I. QUÁCH AM H̉A-THƯỢNG

(Xin trích bản dịch bài tựa và lời dẫn của TUỆ SỸ )

TỰA

 

Chúng sanh vốn đă có sẵn cái nguồn suối chân tánh của chư Phật, nếu mê phải chịu trôi lăn trong tam giới, nếu ngộ tức khắc đă vượt ra ngoài cơi tứ sanh. Do đó, có kẻ th́ thành Phật, có hạng th́ làm chúng sanh.

Các bậc hiền triết xưa, với tấm ḷng thương yêu, đă bằng mọi cách dựng lên lắm đường đi. Về lư, th́ vượt những méo mó hay tṛn đầy, về giáo, nêu cao đốn hoặc tiệm. Từ thô sơ cho đến tinh tế, từ cạn cợt cho đến sâu sắc, cuối cùng trong một chớp mắt, đóa sen xanh đă gợi lên nụ cười chúm chím của đầu-đà (Ca-diếp). Chánh pháp nhăn tạng từ đó chảy cùng khắp thiên thượng nhân gian, cơi này và cơi khác. Ai nắm được lư của nó th́ siêu tông vượt cách như đường chim không vết tích. Ai chỉ nắm được sự của nó, tất lặn lội trong vũng ngôn từ, như con linh qui lết đuôi trong bùn lầy vậy.

Gần đây có Thanh Cư Thiền sư, Ngài quán sát căn khí của chúng sanh, theo bệnh mà cho thuốc, soạn những bức tranh chăn trâu, tùy cơ tŕnh bày giáo nghĩa. Từ buổi đầu, dần dần trắng, nêu rơ một lực lượng yếu kém. Lần hồi đến chỗ thuần chân, biểu trưng cho căn cơ đang tỏa dần. Cho tới lúc người trâu không c̣n thấy đâu nữa, đó là tiêu biểu cho yếu lư rằng tâm và pháp thảy đều quên hết và cũng tiêu biểu cho giáo pháp nói rằng đă thấu suốt căn nguyên rồi vậy. C̣n để lại cái nón lá, do đó khiến cho kẻ căn khí thấp kém ngờ vực, bực trung và bực hạ phân vân. Hoặc ngờ nó rơi vào cơi hư vô, hoặc cho là nó rớt vào cái thấp thường hữu.

Nay xét ra, Ngài Thiền sư phỏng theo mô phạm của các đấng tiền hiền, rút ra từ lưng túi của ḿnh làm mười bài thi tụng tuyệt tác, những luồng sáng giao nhau phản ảnh. Bắt đầu từ chỗ lạc mất, cuối cùng đến chỗ hoàn nguyên, khéo léo phù hợp với mọi lớp căn cơ, ḷng từ xa rộng cứu cơn đói khát. Do đó t́m ṭi diệu nghĩa, lượm lặc huyền vi, như kiếm đồ ăn cho sứa, làm mắt sáng cho loài cua biển. Bắt đầu từ việc t́m trâu, cho đến lúc đi vào chợ, thật như đất bằng sóng dậy, đầu bổng mọc thêm sừng. Tâm c̣n chẳng có để mà ṃ, th́ làm ǵ có trâu để phải kiếm. Đậu lại nơi chỗ vào chợ, sao mà quỉ quái thế? Thế là c̣n làm cho các ông không biết tai vạ con cháu chẳng biết đâu mà lường. Đây, tôi thử hoang đường soạn ra đề xướng.


 

THẬP MỤC NGƯU ĐỒ TỤNG

A - TỨ TUYỆT

1 - Tầm ngưu 尋牛

DẪN: Xưa nay đâu có mất, săn t́m chi? Bởi, quay lưng với giác mà thành ra lỏng lẻo, sấn bước vào trần nên mới bị mất đi. Từ đó quê hương càng lúc càng dịu vợi, mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đă cháy bừng bừng. Phải và quấy mọc lên tua tủa.

 

TỤNG

 

忙忙撥草去追尋

水闊山遙路更深

力盡神疲無覔處

但聞楓樹晚蟬吟

 

ÂM

 

Mang mang bát thảo khứ truy tầm,

Thủy khoátt sơn diêu lộ cánh thâm.

Lực tận thần b́ vô mích xứ,

Đăn văn phong thọ văn thiền ngâm.

 

NGHĨA

 

Bôn chôn vạch lá dơi t́m trâu,

Nước rộng non xa nẻo mịt mù.

Dạ mỏi sức ṃn không thấy dấu,

Rừng bàng ve réo bóng chiều sâu.

 

 

2 - Kiến tích 見跡

DẪN: Mổ KINH để thấy nghĩa, học GIÁO để t́m ra tung tích. Rơ, bao khí dụng chỉ một chất vàng, hết thảy tạo vật là chính ta cả.Chánh tà khỏi lựa, chân ngụy khỏi phân. Bởi chưa vào được cửa đó, nên mượn tiếng kêu là “thấy dấu”.

 

TỤNG

 

水邊林下跡偏多

芳草離披見也麽

縱是山深更深處

遼天鼻孔怎藏他

 

ÂM

 

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa,

Phương thảo li phi kiến dă ma.

Túng thị sơn thâm cánh thâm xứ,

Liêu thiên tỷ khổng tạc tàng tha.

 

NGHĨA

 

Mé nước ven rừng thấy dấu chân,

Cỏ non rài rạt rơ mười phân.

Non sâu dẫu cứ sâu sâu thẳm,

Mũi đụng trời sâu trốn được chăng?


 

 

3 - Kiến ngưu  見牛

DẪN: Theo tiếng mà vào, ghé mắt mà thấy. Cửa sáu căn tỏ rơ không nhầm! Ngay nơi động dụng rành rành hiển lộ. Chất mặn trong nước, chất xanh trong màu. Vén lông mày lên là nó chớ ai!

TỤNG

 

黄鸝枝上弌聲聲

日暖風和岸柳青

只此更無廻避處

森森頭角畫難成

 

ÂM

 

Hoàng li chi thượng nhất thanh thanh,

Nhật noăn phong ḥa ngạn liểu thanh.

Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ,

Sum sum đầu giác họa nan thành.

 

NGHĨA

 

Trên cành nghe tiếng, tiếng vàng anh,

Nắng ấm gió vèo rặng liểu xanh.

Chổ ấy trâu ơi! không trốn tránh,

Đầu sừng rậm rịt vẽ sao thành.


 

 

4 - Đắc ngưu  得牛

DẪN: Từ lâu vùi lấp ngoài đồng hoang, hôm nay đă gặp mi. Bởi cảnh đẹp nên khó ḷng đuổi, đắm say cỏ non măi măi không thôi. Cứng đầu c̣n quá lắm, tánh buông lung chưa hết. Muốn cho chịu khép mọi bề, cần cho roi vọt.

 

TỤNG

 

竭盡神通獲得渠

心强力壯卒難除

有時纔到高原上

又入雲煙深處居

 

ÂM

 

Kiệt tận thần thông họach đắc cừ ,

Tâm cường lực tráng tốt nan trừ.

Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng,

Hựu nhập vân yên thâm xứ cư.

 

NGHĨA

 

Được trâu chừng muốn cạn thần thông,

Trừ nết ngoan cuồng thật khó mong.

Thỉnh thoảng dắt lên g̣ nổng rộng,

Khói mây vời vợi lại buông lung


 

 

 

5 - Mục ngưu 牧牛

DẪN: Niệm trước vừa khởi, niệm sau tiếp theo. Bởi đă GIÁC nên thành CHÂN. Bởi tại MÊ hóa ra VỌNG. Chẳng phải do cảnh mà có, nhưng chính do tâm mà sinh. Xỏ mũi cùm đầu, không chần chờ ǵ nữa.

 

TỤNG

 

鞭索時時不離身

恐伊縱步入埃塵

相將牧得純和也

羈鎖無抑自逐人

 

ÂM

 

Tiên sách thời thời bất lị thân,

Khủng y túng bộ nhập ai trần.

Tương tương mục đắc thuần ḥa dă,

Cơ tỏa vô ức tự trục nhân.

 

NGHĨA

 

Roi dây mỗi lúc chẳng xa rời,

Cát bụi c̣n e chạy dập vùi.

Muốn được cho trâu thuần tánh xấu,

Khóa xiềng không ép cũng theo người.


 

 

 

6 - Kỵ ngưu quy gia 騎牛歸家

DẪN: Đă hết cuộc can qua, đă rồi câu được mất. Hát bài ca đồng của anh đốn củi, thổi diệu khúc quê của chú bé con. Vắt ḿnh trên trâu, mắt mở nh́n mây vời vợi. Kêu réo, không quay đầu! Kéo lôi, cũng chẳng dừng bước.

TỤNG

騎牛迤邐欲還家

羌笛聲聲送晚霞

弌拍弌歌無限意

知音向必鼓唇牙

 

ÂM

 

Kỵ ngưu dĩ lư dục hoàn gia,

Khương địch thanh thanh tống văng hà.

Nhất phách nhất ca vô hạn ư,

Tri âm hà tất cổ thần nha.

 

NGHĨA

 

Cưỡi trâu về lại nẻo đường quen,

Tiếng sáo đưa chiều ráng nhá nhem.

Mỗi phách mỗi ca vô hạn ư,

Tri âm hà tất nức lời khen.


 

 

7 - Vong ngưu tồn nhơn 忘牛存人

DẪN: Pháp không là pháp phân hai, mất trâu là tông chỉ. Mượn tiếng “bẩy thỏ” để dụ cho dị danh, lấy chữ “ḍ cá” để nêu cái sai biệt. Như vàng ṛng rút từ đống quặng, như trăng tỏ vén khỏi cụm mây. Một đạo hào quang qua khỏi kiếp uy âm vô thỉ.

 

TỤNG

 

騎牛已得到家山

牛也空兮人也閒

紅日三竿猶作梦

鞭繩空頓草堂間

 

ÂM

 

Kỵ ngưu dĩ đắc đáo gia san,

Ngưu dă khổng hề nhân dă nhàn.

Hồng nhật tam can do tác mộng,

Tiên thằng không đốn  thảo đường gian.

 

NGHĨA

 

Chân núi lưng trâu thoắt đến nhà,

Buôn trâu mất hút, chỉ c̣n ta.

Ba sào nắng chói c̣n ươm giấc,

Ném phứt roi thừng túp cổ xa.


 

 

 

8 - Nhơn ngưu câu vong 人牛俱忘

DẪN: Buông bỏ t́nh phàm th́ ư thánh cũng không. Chổ có PHẬT cũng không thèm rong chơi! Chổ không PHẬT cũng không thèm ngó lại. Không vướng đầu này hay đầu nọ, không liếc xéo nơi này hay nơi kia. Hằng trăm con chim ngậm hoa, thẹn sao là thẹn!

 

TỤNG

 

鞭索人牛盡屬空

碧天寥郭信難通

紅爐焰上爭容雪

到此方能合祖宗

 

ÂM

 

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không,

Bích thiên liêu quách tín nan thông.

Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết,

Đáo thử phương năng hợp tổ tông.

 

NGHĨA

 

Người, trâu, roi vọt thuộc không không,

Lặng lẽ trời xanh, tin khó thông.

Tuyết trắng đâu dung qua lửa đỏ,

Đến đây mới hợp cội nguồn chung.


 

 

 

9 - Phản bản hoàn nguyên 返本還源

DẪN: Bản lai thanh tịnh, không vướng một mảy trần, quán sát vẻ tươi và héo của những ǵ là hữu tướng an thân trong cảnh ngưng tịch của đạo vô vi. không đồng với huyễn hóa, cần ǵ phải tu, phải trị. Nước biếc non xanh, ngồi mà xem cuộc thành bại.

 

TỤNG

 

返本還源已費功

淨如直下若盲聾

奄中不見奄前物

水自茫茫花自紅

 

ÂM

 

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công,

Tịnh như trực hạ nhược manh lung.

Am trung bất kiến am tiền vật,

Thủy tự mang mang hoa tự hồng.

 

NGHĨA

 

Về nguồn lại cội uổng công thôi,

Nguồn cội trong ngần tựa điếc đui.

Trong viện ngoài am ǵ thấy nữa,

Hoa cười tươi thắm nước chơi vơi.


 

 

 

10 - Nhập triền thùy thủ 入廛垂手

DẪN: Khép cánh cửa gai, một ḿnh một bóng, dù thánh hiền vạn cổ cũng không hay. Chôn vùi cái văn vẻ của riêng ta, bỏ lại lối ṃn của cổ đức. Mang bầu vào chợ, chống gậy về nhà, hàng rượu hàng cá dạy cho thành Phật hết.

 

TỤNG

 

露洶洗足入廛來

扶土塗灰笑滿腮

不用神仙真秘決

直教枯木放花開

 

ÂM

 

Lộ hung tiễn túc nhập triền lai,

Pḥ thổ đồ khôi tiếu măng tai.

Bất dụng thần tiên chân bí quyết,

Trực giao khô mộc phóng hoa khai.

 

NGHĨA

 

Ngực trống chân truồng dạo chợ đời,

Bùn nhơ tro nhớp vẫn cười vui.

Thần tiên bí quyết ai cần hỏi,

Hoa nở chồi khô hỏi thử chơi.


 

B - LỤC BÁT

1 - T́m trâu

Nôn nao vạch cỏ rong t́m

Non xa nước rộng đường thêm mịt mờ

Sức ṃn dạ mơi thẩn thờ

Ve ngâm chiều xuống bơ phờ rừng phong

2 - Thấy dấu

Dấu chân mé núi ven sông

Cỏ thơm ràng rợp chừng trông nhặt đầy

Non sông cứ vẫn sâu dày

Trời sâu mũi cạn dấu mày được sao?

3 - Thấy trâu

Oanh vàng ca hót cành cao

Liểu xanh nắng ấm gió gào vi vu

Đây này thôi chạy đi đâu

Vẽ th́ khó vẽ sừng đầu rối tung.

4 - Được trâu

Được mày e kiệt thần thông

Tâm cường lực tráng khó ḥng trừ đi

G̣ cao thoảng tới đôi khi

Lại buông tánh cũ khói mây xa vời.

5 - Chăn trâu

Luôn luôn roi buộc chẳng rời

C̣n e tung vó vào nơi ai cầm

Chăng mày mong tánh cho thuần

Xích xiềng không ép cứ dần theo ta.

6 - Cưỡi trâu về nhà

Lưng trâu chầm chậm về nhà

Véo von tiếng sáo chiều đưa ráng hồng

Vui ca nhịp ư vô cùng

Tri âm hà tất nức ḷng khen chê.

7 - Quên trâu c̣n người

Gia sơn ta cỡi trâu về

Buông trâu mất hút một bề riêng vui

Nắng lên mộng cũng chơi vơi

Quăn roi lều cỏ thảnh thơi tất ḷng.

8 - Người trâu đều quên

Người trâu roi vọt đều không

Trời xanh vắng lặng tin thông khó cùng

Ai dung tuyết trắng lửa hồng

Đến đây nguồn cội tao phùng tổ tông .

9 - Lại cội về nguồn

Cội nguồn về lại phí công

Dường như đui điếc bởi ḷng linh minh

Trong am chẳng thấy ngoài thành

Hoa hồng vẫn thắm nước  xanh chảy dài.

10 - Vào chợ buông tay

Chân truồn ngực trống chợ đời

Bùn nhơ bụi nhớp nói cười say sưa

Thần  tiên bí quyết cũng thừa

Chồi khô hoa nở đong đưa nhụy vàng.

 

Tranh chan trau