|
III.
CHU HOẰNG ĐẠI SƯ
TỰA TRANH CHĂN TRÂU
Kinh Di giáo nói: “Ví như chăn trâu, cầm roi xem chừng,
đừng để nó lung lăng, phạm vào giống mạ của mọi người”. Thế nên thuyết chăn trâu
khởi nguyên từ đó.
Nối tiếp là Đức Mă Tổ. Ngài hỏi Thạch Cũng: “Ông ở đây
làm ǵ?” Đáp: “Chăn trâu”. Lại hỏi: “Trâu sao phải chăn?” Đáp: “Mỗi khi nó chạy
vào đồng cỏ, th́ xỏ mũi nó kéo lại, thế là người chăn giỏi.”
Và, Ngài Đại Quy An, vốn ở Quy sơn có nói: “Tôi nương ở
Quy sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ có chăn một con trâu nước.”
Lại nữa, Ngài Bạch Vân Nghĩa Đoan thiền sư, vặn hỏi Quách
Công Phụ rằng: “Trâu đă thuần chưa?”
Tự ḿnh chăn hoặc dạy người khác chăn, xưa nay từng thấy
lũ lượt khá nhiều, thật là rơ ràng. Về sau mới có người vẽ ra bằng tranh. Bắt
đầu là chưa chăn, sau cùng cả hai đều mất hút, sắp đặt thành ra mười chặng. Và
trâu cũng theo thứ lớp, từ đen tới trắng, cho tới khi không c̣n màu trắng nào tả
nổi. Ngài Phổ Minh lại kèm theo mỗi bức tranh một bài thi tụng.
Phổ Minh chưa biết rơ là ai ? Tranh, tụng cũng không biết
có phải do tay của một người hay không. Nay không luận điều đó. Chỉ xét về
tranh, biểu tượng rất rơ ràng mà ư chỉ càng sâu sắc, về tụng th́ lời rất gần mà
ư lại xa. Người học giữ lấy làm bản đồ bên ḿnh để nhân đó mà xét soi đức hạnh
và đạo nghiệp của chính ḿnh. Cúi xuống th́ xét chổ đă thành đạt. Ngửa lên th́
trông mong chỗ chưa tới nơi, hầu khỏi bị mắt chứng được ít cho là đủ, sa đọa vào
chổ kiêu mạn tăng thượng. Như thế giúp ích rất nhiều vậy.
Tôi liền sao lục và cho đúc lại các bản gỗ. Ngoài ra, c̣n
có mười bức tranh khác cũng bắt đầu từ đề “T́m trâu” đến đề “Nhập triền”, nên
cùng với bản này th́ đồng nhiều và khác ít. Và cứ theo sự phân biệt của giáo
điển về thứ lớp tiến tu, để có thể so sánh mà hiểu biết, tôi đều cho phụ đính
vào cuối sách hầu giúp cho sự tham khảo được dể dàng.
Nếu như ai là kẻ một phen vượt lên là vào thẳng, không
phiền đến roi vọt mà trâu trắng phơi ḿnh trên mặt đất sờ sờ, không rơi theo cấp
bậc, chỉ trong tích tắc th́ năng và sở đều dứt hết. Thế th́ tranh vẽ trở thành
của bỏ, thi tụng cũng thành lời dư. Bậc ấy xem qua, chắc phải phát cười một trận
về tôi không giới hạn vậy.
Niên hiệu Vạn lịch năm Kỷ-dậu, ngày Phật đản sanh.
Hậu học Thích Chu Hoằng kính viết lời tựa.
I.
MƯỜI TRANH KHÁC VỚI NHỮNG ĐỀ KHÁC
1)
T́m trâu
2)
Thấy dấu
3)
Thấy trâu
4)
Được trâu
5)
Chăn trâu
6)
Cỡi trâu
7)
C̣n người
8)
Quên trâu
9)
Về nguồn
10)
Vào chợ
Đối với tranh đề trước th́ đầu thiếu “Chưa chăn” cuối
thêm “vào chợ”.Tranh trước th́ trước “ Quên trâu”sau “C̣n người”. Đây th́ trước
“C̣n người” sau “Quên trâu”. Cho nên nói khác ít đống nhiều, nhưng vẫn lấy đồ
trước làm chính thức.
II.
TÙY THUẬN CỦA KINH VIÊN GIÁC
1)
Giác tánh chưa tùy thuận.
2)
Giác tánh phàm phu tùy thuận.
3)
Giác tánh nhị thừa tùy thuận.
4)
Giác tánh chưa nhập địa tùy thuận.
5)
Giác tánh đă nhập địa tùy thuận.
6)
Giác tánh Như lai tùy thuận.
Đối với tranh đề trước có thể ư hội bằng cách lấy “chưa
tùy thuận” phối hợp với “chưa chăn”, lấy “Như lai tùy thuận” phối hợp với “song
dẫn-vắng hết cả hai”
III.
LY NHIỄM CỦA LUẬN KHỞI TÍN
1)
Chưa ly nhiễm.
2)
Chấp tương ưng nhiễm, tín tương ưng địa ly.
3)
Bất đoạn tương ưng nhiễm, tịnh tâm địa ly.
4)
Phân biệt trí tương ưng nhiễm, vô tướng phương tiện địa ly.
5)
Hiện sắc bất tương ưng nhiễm, sắc tự tại địa ly.
6)
Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm, tâm tự tại địa ly.
7)
Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm, Như lai địa ly.
Đối với tranh đề trước có thể ư hội và phối nhập “chưa
ly nhiễm” với “chưa chăn” và “Như lai địa’” với “vắng hết”.
IV.
Lục tức của Thiên thai tông
1)
Lư tức Phật.
2)
Danh tự tức Phật.
3)
Quán hạnh tức Phật.
4)
Tương tợ tức Phật.
5)
Phần chơn tức Phật.
6)
Cứu kính tức Phật.
Đối với tranh đề trước có thể ư hội bằng cách phối nhập
“lư tức” với “chưa chăn” và “cứu kính tức” với “song
dẫn”. Ngoài ra, các kinh luận cũng c̣n
nhiều v́ sợ phiền không lục.
|