II. CỰ TRIỆT THIỀN SƯ

THẬP MỤC NGƯU ĐỒ TỤNG

 

(Họa tranh trâu trắng, xin trích lời dẫn của TUỆ  SỸ)

A - TỨ TUYỆT

1 - Thất ngưu 失牛

DẪN: Trâu ở phía tây, mặt hướng về tây. Mục đồng ở phía đông, mặt hướng về đông.

 

TỤNG

 

牛尚牛兮童尚童

牛童背向各西東

纖塵不隔何霄壞

曠劫來今枉自懵

 

ÂM

 

Ngưu thượng ngưu hề, đồng thượng đồng,

Ngưu đồng bối hướng các đông tây.

Tiêm trần bất cánh hà tiêu nhưỡng,

Khóan kiếp lai kim uổng tự mông

 

NGHĨA

 

Trâu còn lưu lạc, trẻ còn đây,

Trâu hướng về đông, trẻ hướng tây.

Chẳng cách đất trời chừng mảy bụi,

Uổng công thao thức bấy xưa nay.

 


 

2 - Tầm ngưu 尋牛

DẪN:Chủ nhân hỏi trâu ở đâu? Mục đồng ngơ ngác. Lại có một người từ phía tây đi đến đưa tay chỉ về xa.

 

TỤNG

 

忽向山童問白牛

山童罔措不知求

傍人識得牛蹤跡

指點山童急轉頭

 

ÂM

 

Hốt hướng sơn đồng vấn bạch ngưu,

Sơn đồng võng thố bất tri cầu.

Bàng nhân thức đắc ngưu tung tích,

Chỉ điểm sơn đồng cấp chuyển đầu.

 

NGHĨA

 

Tìm trâu chộp hỏi thử sơn đồng,

Vắng bặc mù tăm luống hỏi mong.

Có kẻ quanh vùng nhìn biết dấu,

Chỉ đường quay gấp khỏi hoài công.

 


 

3 - Kiến tích 見跡

DẪN: Chú nhắm phía tây mà chạy. Thấy có nhiều dấu chân trâu trong đồng ruộng.

 

TỤNG

 

隄回陌轉向溪西

弌路深蹄間淺蹄

端的新知尋舊識

人牛到此两無迷

 

ÂM

 

Đề hồi mạch chuyển hướng khê tê,

Nhất lộ thâm đề gián thiển đề.

Đoan đích tân tri tầm cựu thức,

Nhân ngưu đáo thử lưỡng vô mê.

 

NGHĨA

 

Khe tây quanh quất dặm xa mù,

Một nẻo chập chồng mong cạn sâu.

Đoan đích mới tìm,  nhờ bạn cũ,

Người không lầm lộn dấu chân trâu.

 


 

4 - Kiến ngưu 見牛

DẪN: Trâu trắng nằm êm trong đồng ruộng. Đồng tử trông thấy vui mừng.

 

TỤNG

 

行盡山村過水村

草中忽見白牛蹲

欣欣穩步方輕快

喘息初調與細論

 

ÂM

 

Hành tận sơn thôn quá thủy  thôn,

Thảo trung hốt kiến bạch ngưu tôn.

Hân hân ổn bộ phương khinh khoái,

Suyển tức sơ điều dữ tế lôn.

 

NGHĨA

 

Làng mây xóm nước lội quanh quần,

Bổng thấy trâu đi vũng cỏ gần.

Rộn rã lòng mừng chân khấp khởi,

Nén hơi nhỏ nhẹ bắt đầu chăn.

 


 

5 - Đắc ngưu 得牛

DẪN: Trâu trắng từ từ đứng dậy, đồng tử vui vẻ, vuốt ve lưng nó.

 

TỤNG

 

跋踄溪山豈憚勞

白牛頓獲價彌高

快心乆別重相契

善撫從容喜伏弢

 

ÂM

 

Bạc thiệp sơn khê khởi đãn lao,

Bạch ngưu đốn họa ch giá di cao.

Khoái tâm cửu biệt trùng tương khế,

Thiện phủ thung dung hỉ phục thao.

 

NGHĨA

 

Lặng lội rừng khe há khổ lao,

Được trâu càng được giá thêm cao.

Xa lâu gặp lại mừng khôn xiết ,

Vui sướng thong dong vuốt ngọt ngào.

BIỆT CHÚ: 

-          Thao: Là cái đãy đựng cung. Chữ thao này đồng nghĩa với chữ 

-          Sở Cung Vương Triệu Dưỡng Do Cơ  bắn Lữ Kỳ hạng phục Thao.

-          Ở đây ý nói trâu đã tìm trúng đích và đã được hàng phục rồi một cách vui đẹp qua sự vỗ về ngon ngọt.


 

6 - Hộ ngưu 護牛

DẪN: Đồng tử rỗi rảnh ngồi trên tảng đá.Trâu trắng uống nước suối thích lòng.

 

TỤNG

 

牛適人閒卻瘐肥

風青月白乆忘飢

幽香野綠盈山谷

幾度朝暉映夕暉

 

ÂM

 

Ngưu thích nhân nhàn khước sấu phì,

Phong thanh nguyệt bạch cửu vong ky.

U hương dã lục doanh sơn cốc,

Kỷ độ triêu huy ảnh tịch huy.

 

NGHĨA

 

Trâu thích, người nhàn, mặt béo gầy,

Quên ăn chừng bởi gió trăng đầy.

Cỏ xanh hương đượm đầy sơn cốc,

Nắng sớm bao lần chói tịch huy.

 


 

7 - Kỵ ngưu 騎牛

DẪN: Bóng chiều gát núi, trâu trắng về rông. Mục đồng vắt vẻo trên lưng, thổi sáo làm vui.

 

TỤNG

 

放曠騎歸世所稀

柳絲鞭影任風揮

山童吹轍無生曲

笛韻餘暉入禁圍

 

ÂM

 

Phóng khoáng kị qui thế sở hy,

Liễu ti tiên ảnh nhậm phong huy.

Sơn đồng xuy triệt vô sinh khúc,

Địch vận dư huy nhập cấm vi.

 

NGHĨA

 

Phóng khoáng lưng trâu mấy ít nhiều,

Bóng roi tơ liễu gió điều hiêu.

Sơn đồng thổi réo vô sinh khúc,

Cửa cấm dư ba vận sáo chiều.


 

8 - Vong ngưu 忘牛

DẪN: Trăng sáng trên trời, mục đồng vỗ tay ca hát một mình.

 

TỤNG

 

白牯渾忘無剩蹤

踈狂牧子嘯呱峰

山河倒映蟾蜍轉

玉露冷冷光影重

 

ÂM

 

Bạch hổ hồn vong vô thặng tung,

Sơ cuồn mục tử tiếu cô phong.

Sơn hà đảo ảnh thiềm thư chuyển,

Ngọc lộ linh linh quang ảnh trùng.

 

NGHĨA

 

Quên lửng muôn nghìn dấu vết chân,

Mục đồng ngơ ngẩn gọi rừng sâu.

Non sông nghiên bóng trăng chênh chếch,

Trăng rụng sương rơi sáng điệp màu.

 


 

9 - Song mẫn 雙泯

DẪN: Người và trâu đều không thấy, chỉ có một vòng tròn.

 

TỤNG

 

樓閣重重彈指開

本無餘欠七般財

空傳五十三家醜

泯卻人牛大夢回

 

ÂM

 

Lâu các trùng trùng đàn chỉ khai,

Bản vô dư khiếm thất ban tài.

Không truyền ngũ thập tam gia xú,

Dẫn khước nhân ngưu đại mộng hồi.

 

NGHĨA

 

Khảy móng lầu đài mở chập chùng,

Thiếu dư bảy báu vốn là không.

Năm mươi ba nếp nhà hay dở,

Bừng tỉnh người trâu mộng viễn vông.

 

Biệt chú: Thiện Tài khi sinh ra thì bảy báu cùng lúc nhẫy đầy, tượng trưng con người cao sang nhất trong thiên hạ. Thiện Tài khi tham đến Bồ-tát Di-lặc, Ngài liền dắt Thiện Tài vào lầu Vaiconara-Quang minh biến chiếu - tức thời cánh cửu mở rộng khi đức Di-Lặc khảy móng tay. Thiện Tài bước vào một thế giới ánh sáng giao nhau trùng trùng vô tận.

Người chăn trâu lúc này cũng đã bước vào pháp giới vô tận. Rồi từ đó quay lại độ sanh như Bồ-tát vào cảnh chợ đời mà không ngại.

 

10 - Nhập triền 入廛

DẪN: Đồng tử đi trước, hướng về phía đông (vì là đang đi vào cõi sanh tử). Trâu trắng lẻo đẻo theo sau.

 

TỤNG

 

賣弄閒閒白牯牛

入廛垂手恣遨遊

同流九界慈風度

心佛眾生無別求

 

ÂM

 

Mãi lộng nhàn nhàn bạch hổ ngưu,

Nhập triền thủy thủ tứ ngao du.

Đồng lưu cửu giới từ phong độ,

Tâm phật chúng sanh vô biệt cầu.

 

NGHĨA

 

Đổi thử trâu đi chuốc lấy vui,

Thỏng tay vào chợ dạo rong chơi.

Gío Từ chín cõi tràn qua khắp,

Tâm, phật, chúng sanh chẳng tách rời.

 


 

B - LỤC BÁT

1 - Mất trâu

Chú trâu này chú nọ trâu,

Chú trâu hai ngã hai đầu tay đông.

Đất trời chẳng cách mảy hồng,

Trước nay luống uổng mõi lòng ngóng trông.

2 - Tìm trâu

Trâu đâu chợt hỏi sơn đồng,

Đó đây chẳng biết mịt mùng bâng quơ.

Người gần biết dấu tự giờ,

Chú mau trở gót thẩn thờ làm chi.

3 - Thấy dấu

Quanh co bờ cõi khe tây,

Móng chân chồng chập nẻo này cạn sâu.

Mới hay đầu mối từ lâu,

Đến đây thôi cả người trâu chẳng lầm.

4 - Thấy trâu

Thôn rừng xóm nước dạo tầm,

Bổng đâu thấp thóang trong chầm cỏ tươi.

Bước dồn nhẹ nhõm mừng vui,

Nén hơi nhỏ nhẹ mấy lời vuốt ve.

5 - Được trâu

Nhọc nhằn há lội sơn khê,

Được trâu càng được giá này thật cao.

Cách lâu mừng nỗi tương giao,

Vỗ về ngon ngọt xiết bao vui vầy.

6 - Giữ trâu

Người nhàn trâu mặc béo gầy,

Gió trăng quên đói đêm chầy ngày sang.

Cỏ xanh hương ngát đầy hang,

Bao phen nắng sớm chói chang bóng chiều.

7 - Cưỡi trâu

Lưng trâu đời được ít nhiều,

Bóng roi tơ liễu gió vèo lung linh.

Sơn đồng thổi  khúc vô sinh,

Chiều rơi cửa cấm vận thành nỉ non.

8 - Quên trâu

Quên trâu quên dấu chân bon,

Mục đồng ngơ ngẩn gọi hồn non xa.

Nước non nghiên, ánh trăng tà,

Trăng soi lai láng sương pha lạnh lùng.

9 - Vắng hết

Khảy tay lầu các chập chùng,

Ngọc vàng bảy báu vốn không thiếu thừa.

Năm mươi ba nếp đạo nhà,

Bừng lên tâm cảnh lại là mộng mê.

10 - Vào chợ

Chuốc vui đổi thử trâu đi,

Buông tay vào chợ vui say thỏa đời.

Gió Từ chín cõi thổi dài,

Chúng sanh tâm phật chẳng hoài tìm riêng.

 

Tranh chan trau