đi xuống, quanh chuyển, không có lo nghiêng lệch nữa. người đời bấy giờ khen là có xảo tứ.

"Xá lợi của vua Nhân Tông chia làm hai phần: một đưa về táng ở Đức lăng, một để ở tháp Yên Tử. Có thầy Tăng chùa siêu Loại là Trí Không đốt tay cháy từ bàn tay đến cánh tay, cứ ngồi nghiễm nhiên, không đổi sắc mặt. Vua Anh Tông hỏi, trả lời rằng: "Thần đốt đèn đó". Lửa tắt, thầy về tăng viện ngủ kỹ, đến khi thức dậy chỗ phỏng lên đều khỏi cả. Đến lúc xá lợi vua Nhân Tông đưa để ở bảo tháp, thầy liền lên núi hầu hạ" (Sđd trang 225, 226).

Những tác phẩm do Giác Hoàng sáng tác gồm có:

Chữ Hán:

Tăng Già Toái Sự.

Thạch Thất Mị Ngữ.

Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.

Trúc Lâm Hậu Lục.

Đại Hương Hải Ấn thi Tập.

Chữ Nôm:

Cự Trần Lạc Đào Phú[138]

Đắc Thú Lâm Tuyền Thánh Đạo Ca.

Ngoài ra, ngài c̣n là tác giả bài Thượng sỉ Hành Trạng  (viết về cuộc đời của Tuệ Trung Thượng sĩ) in ở sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.

Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn ít bài thơ của ngài làm điển h́nh:

Thiên Trường Văn Vọng

Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,

Bán vô, bán hữu tịch dương biên.

Mục đồng địch lư qui ngưu tận,

Bạch lộ song song phi hạ điền.

 

Cảnh Chiều Ở Thiên Trường

Mờ mờ thôn trước, thôn sau,

Như không, như có trong bầu tịch dương,

Trâu theo sáo mục về chuồng,

Ruộng bên, từng cặp trắng buông cánh c̣…

Bản dịch Giản Chi.

Lạng Châu Văn cảnh

Cổ tự thê lương thu ái ngoại

Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.

Nguyệt minh sơn tĩnh bạch điểu quá,

Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.

 

Cảnh Chiều Châu Lạng

Lạnh lẽo chùa quê bóng mịt mờ

Thuyền ngư lẽo đẽo, tiếng chuông đưa.

Nước quanh, non tĩnh, con c̣ liệng,

Gió tạnh, mây in, lá đỏ thưa.

Ngô Tất Tố dịch

XUÂN HIỂU

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ qui

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi.

 

BUỔI SỚM MÙA XUÂN

Thức dậy nh́n ra cửa

A, xuân đă đến ḱa!

Có đôi bươm bướm trắng

Đậu cành hoa phất phơ…

Tạm dịch

XUÂN VĂN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

Như kim kham phá đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

 

XUÂN MUỘN

Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,

Xuân sang, hoa nở, rộn tơ ḷng.

Chúa xuân nay đă thành quen mặt,

Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng.

Ngô Tất Tố (TVLT tập II, q. th, trang 464)

NGUYỆT

Bán song đăng ảnh măn sàng thư,

Lộ trích thu đ́nh dạ khí hư.

Thụy khởi hâm thanh vô mịch xứ,

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.

 

TRĂNG

Đèn song chếch bóng, sách đầy giường,

Đêm vắng sân thu lác đác sương.

Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết,

Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương

Đào Phương B́nh (TVLT, t.2, q. thg)

ĐẠI LĂM THẦN QUANG TỰ

Thần quang tự liểu hứng thiên u,

Sanh thỏ phi ô thiên thượng du

Thập nhị lâu đài khai họa trục,

Tam thiên thế giới nhập thi mâu.

Tục đa biến thái vân thương cẩu,

Tùng bất tri niên tăng bạch đầu.

Trừ khước trụ hương tham Phật sự,

Tá dư niệm liễu tổng hưu hưu.

 

CHÙA THẦN QUANG TRÊN NÚI ĐẠI LĂM

Chùa vắng Thần Quang, hầu nhă hứng,

Chơi mây, thỏ ngọc, quạ vàng đưa.

Lâu đài chín cơi bày tranh vẽ,

Thế giới ba ngàn lọt mắt thơ.

Biển hóa thành dâu buồn thói tục,

Tùng không biết tuổi bạc đầu sư.

Ngoài câu cúng Phật, tuần nhang thắp,

Lo nghĩ bao điều, mấy cũng ngơ!

Khương Hữu Dụng (TVLT t.2 q thg. Tr 481)

ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ

Huân tận thiên đầu măn tọa hương

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương

Lăo dung ảnh lư tăng quan bế

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.

 

ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH

Ngh́n hương thắp hết ngát đầy nhà

Làn nước hiu hiu gió lạnh qua

Dưới bóng đa già chùa vắng vẻ

Tiếng ve khơi động tứ thu xa.

Theo ngô Tất Tố (VHĐT)

ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tích đài du cổ,

Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận,

Hoa kính bán t́nh âm

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm ngự (ngữ) tâm.

Yû lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt măn hung khâm.

 

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Nghĩa là:

Đất hẻo lánh làm cho đài tăng vẻ cổ kính

Tuy xuân đến nhưng màu chưa muộn

Mây phủ kín núi đồi, ngọn như gần, ngọn như xa.

Đường đầy những hoa chỗ hừng chỗ râm

Muôn việc ở đời có khác ǵ ḍng nước chảy trôi.

Cuộc trăm năm riêng ḷng nhủ với ḷng

Tựa lan can, cầm ngang ống sáo thổi

Trăng sáng tràn đầy cả ngực, bụng.

 

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Cảnh vắng, đài thêm cổ,

Xuân sang, màu chửa già.

Gần, xa, mây tiếp núi;

Nắng, rợp, bóng xen hoa.

Muôn việc: nước cuốn nước,

Trăm năm: ta nhủ ta.

Tựa lan, nâng sáo ngọc,

Tâm sự ánh trăng ngà…

Bản dịch Giản Chi

Hai câu PHÁ, THỪA tả cảnh cô tịch của ngôi tháp đứng chơ vơ trên ngọn núi, nơi xưa nay ít có ai tới được; có lẽ tác giả là người duy nhất đă lên chơi núi Bảo Đài, nh́n ra chung quanh cảnh vật (lúc ấy) mùa xuân bắt đầu chuyển hiện, tuy chưa rực rỡ lắm, nhưng cũng gợi cho khách du quan cảm thức được vẻ đẹp huyền bí của thiên nhiên. Hai câu THỰC ghi hiện trạng cảnh núi đồi trùng điệp với những bóng mây ngũ sắc bay là là trên không, xen kẽ trong các hang hốc bên sườn núi có những bông hoa nở lúc đậm lúc lợt; thỉnh thoảng nghe điểm những tiếng chim kêu, vượn hót, hổ gầm đến rợn người… Đứng trên đài cao, ngắm bầu trời mặt đất mênh mông, huyền ảo đủ để tác giả lư hội trọn vẹn lẽ Sắc, Không mầu nhiệm – "cuộc đời là như thế đó" –để rồi dẫn đến hai câu LUẬN:

"Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm ngự tâm".

Cảnh vật là vô thường biến đổi. Tất cả hiện tượng chỉ như ḍng nước chảy trôi không bao giờ dừng nghỉ – Họa chăng c̣n rớt lại trên vết thời gian một chút dư âm "trăm năm: ḷng nhủ ḷng". Nói theo thi hào Nguyễn Du:

"…Của TIN gọi một chút này làm ghi".

Hai câu KẾT: Tác giả đứng cô đơn bên bức lan can, lấy ống sáo ra thổi để cho quên hết mọi suy tư…Nhưng ḱa! Trăng đă mọc tự lúc nào? Rồi (bỗng nhiên) vầng trăng sáng ùa vào lồng ngực khiến khắp người cảm thấy thanh thoát nhẹ nhàng như ḥa ḿnh (tiểu ngă) vào với đại – ngă – thể – rộng – lớn – của – vũ – trụ – vô – biên. Vầng trăng là biểu tượng của CHÂN TÂM tồn tại trên sự sinh thành, hủy diệt của vạn pháp… Phải nói đây là bài thơ lẫm liệt có sức cuốn hút lạ lùng nên mỗi chữ, mỗi câu là những viên ngọc tỏa ánh sáng lung linh…

Có lần, Lư bạch (thời Thịnh Đường 715 –766) đến chơi lầu Hoàng Hạc, nh́n lên thấy bài thơ của Thôi Hiệu đề ở vách tường, không phải nhà thơ kém tài… nhưng bao nhiêu ư sâu, lời đẹp Thôi Hiệu đă nói cả rồi (!) đành cắn bút thở dài, ngượng ngùng viết hai câu:

"Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đài".

(Có cảnh đẹp trước mắt mà không sao nói đựợc, v́ trên lầu Thôi Hiệu đă có đề thơ quá hay).

Nguyên tác bài HOÀNG HẠC LÂU:

"Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ?

Thử địa không dư hoàng hạc lâu!

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản;

Bạch vân thiên tải không du du.

T́nh xuyên lịch lịch Hán dương thụ;

Hoang thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu".

GÁC HOÀNG HẠC:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng hạc riêng lầu c̣n trơ!

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Băi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai!

Tản Đà dịch.

LẦU HOÀNG HẠC:

Người cưỡi hạc vàng xưa vắng bóng

Riêng lầu Hoàng Hạc cảnh chơ vơ

Hạc vàng, một thoáng đi biền biệt

Mây trắng bao đời vẫn nhởn nhơ.

Bén tạnh Hán Dương cây bát ngát

Băi hoang Anh Vũ cỏ lưa thưa

Chiều tà, gợi nhớ đâu quê quán?

Khói sóng trên sông khách ngẩn ngơ!

Nếu đem bài Hoàng Hạc Lâu so với bài "Đăng Bảo Đài Sơn" ta thấy mỗi bài có những vẻ đẹp dị thường…

 

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ (1)

(Thập hồi dụng diễn ca quốc ngữ phú)[139]

Đệ Nhất Hội

Ḿnh ngồi thành thị,

Nết dụng[140] sơn lâm.

Muôn nghiệp lắng,[141] an  nhàn thể tính[142];

Nửa ngày rỗi, tự tại thân tâm.[143]  

Tham ái nguồn dừng, chẳng c̣n nhớ châu yêu ngọc quí;

Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ư;

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm[144]

Nguyệt bạc vầng xanh, soi mọi chỗ thiền hà[145] lai láng;

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm[146]

Lừa hoán cốt[147], ước phi thăng, đan thần mới phục[148];

Nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc quí c̣n đam[149].

Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu ngọc;

Kinh nhàn đọc sách, trọng ḷng rồi trọng nớ[150] hoàng kim.

Đệ Nhị Hội

Biết vậy:

Miễn được ḷng rồi,

Chẳng c̣n phép khác.

Ǵn tính sáng, tính mới hầu an;

Nén niềm vọng; niềm đành chẳng thác [151].

Dứt trừ nhân ngă [152], th́ ra tướng thực kim cương[153];

Dừng hết tham sân[154], mới láu ḷng mầu viên giáo[155].

Tịnh độ là ḷng trong sạch, chớ c̣n ngờ hỏi đến Tây Phương[156];

Di Đà là tính sáng soi, mựa[157] phải nhọc t́m về Cực Lạc.

Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe;

Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán giác[158].

Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiếm thửa đắng cay;

Vận giẻ vận sui[159], thân căn có ngại chi đen bạc.

Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nớ[160] thiên cung;

Dầu hay mến thửa nghĩa nhân, ba phiến ngói yêu hơn lầu các.

Đệ Tam Hội

Nếu mà cốc[161]

Tội ắt đă không, phép học lại thông.

Ǵn tính sáng mựa[162] lạc tà đạo;

Sửa ḿnh học cho phải chính tông.

Chỉn Bụt là ḷng, sá ướm hỏi đ̣i cơ Mă Tổ[163]

Vong tài đối sắc, ắt t́m cho phải thói Bàng Công[164].

Áng tư tài[165]tính sáng chẳng tham, há v́ ở canh diều Yên Tử;

Răn thanh sắc niềm đành chẳng chuyển, lo chi ngồi am Sạn[166] non Đông.

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu[167] hết sức;

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả[168] uổng công;

Nguyện mong thân cận minh sự, quả bồ đề[169] một đêm mà chín;

Phúc gặp t́nh cờ tri thức, hoa ưu đàm[170] mấy kiếp đơm bông.

Đệ Tứ Hội

Tin xem:

Miền cốc[171] một ḷng,

Thời rồi mọi hoặc.

Chuyển tam độc[172] mới chứng tam thân[173];

Đoạn lục căn[174] nên trừ lục tặc[175]

T́m đường hoán cốt, chỉn xá hay phục được luyện đan;

Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc[176]

Biết Chân như[177] tin Bát nhă[178] chớ c̣n t́m Phật tổ tây đông;

Chứng thực tướng[179] ngộ vô vi[180], nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc.

Xem Tam tạng[181], giáo, ắt học đ̣i thiền uyển thanh qui[182];

Đốt ngũ phần hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiên bặc[183].

Tích nhân nghĩa, tụ đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca;[184]

Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ḷng là Di lặc[185].

Đệ Ngũ Hội

Vậy mới hay:

Bụt ở cung nhà[186], chẳng phải t́m xa.

Nhân khuy bản[187] nên ta t́m Bụt;

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta.

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhăng[188] trong quê Hà Hữu[189].

Kinh xem ba bận, ngồi nghe với quốc Tân La[190]

Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan [191] đà đột lần trường kinh cửa Tổ;

Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.

Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyện cho thân cận;

Ân Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đà xa[192].

Áo miễn[193] chăn đầm ấm qua mùa, hoặc kim hoặc chỉ;

Cơm cùng cháo đói no đ̣i bữa, dù bạc dù thoa[194].

Ngăn bát thức[195], nén bát phong[196] càng đè càng bội[197];

Rẽ tam huyền[198], nong tam yếu[199], một cắt một ma[200].

Cầm vốn thiếu huyền, sá đàn dấu xoang vô sinh khúc[201];

Địch nguyên chẳng lỗ, cũng phím chơi xướng thái b́nh ca[202].

Rẽ cỗi t́m cành, c̣n khá tiếc. Câu Chi trưởng lăo[203];

Khuấy đầu chớp bóng, ắt kham cười Diễn Nhă Đạt Đa[204].

Lột quyển kim cương, há mặt hầu thông nên nóng[205];

Nuốt bồng lật cức, nào tay phải xước tượng da[206].

Đệ Lục Hội

Thực thay:

Hễ xá vô tâm,

Tự nhiên hợp đạo.

Dừng tam nghiệp[207] mới sáng thân tâm;

Đạt một ḷng thời thông tổ giáo,

Nhận văn giải nghĩa, lạc loài nên thiền khách bơ vơ;

Chứng lư tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo[208]

Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, thược sàng[209];

Hỏi đại thừa, hỏi tiểu thừa, thưa thảng tắt: ḷi tiền, tơ gáo[210].

Nhận biết lầu lầu ḷng bản, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên[211];

Chùi cho vằng vặc tính gương, nào có nhiễm căn trần huyên náo.

Vàng chửa hết quặng, xá tua chín phen đúc, chín phen rèn;

Lộc chẳng c̣n tham, miễn được một thời chay, một thời cháo.

Sạch giới ḷng, chùi giới tướng[212] nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm;

Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

Tham thiền kén bạn, nát thân ḿnh mới khá hồi ân;

Học đạo thờ thầy, dọi xương óc chửa thông của báo[213]

Đệ Thất Hội

Vậy mới hay:

Phép Bụt trọng thay,

Rèn mới cốc hay.

Vô minh hết, bồ đề thêm sáng;

Phiền năo rồi, đạo đức càng say.

Xem phỏng ḷng kinh, lời Bụt thuyết dễ cho thấy dấu;

Học đ̣i cơ tổ, sá thiền không khôn xét biết hay[214].

Cùng căn bản, tả trần duyên, mà để mỗ hào ly dương mắt[215];

Ngă thắng chàng, viên tri kiến, chửa cho c̣n họa giữ cong tay[216].

Vung lửa giác ngộ, đốt hoại bỏ rừng tà ngày trước;

Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thủa nay[217]

Vâng ơn thánh, lọt mẹ cha[218], thờ thầy học đạo;

Mến đức Cồ[219], kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.

Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyện cho thân cận;

Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.

Nghĩa hăy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem c̣n nên thảo;

Miệng rằng tin, ḷng lại lỗi, vàng ngọc thờ coi chửa hết ngay[220]

Đệ bát Hội

Chưng ấy:

Chỉn xá tua rèn[221],

Chớ nên tuyệt học.

Lơi ư thức chớ chấp trừng trừng[222];

Nén niềm vọng mà c̣n xông xốc[223].

Công danh màng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ;

Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc.

Dựng cầu đ̣, xây chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hăy tu;

Cương hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh ḷng hằng đọc[224].

Rèn ḷng làm bụt, chỉn xá tua một sức dùi mài;

Đăi cát thấy vàng, c̣n lại phải nhiều phen lựa lọc

Xem kinh đọc lục[225], làm cho bằng thửa thấy thửa hay;

Trọng Bụt tu thân, dụng mà lỗi một tơ một tóc[226].

Cũng nơi ngôn cú[227], chỉn chẳng hề một phút ngại lo;

Lật thửa cơ quan[228], mà c̣n để tăm hơi dột lọc[229].

Đệ Cửu Hội

Vậy cho hay:

Cơ quan tổ giáo,

Tuy khác nhiều đường,

Chẳng cách mấy gang[230].

Chỉn xá nói tự sau Mă Tổ;

Ắt đă quên thửa trước Tiêu Hoàng[231].

Công đức toàn vô, tính chấp si, càng thêm lỗi;

Khuếch nhiên bất thức, nghe ngu mắng, ắt c̣n vang[232].

Sinh Thiên trúc, chết Thiếu lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ[233];

Thân bồ đề, ḷng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang[234].

Vương lăo chém mèo, lại lẫy ḷng ngừa thủ tọa[235];

Thầy Hồ xua chó, trỏ xem trí nhẹ côn sàng[236].

Chợ Lư Lăng, gạo mát quá ư, chẳng cho mà cả[237];

Sở Thạch đầu, đá trơn hết sức, khôn đến thừa đương[238].

Phả táo cất cờ[239], đạp xuống dấu linh thần vật;

Câu Chi dời ngón, dùng đôi dép cũ ông ang [240]

Lưỡi gươm Lâm Tế , nạng Bí ma[241], trước nạp Tăng no dầu tự tại;

Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt lượm xá nghênh ngang[242]

Giơ phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẫn[243]

Xô ḥn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền ḥa chước móc khoe khoang[244].

Thuyền tử gia chèo ḍng xanh, chửa cho tiễn tẩy[245];

Đạo Ngô múa hốt càn ma, hoang thấy quái quàng[246].

Rồng Yển lăo[247] nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;

Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giương.

Cây bách là ḷng, thác ra trước phải phương Thái bạch;

Bính đinh thuộc hỏa, lại lỡ sau lỗi hướng thiên cương[248].

Trà Triệu lăo, bánh Thiều Dương[249], bầy thiền tử hăy c̣n đói khát;

Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu thất, chúng nạp Tăng những để lưu hoang[250]

Gieo  bó củi,[251] nảy bông đèn, nhân mang mới nát;

Đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.

Đệ Thập Hội

Tượng chúng ấy:

Cốc một chân không,

Dụng đ̣i căn khí.

Nhân ḷng ta vướng chấp không thông;

Há cơ tổ nay c̣n thừa bí[252].

Chúng tiểu thửa cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn bảo sở hóa thành;

Đấng thượng sĩ, chứng thực mà nên, ai chia có sơn lâm thành thị[253].

Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dât sĩ tiêu dao;

Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí.

Ngựa cao tán cả, diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;

Gác ngọc lầu vàng, ngục tối thiểu chi người yêu quí[254].

Chẳng công danh, luông[255] nhân ngă, thực ấy phàm ngu;

Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí.

Mày ngang, mũi dọc, tướng tuy lạ, xem ắt bằng nhiều;

Mặt thánh, ḷng phàm, thực cách nhẫn muôn muôn thiên lư[256].

Kệ Vân[257]

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc san hề, khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn thiền. (*)

 

(Cơi trần vui đạo, hăy tùy duyên,

đói cứ ăn no, mệt ngủ yên.

Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm.

Vô tâm trước cảnh, hỏi ǵ Thiền)

- Huệ Chi dịch-

(*) Bản phiên âm và chú thích dẫn theo sách Hợp Tuyển Thơ Văn Việt nam, thế kỷ X – thế kỷ XVII.

 


[131] "Vua Anh Tông thấy thượng hoàng tu khổ hạnh, trèo đèo leo núi vất vả, trong ḷng không yên, thường kiếm cớ ngăn trở, nhưng ngài cương quyết không bỏ.

Tháng 8 năm Hưng Long thứ 9 (1301) Anh Tông sai ngự sử Đoàn Nhữ Hài lên núi Yên Tử đón thượng hoàng về Tức Mặc dự lễ giỗ đầu đức Hưng Đạo Đại Vương. Giỗ xong, vua tâu xin ngài đi chơi nước Chiêm Thành xem chỗ Đức Phật Nam Hải Quán Âm giáng sinh và phong cảnh nước Chiêm. Ngài bằng ḷng.

Tương truyền: "Cách đây khoảng 1.200 năm, đời vua Thuận Đế nhà Đông Hán, Đức Phật Nam Hải Quán Âm giáng sinh làm con gái vua Trang Vương nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), di tích c̣n lưu lại ở thành Phật Thệ.

Tháng 9 năm ấy, vua sai nhân huệ vương Trần Khánh Dư, ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài, tướng quân Phạm Ngũ Lăo đem ba ngh́n quân ngự lâm hộ giá thượng hoàng sang du ngoạn nước Chiêm. Vua Chiêm Thành Chế mân tiếp được sắc thư vua ta, sai các quan văn vơ đưa binh sĩ nghi tượng ra giáp giới đón. C̣n vua Chiêm thân đón ở thành Phật Thệ. Thượng hoàng đi gần hai tháng đến thành Trà Kiệu, vua Chiêm nghinh tiếp hết sức cung kính tôn nghiêm.

Hơn hai tháng ở nước Chiêm, thượng hoàng đi xem khắp mọi chùa chiền, nơi cổ tích Phật Nam Hải Quán Âm, các tháp cổ và phong cảnh kinh đô. Ngài đi từ Trà Kiệu tới Trà Bàn, qua xem tháp Mỹ Sơn, tháp Chùa, tháp Chợ và khảo cứu Phật tích suốt 72 tháp Đông Dương.

Thành Đồ Bàn dựng từ thế kỷ thứ 9, chu vi tám dặm, ra vào có 9 cửa, chung quanh xây bao thành gạch. trong có những cung điện hùng vĩ đều quay mặt hướng Nam. Lại có tám ngôi chùa rất lớn và những tháp cao chót vót. Chùa chính có tượng Đức Phật Nam Hải Quán Âm ngh́n mắt ngh́n tay, tượng Văn Thù cưỡi sư tử xanh, tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng tạc bằng đá quư. Phía sau kinh thành có sông bao bọc chảy thông ra biển.

Khi thượng hoàng từ biệt Chiêm Thành, cảm ḷng người Chiêm tiếp đón long trọng, ngài hứa gả công chúa Huyền Trân là con gái út cho Chế Mân để t́nh ban giao hai nước thêm bền hặt. Chế Mân lạy tạ cảm ơn, sai các quan đi tiễn đến tận biên giới."

                           (Sự Tích Trúc Lâm Tam Tổ, Đỗ Trọng Huề,

                             Tạp chí vạn Hạnh số 19, 20).

[132] Trong kinh "Những Điều Phật Dạy", nguyên bản chữ Hán: Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh.

Điều thứ ba.

Đức Phật dạy rằng: Chúng sinh có mười (10) việc Thiện và mười (10) việc ác. Những ǵ là mười? Đó là: Ba thuộc về Thân, bốn thuộc về khẩu, ba thuộc về ư.

Ba việc thuộc về thân là: giết hại, trộm cắp, tà dâm.

Bốn việc thuộc về khẩu là: nói lời chia rẽ, nói độc ác, nói giận dữ, nói thêu dệt.

Ba việc thuộc về ư là: Tham lam, giận dữ, si mê.

Mười việc làm ấy không thuận theo thánh đạo nên gọi là ác.

Mười việc làm ấy chấm dứt, gọi là Thiện.

[133] Tám chữ: "Sinh diệt diệt dĩ,

                      Tịch diệt vi lạc"

(Sinh và diệt đă chấm dứt, đó là sự vắng lặng an vui của Niết Bàn).

Kinh Đại Niết Bàn, phẩm Thanh Hạnh, dẫn tích Bồ Tát Tuyết Sơn hy sinh tính mạng cho quỷ la Sát ăn thịt để xin được gnhe hai câu sau của bài kệ, tức hai câu "Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc".

Trong bộ Thủy Lục Toàn Khoa có câu "Trượng bán ngôn nhi tam chướng tiêu trừ, bằng tứ cú nhi lục trần thanh tịnh". Dưới đây là toàn bài kệ (4 câu):

"Chư hành vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc".

[134] Sách Tam Tổ Thực Lục chép: "Năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, tôn giả Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trụ tŕ chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở Tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Điều ngự Giác Hoàng đưa Pháp Loa vào lạy ở Tổ đường, xong cùng xuống trai đường để ăn điểm tâm sáng. Xong buổi tiểu thực, nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường: lúc đó vua Anh Tông đă ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách phân xong, mọi người cùng ngồi. Vua Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách ở pháp đường; quốc phụ Thượng Tổ (tức huệ vơ vương Quốc Chấn) cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Điều Ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong Điều ngự rời pháp ṭa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp ṭa ấy, rồi đứng chắp tay đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau khi Pháp Loa đáp bái lại. Điều Ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Điều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục (1) một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Điều Ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử, và chùa Siêu Loại ủy cho Tôn giả Pháp Loa kế thế trụ tŕ, làm vị tổ thứ hai phái Trúc Lâm" (dẫn theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Tập I, trang 342, 343).

Sách Tam Tổ Thực Lục chép: "Năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, tôn giả Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trụ tŕ chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở Tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Điều ngự Giác Hoàng đưa Pháp Loa vào lạy ở Tổ đường, xong cùng xuống trai đường để ăn điểm tâm sáng. Xong buổi tiểu thực, nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường: lúc đó vua Anh Tông đă ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách phân xong, mọi người cùng ngồi. Vua Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách ở pháp đường; quốc phụ Thượng Tổ (tức huệ vơ vương Quốc Chấn) cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Điều Ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong Điều ngự rời pháp ṭa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp ṭa ấy, rồi đứng chắp tay đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau khi Pháp Loa đáp bái lại. Điều Ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Điều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục (1) một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Điều Ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử, và chùa Siêu Loại ủy cho Tôn giả Pháp Loa kế thế trụ tŕ, làm vị tổ thứ hai phái Trúc Lâm" (dẫn theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Tập I, trang 342, 343).

[135] Giác Hoàng tịch cùng một ngày với Công chúa Thiên Thụy.

[136] Tháp chùa Phổ Minh xây năm 1310 theo lệnh của vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) để chứa một phần tro xương của Trần Nhân Tông.

Tháp này rất đáng được nghiên cứu về phương diện kiến trúc và về mục đích của kiến trúc tôn giáo, v́ đó là tháp duy nhất tại Việt Nam được xây cất để chứa tro xương của một vị đế vương. Chắc là v́ khi Thượng hoàng Nhân Tông băng th́ v́ ngài không là vua nữa mà chỉ là một tu sĩ nên mới dựng tháp của Phật giáo để làm lăng một vị vua.

[137] Nghiêm Thẩm, Tháp Chùa Phổ Minh, Vạn Hạnh số đặc biệt về thành đạo và xuân đinh vị – 1967.

[138] Cư Trần Lạc Đạo Phú: bài phú về cảnh sống ở cơi bụi mà vẫn vui v́ lẽ đạo. Bài phú này được lưu hành ở nhà chùa và trải qua nhiều lần sao đi in lại, chắc là không c̣n giữ được đúng nguyên bản đời Trần.

Trong bản in năm Bảo Đại thứ bảy (1932), bài phú này để liền sau bài Thiền Tông Bản Hạnh.

[139] Thập Hội Dụng Diễn ra quốc Ngữ Phú: bài phú gồm mười đoạn, dùng tiếng nước nhà diễn thành lời ca.

[140] Nết Dụng Sơn Lâm: dụng là công dụng, tác dụng; nết dụng sơn lâm nghĩa là tính nết như là chịu tác dụng của cảnh an tĩnh của núi rừng.