|

HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
(1909 - 1984)
Sơ
lược tiểu sử
Hòa thượng họ Nguyễn, húy
Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu
Thích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày
01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên,
tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (Nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu
Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ
Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con
trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào
học kinh kệ ở chùa Hải Đức - Huế.
- Năm 1926, khi được 17 tuổi,
Ngài thực thụ xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Viên Thành tại chùa Tra
Am ở Huế. Năm Ngài 20 tuổi (1929), được Bổn sư cho vào thọ giới Cụ Túc
(Tỳ Kheo) tại Đại giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng. Cũng vừa năm đó, Bổn
sư của Ngài là Hòa thượng Viên Thành viên tịch. Ngài ở lại chùa Tra Am
hai năm để thọ tang. Năm 1932, Ngài vào học tại Phật học đường Trúc Lâm
do Hòa thượng Giác Tiên thành lập.
- Trong thời gian theo học
tại Phật học đường Trúc Lâm, gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo khởi
phát ở miền Trung, Ngài tích cực tham gia, cùng với các pháp lữ khác góp
phần rất lớn. Ngài đã từng làm giáo thọ, dạy ở trường Phật Học Phổ
Thiên, Đà Nẵng.
- Cuối năm 1934, Ngài trở ra
Huế, cùng các pháp lữ ngày trước tổ chức trường Phật học ở chùa Tây
Thiên.
- Năm 29 tuổi (1938), sau khi
tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, Ngài được sơn môn cử về trú trì Tổ
đình Ba La Mật.
- Năm 1939, Ni trường chùa Từ
Đàm được thành lập. Đây là cơ sở và khởi duyên Ni bộ đầu tiên được hình
thành trong cả nước. Sơn môn và hội Phật học giao cho Ngài đặc trách
việc đào tạo Ni chúng.
- Năm 1942, Ngài được Giáo
Hội Tăng Già Thừa Thiên bổ nhiệm trú trì chùa Báo Quốc.
- Năm 1944, các lớp Đại,
Trung và Tiểu học của trường Sơn Môn Phật Học được dời về chùa Linh
Quang, Ngài được sơn môn Tăng Già giao phó nhiệm vụ Giám viện kiêm trú
trì chùa.
- Cuối năm 1945, chiến tranh
Việt - Pháp lại bùng nổ sau cuộc Cách Mạng Tháng Tám giành độc lập cho
nước nhà, Ngài đã cùng một số vị khác thành lập hội Phật Giáo Cứu Quốc
Trung bộ và Thừa Thiên, và cho người đi khắp các tỉnh thành lập hội Phật
Giáo Cứu Quốc tại tỉnh.
- Vào năm 1946, chiến sự xảy
ra ngay tại thành phố Huế, nên Sơn Môn Tăng Già Thừa Thiên quyết định
dời trường sơn môn Phật Học về chùa Báo Quốc, Ngài bàn giao nhiệm vụ trú
trì chùa Linh Quang lại cho Hòa thượng Mật Nguyện.
- Năm 1947, mặt trận Huế vỡ,
cảnh tang thương, chết chóc diễn ra khắp thành thị đến nông thôn. Những
Tăng tín đồ nào đã thực sự đứng trong hàng ngũ kháng chiến thì rút ra
chiến khu. Những ai còn trong nội thành thì tập hợp nhau tại các chùa để
cầu nguyện cho đất nước sớm thanh bình. Sau đó, các Phật sự được khôi
phục dần dần. Cuối năm đó, Ngài được giao nhiệm vụ mở lại Phật học đường
Trung Việt tại chùa Báo Quốc và tiếp tục làm Giám viện.
- Năm 1950, sau khi hội Việt
Nam Phật Học thành lập(1) được ba năm, Ngài được đại hội thường niên bầu
làm Hội trưởng thay cho cư sĩ Chơn An - Lê văn Định. Từ ngày có phong
trào chấn hưng Phật giáo tại Trung Việt năm 1932, đây là lần đầu tiên
chức Hội trưởng thuộc về Tăng sĩ.
- Năm 1951, một đại hội gồm
51 đại biểu đại diện cho 6 tập đoàn Phật giáo, cả ba miền Nam, Trung,
Bắc họp tại chùa Từ Đàm ngày 06 tháng 5 dương lịch, đã quyết nghị thành
lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của hàng
Tăng sĩ và cư sĩ đã từng ước ao thống nhất Phật giáo Việt Nam.
- Năm 1952, trong chức vụ Ủy
viên Hoằng pháp của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, Ngài đã đặt viên đá
cho ngôi trường Trung, Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên của hội tại thành
nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Đề từ bậc Tiểu học đến bậc Trung học
được lần lượt mở ở các tỉnh hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài gòn.
- Năm 1956, Đại hội kỳ II của
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam họp tại chùa Phước Hòa (Sài gòn), Ngài được
bầu làm Ủy viên Giáo dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang
được thành lập tại chùa Hải Đức trên núi Trại Thủy, Ngài được giao nhiệm
vụ Giám viện.
- Để có thêm tài chính yểm
trợ ẩm thực cho Tăng sinh, Ngài đã cử một số học Tăng vào Sài Gòn học
riêng khoa chế biến nước tương là một món ăn chay rất cần thiết và phổ
biến trong các chùa và dân gian mà nhu cầu hàng ngày rất lớn. Khi số học
Tăng này trở về, Ngài cho thành lập xưởng chế biến nước tương đóng chai,
lấy hiệu “Lá Bồ Đề” cung cấp cho thị trường khắp Trung phần và Cao
nguyên.
- Phật học viện Nha Trang chỉ
đào tạo Tăng sinh đến bậc Trung học, sau đó họ phải vào Sài Gòn theo học
bậc Đại học. Để giúp đỡ số Tăng sinh này có nơi ăn ở đi học mà vẫn giữ
được nếp sinh hoạt thiền môn, năm 1960 Ban Quản Trị ủy cho Ngài vào Sài
Gòn mua một sở đất (nay ở đường Lê Quang Định) tại xã Hạnh Thông, quận
Gò Vấp, xây dựng tu viện Quảng Hương Già Lam. Nơi đây cũng là trú sở của
Ngài sau năm 1963 cho tới ngày viên tịch.
-
Năm 1962, Ngài dẫn đầu phái
đoàn Phật Giáo miền Nam tham dự Đại lễ thế giới Phật lịch 2500- ngày Đức
Phật nhập Niết Bàn tại thủ
đô Vientaine Lào.
-
Năm 1963, sự kỳ thị tôn giáo
xảy ra dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngài trở về Huế cùng chư Tăng
lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo.
Ngài bị bắt giam và đưa vào Sài Gòn. Khi trung tâm đầu não của cuộc đấu
tranh chuyển từ Huế vào Sài gòn, Ngài lại tích cực tham gia. Sau khi
chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất
ra đời, Ngài được cử vào Ban Dự thảo hiến chương và sau đó được bầu vào
chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp, kiêm Tổng vụ Tài chánh. Với
trách vụ này Ngài đã tổ chức được ba cuộc hội nghị hoằng pháp (tại Phật
học viện Nha Trang, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang), thành lập đoàn giảng sư
phân công tới các địa phương thuyết giảng Phật pháp, và thành lập thêm
được Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng.
- Năm 1964, Ngài làm Viện
trưởng viện Cao Đẳng Phật học đặt tại chùa Pháp Hội, tiền thân của Viện
Đại Học Phật giáo Vạn Hạnh, Ngài còn chủ trương xuất bản các tập san Tin
Phật, Bát Nhã để hỗ trợ cho công tác hoằng pháp.
- Năm 1965, Ngài đi hành
hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Hồng Kông, đồng thời để mở rộng sự giao thiệp với các tổ chức Phật giáo
tại các nước này trên đường phụng sự Phật pháp.
- Năm 1969, Ngài được Hội
đồng Lưỡng viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong pháp vị
Hòa thượng. Cùng năm này, Ngài khai Đại giới đàn tại Phật học viện Nha
Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu Tổ đình Báo Quốc-Huế. Năm 1970 Ngài mở
lớp Trung đẳng II chuyên khoa tại Phật học viện Nha Trang, đến năm 1974
chuyển thành Viện Cao Đẳng Phật Học Nha Trang, Hòa thượng Thiện Siêu
được thỉnh cử làm Viện trưởng.
Trong Đại hội Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ 5 và kỳ 6, Ngài được giao trách nhiệm hết
sức quan trọng và nặng nề là Viện trưởng Viện Hóa Đạo để thay thế Hòa
thượng Thích Thiện Hoa vừa viên tịch. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của
đất nước cũng như Giáo Hội. Người lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo Hội
phải đủ nghị lực, can trường và sáng suốt mới đi đúng hướng, đúng đạo
pháp được. Đến năm 1975, Ngài lại phải gánh thêm một trách vụ nặng nề
nữa, là xử lý thường vụ Viện Tăng Thống. Năm 1976, Ngài mở Đại giới đàn
Quảng Đức ở chùa Ấn Quang và làm Đàn chủ.
- Năm 1980, Ngài khai Đại
giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang và Ngài làm Đàn chủ. Đây cũng là
Đại giới đàn cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và
cũng là giới đàn có số giới tử Tăng Ni đông nhất 1.500 người.
- Năm 1979, Ngài đã dẫn đầu
Đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ 5 (1979), lần
thứ 6 (1982) của Tổ chức Phật Giáo Châu Á Vì Hòa Bình (ABCP) họp tại
Mông Cổ. Năm 1980, Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Tôn Giáo Việt Nam dự
hội nghị các nhà Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và giải trừ quân bị,
chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, Ngài làm
trưởng đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động
Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ
chức tại Liên Xô.
- Năm 1983, Ngài tham dự hội
nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước Châu Á tổ chức tại
thủ đô Veintaine Lào. Cũng
năm này, Ngài được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt
Trận Tổ Quốc Việt Nam.
Ngày 02 tháng 3 năm Giáp Tý,
tức ngày 02 tháng 4 năm 1984, sau một cơn suy tim đột ngột, Ngài đã thâu
thần viên tịch tại Bệnh viện Thống Nhất, thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo.
Ngoài những đóng góp Phật sự
từ ngày xuất gia cho đến ngày lãnh các trọng trách trong Giáo hội, Hòa
thượng Thích Trí Thủ còn để lại cho hậu thế nhiều sáng tác, dịch phẩm có
giá trị, được thâu gọn trong bộ Tâm Như - Trí Thủ toàn tập.
Tác phẩm
Tâm Như - Trí Thủ toàn tập
1. Kinh,
2. Luật,
3. Luận
(1) Hội Việt Nam Phật Học vốn
là hậu thân của Hội An Nam Phật Học, thành lập năm 1948 đặt trụ sở tại
số 1B đường Nguyễn Hoàng - Huế.
|