|
(1)
rước hết hăy nói về văn bản. Văn bản Mục ngưu đồ, trong khi tôi viết những lời này th́ có những thứ sau đây. A. Mục ngưu đồ. Sau đây tôi sẽ gọi tắt là bản A. văn bản này được ngài Chu Hoằng (Liên tŕ) đề tựa, và khắc in năm 1585. Hội Phật học Huế khắc in lại năm 1933. Nội dung rất đơn giản mà đầy đủ. Sau lời tựa của ngài Chu Hoằng là 10 bài tụng chăn trâu được ghi là của ngài Phổ Minh. Kèm theo 10 bài tụng là 10 tranh vẽ mà sau đây tôi gọi tắt là bộ 1. Văn bản A c̣n ghi tên 10 tranh vẽ khác nữa mà tôi sẽ gọi tắt là bộ 2. Văn bản A lại nói bộ 1 có thể hội ư với 6 tùy thuận giác tánh của Viên giác, với 7 ly nhiễm của Khởi tín, với 6 tức Phật của Thiên thai. Sau hết, văn bản A có lời bạt của Đái (?) viết năm 1852, cho biết Ḥa thượng Thanh Cư có 12 tranh vẽ nữa mà sau đây tôi sẽ gọi tắt là bộ 3. Hội Phật học Huế sau khi khắc in văn bản A, c̣n làm 2 việc. Một là in bộ 1 vào bằng cấp của hội. Hai là viết 1 bài Pháp văn đăng trong tạp chí Viên âm số 7 của hội nói về Mục ngưu đồ. Bài này có in bộ 2 trước và bộ 1 sau, đều trích bản cổ. B. Đại tạng kinh của Trung Hoa, tập 2, các trang 37557-37594, gồm có 2 tiểu phẩm mà sau đây tôi sẽ gọi tắt là văn bản B. C. Tục tạng kinh bản chữ Vạn, tập 113 các tờ 459-473, gồm có 3 tiểu phẩm mà sâu đây tôi sẽ gọi tắt là văn bản C. Các văn bản B và C trên đây tuy thứ tự không đồng mà nội dung gần giống nhau. Trước hết nói 10 tụng và tranh của ngài Phổ minh, kèm theo là các bài họa lại của nhiều tác giả. Rồi nói riêng về bộ 2. D. Phật học đại từ điển của Đinh Phúc Bảo, trang 219-220, mà tôi sẽ gọi tắt là văn bản D. Ở đó nói 10 tranh là nói bộ 2. Lại nói xuất xứ của Mục ngưu đồ là kinh A hàm nói 12 cách chăn trâu ḅ, luận trí độ nói 11 cách, và Thiền tông có công án trâu. Công án trâu tôi chưa rơ xuất xứ. Mười một cách chăn trâu của luận Trí độ hiện tôi chưa kịp tra luận ấy. Mười hai cách chăn trâu của kinh A hàm, tra ra là 11 cách trong Tăng nhất A hàm (Đại tạng kinh bản Đại chánh, tập 2, trang 791; văn bản D trang 179 lược thuật lại). Theo đó, tỳ-kheo phải biết 11 pháp, như chăn trâu ḅ phải biết 11 cách, mới được nhiều sự lợi ích. C̣n sự chăn trâu th́ Thiền tông hay nói thí dụ thiền sư Đại An tự kể rằng: “30 năm nay tôi ở Quy sơn này chỉ chăn con trâu. Trâu đi lạc, tôi kéo nó lại. Trâu ăn lúa của người, tôi đánh. Lâu ngày như vậy thật đáng thương. Nhưng nay th́ trâu đă trắng, cả này sờ sờ trước mắt, đuổi cũng không đi.” Đ. Thập mục ngưu đồ tụng luận giải của thiền sư Quảng Trí, VN, nội dung luận giải về bộ 1, ngữ khí và lư lẽ khích lệ nhiều hơn luận giải học lư. Văn bản này cũng có bộ 1, nhưng trên mỗi tranh có thêm 1 tranh nữa, nên tôi sẽ gọi tắt là bộ 4. E. Ngoài ra, Tranh chăn trâu của Trúc Thiên và Tuệ Sĩ viết về bộ 1 và bộ 2; Tranh chăn trâu của Thanh Từ cũng vậy. Nội dung 2 văn bản này đắc thất khá nhiều. G. Sau hết là Tranh chăn trâu của Kế Châu. Văn bản này nên nói. Trước hết Ḥa thượng Kế Châu nguyên là bạn học của tôi, đưa bản thảo của văn bản này nhờ tôi duyệt và giới thiệu. Bài Nói sơ lược về Mục ngưu đồ tôi viết đây chính là giới thiệu ấy. Văn bản này tôi sẽ gọi tắt là văn bản G. Nội dung gồm có trích lục tụng và tranh bộ 2, trích lục tụng và tranh 1 bộ nữa mà tôi gọi tắt là bộ 5, lại trích lục tranh bộ 1. Nhưng quan trọng hơn hết là viết 10 tụng riêng kèm với 10 tranh của bộ 1, lại dịch âm và dịch nghĩa theo đường luật nguyên tụng của bộ 2, bộ 5, bộ 1, và 10 tụng riêng nói trên, rồi dịch lại bằng thể lục bát tất cả 40 bài tụng ấy. Giá trị của văn bản G nên xét ở phần này.
(2) Hăy nói về tác giả của 5 bộ tranh đă nói trong các văn bản trên. Trước hết, bộ 1, tuy lời tựa của ngài Chu Hoằng nói không rơ cả tụng và tranh có phải xuất xứ từ ngài Phổ Minh hay không, và ngài là ai cũng chưa rơ. Nhưng theo Như Niệm Không (văn bản B trang 37557 và văn bản C tờ 463a) th́ có thể nói chắc là của ngài Phổ Minh, tên gọi theo chùa. Tại đó, năm 1662, đă t́m ra và ấn hành nguyên tụng và tất cả họa tụng của bộ 1. Kế đến, bộ 2, theo văn bản D, có thuyết nói tác giả là thiền sư Quách Am, có thuyết nói là thiền sư Thanh Cư. C̣n văn bản C (tờ 459a) nói tranh là của thiền sư Thanh Cư, tụng là của thiền sư Tắc Công. Nhưng văn bản B (trang 37589) nói lời dẫn và nguyên tụng là của Viễn Nguyên. Kế đến nữa, bộ 3, theo văn bản A (tờ 16a) th́ nói Ḥa thượng Thanh Cư thuật Mục ngưu đồ có các tranh 10, 11, và 12. C̣n bộ 4 th́ chỉ là bộ 1, nhưng trên 10 tranh thêm 10 tranh nữa. Đến như bộ 5 th́ tranh và tụng không thấy trong các văn bản A, B, C và D. Chỉ thấy văn bản G có tranh, và thấy văn bản C (tờ 470b) có thiền sư Cự Triệt, sau khi họa tụng bộ 1, c̣n có 10 bài gọi là họa tụng tranh trâu trắng, mỗi bài đều có tiêu đề và lời ghi. Nói tóm, như vậy, trong những văn bản trên, Mục ngưu đồ bộ 1 có tác giả; trừ văn bản C và D, có tranh trong tất cả văn bản, riêng văn bản A và B có đến 2 bộ; có nguyên tụng và rất nhiều họa tụng. Bộ 2 cũng có tác giả, có tranh, có nguyên tụng và họa tụng. Bộ 3 th́ có tác giả mà không thấy có tranh và tụng. Bộ 4 th́ thiền sư Quảng Trí thêm 10 tranh trên bộ 1. C̣n lại bộ 5 th́ tranh chỉ thấy trong văn bản G, nhưng nguyên tụng không có, chỉ có họa tụng mà thôi.
(3) Nay hăy nói h́nh thức và ư nghĩa của các bộ Mục ngưu đồ. Nói tổng quát, 5 bộ Mục ngưu đồ đều nói về sự tu tâm. Tâm như trâu. Bản thân người tu tâm là kẻ chăn trâu. Chăn bằng giới định tuệ. Trừ nguyên tụng của bộ 1, tất cả nguyên tụng và họa tụng của các bộ khác, nhất là họa tụng của bộ 1, toàn là ngữ khí thiền tông, loại ngữ khí hay có cái bịnh cầu kỳ, kinh dị, do đó, không cần thiết lắm để nói đến. Nay nói đến h́nh thức và ư nghĩa của tất cả 5 bộ bằng cách chú ư đến tranh vẽ và tiêu đề nhiều hơn.
(3a) Bộ 1. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7) và B. Tranh 1 là vị mục: chưa chăn giữ. Dưới vầng mây đen, trâu đang hung hăng tuông chạy, ḿnh đầy dơ bẩn, dẫm đạp lúa mạ. Tranh 2 là sơ điều: mới chế ngự. Trâu đă bị nắm dây mũi và đánh bằng roi, nhưng vầng mây đen đă biến mất. Tranh 3 là thọ chế: chịu khuất phục. Trâu bị dơ roi, dắt đi, nhưng đầu đă sạch, vầng trăng đă xuất hiện từ xa, nhưng trong đám mây trắng. Tranh 4 là hồi thủ: quay đầu lại. Trâu đă biết quay đầu lại với mục tử, và cổ đă sạch. Tuy vậy, mục tử vẫn ràng cột giây mũi, vầng trăng cũng xuất hiện, nhưng không có mây trắng. Tranh 5 là thuần phục: đă thuần hóa. Trâu đă sạch 2 chân trước và nửa ḿnh, mục tử chỉ cầm chừng dây và roi mà coi, và vầng trăng vẫn xuất hiện trong đám mây trắng. Tranh 6 là vô ngại: hết e ngại. Mục tử ngồi chơi, thổi sáo, trâu đă sạch cả ḿnh và 2 chân sau, nằm nh́n lại mà nghe, nhưng vầng trăng không xuất hiện trong đám mây trắng. Tranh 7 là nhiệm vận: đă tự nhiên. Trâu đă sạch cả đuôi, ăn uống tự nhiên, mục tử th́ ngủ, và vầng trăng lại xuất hiện cũng trong đám mây trắng. Tranh 8 là tương vong: rời quên nhau. Trăng sao xuất hiện trong đám mây trắng, trâu với người không c̣n lệ thuộc với nhau. Tranh 9 là độc chiếu: chỉ quán chiếu. Chỉ c̣n mục tử, một ḿnh với trăng sao c̣n mây trắng vướng mắc chút ít. Tranh 10 là song dẫn: mất tất cả. Chỉ có vầng trăng lớn và sáng. Có mấy ghi chú cần thiết trong giải thích trên đây. Tranh 1, sự dẫm đạp lúa mạ (phá hoại điều thiện) là quan trọng mà có bản bỏ quên. Các tranh 3 đến 8, vầng trăng tṛn (chân như) nhưng vừa nhỏ vừa xa, khi hiện khi ẩn, mây trắng (sở tri ngu) cũng vậy, khi có khi không, là quán chiếu c̣n yếu và gián đoạn. Riêng tranh 8 c̣n phải nói thêm. Ấy là trí năng quán vốn đối tượng hóa chân như làm cảnh sở quán, và đến đây th́ đối tượng ấy sắp mất, nghĩa là sắp hiển lộ chân như. Nên ở đây không c̣n t́nh trạng năng quán phải có sở quán mới hiện, năng quán sở quán không c̣n phải có tác ư mới có. Chữ rời quên nhau là mô tả t́nh trạng này, t́nh trạng mà chuyên ngữ chỗ khác gọi là phá vỡ nghiệp thức, siêu thóat cái biết thuộc khái niệm phạm trù. Tranh 9 chỉ c̣n người là chỉ c̣n quán trí. Hiểu biết trâu là pháp chấp, mất trước, c̣n người là ngă chấp mất sau, là sai. Không giáo lư nào nói như vậy cả. Tranh 10 là chân như hiển lộ mà ngài Phổ Minh nói là hoa nội cỏ thơm vẫn tự sum sê có nghĩa đến đây th́ chân như diệu dụng toàn diện. Điều hết sức cần chú ư là tranh 1 đă thấy trâu chứ không phải t́m trâu, chứng tỏ bộ 1 không công nhận tâm bị mất bao giờ, tâm chỉ có được thuần phục hay không mà thôi. Tranh 10 chứng tỏ chân như hiển lộ th́ vật sắc vô vàn, diệu dụng vô lượng, ‘trúc biếc hoa vàng toàn là bát nhă, gió thổi chim kêu đều là vô sinh’. Cái gọi là vào sinh tử độ chúng sinh, hoặc nói cách khác là sống với cái sống b́nh thường của chân như, toàn chỉ là nói phần nào cái diệu dụng ấy. Nói theo Duy thức học, đại viên cảnh trí đă xuất hiện th́ đủ cả 3 thân 4 trí, cái gọi là vào chợ đời chỉ là phần nào của biến hóa thân hay diệu quan sát trí và thành sở tác trí mà thôi. Và với ư nghĩa như vậy, văn bản A nói bộ 1 mới là chính.
(3b) Bộ 2. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7). Tranh 1 là tầm ngưu: t́m trâu. Tranh 2 là kiến tích: thấy dấu. Tranh 3 là kiến ngưu: thấy trâu. Tranh 4 là đắc ngưu: được trâu. Tranh 5 là mục ngưu: chăn trâu. Tranh 6 là kị ngưu qui gia: cưỡi trâu về nhà. Tranh 7 là vong ngưu tồn nhân: trâu mất người c̣n. Tranh 8 là nhân ngưu câu vong: người trâu đều mất. Tranh 9 là phản bản hoàn nguyên: trở về gốc nguồn. Tranh 10 là nhập triền thùy thủ: vào chợ đưa tay. Có mấy chi tiết cần nói. Tranh 9 nên bỏ, v́ nói cạn th́ là tranh 6, nói sâu th́ là tranh 8 ở đây và là tranh 10 của bộ 1; chữ thùy thủ không phải buông tay, mà là tḥng tay hay đưa tay ra mà dắt d́u cứu vớt. Tranh vẽ cũng nên nói. Tranh 9 có chỗ vẽ là rụng về cội, nước chảy về nguồn. Vẽ như vậy không bằng Viên âm trích lục, vẽ hoa lá ngoạn mục, mô tả vật sắc y nhiên của chân như. Tranh 10 là mượn h́nh ảnh ngài Bố Đại, hóa thân của Di-Lặc đại sĩ; Ngài này hay vào chợ với túi vải lớn, ai cho ǵ cũng bỏ vào, đem ra phát cho người nghèo, trẻ con. Điều cần chú ư là bộ 2, với 4 tranh đầu, cực tả phải minh tâm kiến tánh. Trung gian ước lược với 2 tranh, là muốn nói kiến tánh th́ sự tu có khả năng vượt bậc. Đoạn chót, với 4 tranh là tự chứng độ sinh. Thêm nữa, khác với bộ 1, bộ 2 này đến tranh 7 vầng trăng mới xuất hiện (mô tả đốn ngộ) và tranh 8 chỉ c̣n vầng trăng lớn sáng (chân như hiển lộ). Có người nói bộ 2 là tâm t́m tâm, tâm ly tâm, tâm dụng tâm. Màu sắc con trâu không thay đen đổi trắng, dầu cũng vẫn nói công phu ly nhiễm, rửa trâu cho sạch. Nhưng văn bản D nói khác hơn. Theo đó, tranh là phát bồ đề tâm. Các tranh 2 đến 5 là vị thứ tu hành bồ đề hạnh. Các tranh 7 và 8 là thành bồ đề trí. Các tranh 9 và 10 là nhập bồ đề tâm hành bồ đề sự.
( 3c ) Bộ 3. Như đă nói, văn bản A tờ 16a nói Ḥa thượng Thanh Cư thuật Mục ngưu đồ tranh 10 là trâu trắng ngủ yên giữa đất trống, người chăn th́ thiền định; tranh 11 là trâu mất mà roi đang c̣n; tranh 12 là người trâu đều mất. Do tiêu đề như vậy, tôi suy đoán có 1 bộ Mục ngưu đồ nữa, tu chỉnh bộ 2, v́ 3 tranh nói trên ghép vào bộ 2 không hợp bằng ghép vào bộ 1. Lại nữa, chắc chắn 13 tranh. Mà chắc là đổi tên và ư 3 tranh chót của bộ 1. Suy luận này nếu đúng, th́ bộ 3 là có, và có thể kê như sau. Tranh 1 đến tranh 7 là 7 tranh đầu của bộ 1: chưa chăn giữ, mới chế ngự, chịu khuất phục, quay đầu lại, đă thuần hóa, hết e ngại, đă tự nhiên; tiếp theo, tranh 8 là nằm giữa đất, tranh 9 là roi vẫn c̣n, tranh 10 là hết tất cả. Nằm giữa đất (trâu trắng nghỉ yên giữa đất trống, người chăn th́ thiền định) là tâm đă thanh tịnh. Roi vẫn c̣n (trâu mất mà roi đang c̣n) là pháp tu vẫn c̣n. Hết tất cả (người trâu đều mất) là chân như thể hiện. Bộ 3 này, như vậy, là trọng pháp tu từ đầu đến gần cuối, c̣n tu chứng th́ chỉ được nói bằng 1 tranh mà ư nghĩa là của tranh 10 bộ 1.
(3d) Bộ 4. Như đă nói, bộ 4 là luận giải bộ 1, bằng cách thêm 10 tranh nữa. Theo như thế nào? Tác giả bộ 4 rất chú trọng tranh 1 ‘chưa chăn giữ’ của bộ 1, nên đă đưa ra nhiều trường hợp tuồng như ngó được mà kỳ thật là chưa chăn giữ lấy tâm ư; và tót tắt lại bằng 2 tranh thêm cho tranh 1: giới tại gia th́ nhàn nhă, giới xuất gia th́ thuyết pháp (nên nói là pháp dật và hư luận). Các tranh 2 đến 5 th́ thêm 4 tranh sơ thiền đến tứ thiền. Cái này th́ không chính xác lắm. Tranh 6 thêm tranh ḥa quang đồng trần (ḥa đồng chúng sanh). Tranh 7 thêm tranh tuyền thạch tự ngu (vui thú suối non). Tranh 8 thêm tranh đại hưu đại hiết (thôi bỏ tất cả). Tranh 9 thêm tranh giác thiên khoáng lộ (tuệ giác bừng sáng, dịch đủ là bầu trời tuệ giác lồ lộ bừng sáng). Tranh 10 thêm chữ (chứ không phải tranh) nan danh nan trạng (khó mà mô tả), nhưng chữ này không bằng chữ chân diện mục (mặt này đích thực) trong câu đối cũng ở đấy. V́ thêm tranh tứ thiền, bộ 4 này có ư tứ mà kém giá trị.
(3đ) Bộ 5. Tranh 1 thất ngưu (mất trâu), ghi: trâu trắng ở đông mặt hướng về đông, mục đồng ở tây mặt hướng về tây. Tranh 2 tầm ngưu (t́m trâu), ghi: chủ nhân hỏi trâu đâu, mục đồng ngơ ngác, có 1 người đi đến từ hướng tây, lấy tay chỉ cho biết ở đằng xa ấy. Tranh 3 kiến tích (thấy dấu), ghi: mục đồng chạy ngay về hướng tay, thấy nhiều dấu chân trâu trắng trong đám ruộng. Tranh 4 kiến ngưu (thấy trâu), ghi: trâu trắng nằm yên trong đám ruộng, mục đồng từ xa nh́n thấy, rất mừng. Tranh 5 đắc ngưu (được trâu), ghi: trâu trắng thung dung đứng dậy, mục đồng vui vẻ vỗ về lưng nó. Tranh 6 hộ ngưu (giữ trâu), ghi: mục đồng nhàn nhă ngồi trên đá, trâu trắng thích thú uống nước khe suối. Tranh 7 kị ngưu (cưỡi về), ghi: mặt trời gác núi, trâu trắng về nghỉ, với mục đồng cuỡi trên lưng, thích thú thổi sáo. Tranh 8 vong ngưu (mất trâu), ghi: chỉ c̣n vầng trăng sáng trên nền trời, mục đồng vỗ tay ca hát. Tranh 9 song dẫn (mất cả), ghi: mục đồng và trâu trắng đều không thấy đâu nữa, chỉ c̣n 1 (vầng trăng) tṛn sáng. Tranh 10 nhập triền (vào chợ), ghi: mục đồng đi trước, hướng về phía đông, với trâu trắng theo sau. Bộ 5 này, như vậy, là đề cao ư thức tự tỉnh và vai tṛ của bậc đại thiện tri thức. Từ đầu đến cuối, trâu là trắng và không hung hăng, khỏi dắt mũi, đánh đập ǵ hết, ấy là tâm tánh vốn có và vẫn thanh tịnh, minh tâm kiến tánh th́ chứng ngộ. Vấn đề là ly nhiễm (hướng về tây) để rồi tùy nhiễm (trở lại đông). Đáng chú ư là bộ 5 này, theo văn bản G, vầng trăng xuất hiện một nửa trong mây (tranh 6), xuất hiện tṛn mà chưa thật sáng (tranh 7), xuất hiện tṛn sáng mà chưa thật lớn (tranh 8), xuất hiện sáng lớn (tranh 9).
(4a) Mục ngưu đồ chủ yếu là tu tâm. Tâm, nói đơn giản, là chỉ cho tri thức tư tưởng. Thế nhưng cái nghĩa ấy không đủ để nói đến cái tâm trong Mục ngưu đồ. Nên ở đây phải nói chút ít về chữ tâm của Phật giáo. Phật học đại từ điển trang 699 tổng hợp mọi học lư, nói tâm có 6. Để dễ hiểu, tôi toát yếu với thứ tự không đặt theo vị trí. Thứ 1 là nhục đoàn tâm (tâm khối thịt), tức cái tim của người vật, cái lơi của cây cỏ. Thứ 6 là tinh yếu tâm (tâm cốt lơi), tức cái trung tâm, cái cốt yếu, cũng tức nghĩa thứ 1 mà rộng hơn. Thứ 5 là kiên thật tâm (tâm chắc thật), tức chân như của tất cả pháp. Tim người vật, lơi cây cỏ, và cốt yếu của tất cả, cũng toàn là pháp, nên có thể quán tưởng ngay quả tim ta đây là chân như. Cả 3 loại tâm trên đây Phạn tự là Hrdaya. Thứ 4 là duyên lự tâm (tâm tri thức), Phạn tự là Vignapti. Thứ 3 là tư lượng tâm (tâm tự ư thức), Phạn tự là Manas. Thứ 2 là tập khởi tâm (tâm tập hợp phát khởi), Phạn tự là Citta. Như vậy, thường ta nói tâm, chỉ là nói cái thứ 4, tức 6 thức trước. Nhưng trong Phật học, nhất là Duy thức học, th́ 6 thức này chỉ là những cái biết lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Chúng chỉ như nhưng thông tín viên, thu thập tất cả mọi loại tin tức. Cái tiếp nhận tin tức ấy, tiếp nhận theo ư thức tự ngă, là cái thứ 3. C̣n cái thứ 2 th́ lưu trữ và tái hiện mọi tin tức đă được tiếp nhận. Nói tổng quát, gió (đối cảnh) và sóng (nhận thức) toàn là biển cả. Cái thứ 2 là cái cá thể vừa là vật liệu vừa là kiến trúc, đối với toàn bộ thế giới của mỗi chúng sinh bao gồm cảnh vật, cơ thể (giác quan) và nhận thức. Và bản thể của toàn thể các tâm thức trên đây là chân như. Chân như, hay tự tánh thanh tịnh tâm, như vậy có 2 nhận thức. Nhận thức thứ nhất, như Duy thức học, chân như (bản thể) với các pháp (hiện tượng), ít nhất là danh từ, không phải không khác nhau. Nhận thứ thứ hai, như Khởi tín luận, chân như là toàn bộ, bản thể hiện tượng là bất khả phân. Nên, như cánh tay khi đang chỉ xuống (nhiễm) th́ đó là cả cái cánh tay có thể chỉ lên mà đang chỉ xuống, khi đă chỉ lên (tịnh) th́ đó là cả cái cánh tay đă chỉ xuống mà nay chỉ lên. Trong nhận thức thứ nhất, khi chân như thể hiện th́ các pháp thành diệu dụng. Trong nhận thức thứ hai, ngay đang lúc ô nhiễm, chân như biểu hiện cái dụng phản tỉnh tu tập, nên thể hội chân như th́ các pháp là diệu dụng, là chân như. Do vậy, Mật tông quán ngay quả tim là hoa sen, Thiền tông th́ thấy đương xứ tiện thị, Bát nhă thấy sắc là không, không là sắc, Hoa nghiêm thấy một là tất cả, tất cả là một, Pháp hoa nói thế gian tướng trường trú…
(4b) Cũng nên nói về sự đốn ngộ. Đốn ngộ là sự tỉnh ngộ đột biến. Đốn ngộ là kết quả của sự tu tập, kể cả phước đức quá khứ (như trường hợp ngài Huệ Năng). Đốn ngộ xảy ra trong khi tu tập. Đốn ngộ có cạn sâu (như đă vào biển cả nhưng xuống biển cạn hay sâu), có khuyết toàn (như trăng đă hiện nhưng có khuyết toàn) Không phải đốn ngộ là đă như Phật, đă thành Phật. sự đốn ngộ của Phật vừa là trí đức (hết sạch mê mờ), vừa là đoạn đức (hết sạch lầm lỗi), vừa là ân đức (hóa đạo chúng sinh). Đốn ngộ khi đang tu tập th́ tiểu thừa đại thừa đều có ở gian đoạn kiến đạo, c̣n những giai đoạn trước đó th́ không quyết định. Lại có sự đốn ngộ vượt bậc, như trường hợp ngài Xá-lợi-Phất thành A-la-hán ngay, khi nghe Phật đối thoại với cậu ngài là ngài Câu-hy-la: Chủ thuyết của ông là ǵ: Là không chấp các pháp. Thế có chấp cái chủ thuyết ấy không? Có sự đốn ngộ c̣n khác thường nữa, như trường hợp ngài Ương-quật-ma-la, khi cầm dao đuổi theo Phật mà không kịp, la lên, sao ngài đi thong thả, mà tôi đuổi không kịp: Phật bảo, hăy bỏ xuống con dao ngay trong tâm của anh. Cho nên yếu tố đốn ngộ bất thường hay khác thường, đa số thường do sự cảnh tỉnh đúng lúc và thích hợp của các bậc thầy mà Thiền tông gọi là đại thiện tri thức. Trong tất cả 5 bộ tranh Mục ngưu đồ, đốn ngộ chính xác là ở các tranh trâu người quên nhau, chỉ c̣n ḿnh người, và tan mất tất cả. Chỉ có bộ 2 và bộ 5 có ư mô tả sự kiến tánh (cũng là dạng đốn ngộ khởi sự) ở 4 tranh đầu.
(4c) Cũng nên nói về h́nh sắc con trâu. Trong chữ Tàu, ngưu là ḅ, trâu. Riêng trâu, muốn nói rơ th́ phải là thủy ngưu. Dầu vậy, Mục ngưu đồ vẽ là trâu chứ không phải ḅ. Trâu ấy ví dụ cho tâm. Thế nhưng có bộ tranh vẽ trâu đen rồi trắng, có bộ vẽ trâu đen, có bộ vẽ trâu trắng. Vẽ trâu đen rồi trắng là nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ, nay chỉ rửa đi cho sạch bùn. Vẽ trâu đen là ư nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ. Vẽ trâu trắng cũng nói trâu vốn không dơ, nhưng ư có vẻ sâu mà thật ra là cạn. Như vậy, ư nghĩa hoàn chỉnh mà không cầu kỳ chính là trâu đen rồi trắng.
(4d) Bây giờ nên nói về sự tu tâm, tức là nói sự chăn trâu. Thật ra tu tâm là chính tâm cứu xét lấy tâm, tâm điều phục lấy tâm, tâm họa dụng lấy tâm. Nhưng nói như vậy vẫn mênh mang. Hăy nói xác thực hơn. Tâm, như đă thấy, trước hết là 6 thức trước, tức nhận thức lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Nói như vậy th́ biết nói 6 thức cũng đă là nói toàn bộ con người và thế giới con người. Trong 6 thức, quan trọng bậc nhất là thức thứ 6. Nó chính là cái trực tiếp tạo ra mê với ngộ, nhiễm với tịnh. Khi nó có 5 thứ thiện căn (mà thực ra là tâm sở thiện hay tâm sở trung tính của nó) th́ đó chính là sự tự chăn. Năm thiện căn, một là tín: tin tưởng vào ḷng từ bi của Phật, làm bậc thầy hóa đạo cho ta tự chăn; tin tưởng vào giáo huấn của Ngài đă đem lại sự tự chăn và thanh tịnh cho Ngài và nay đem lại cho ta; tin tưởng vào Tăng đoàn của Phật có hạnh nguyện thay Ngài trong công việc của Ngài, là làm bậc thiện tri thức cho ta tự chăn; sau hết, và quan trọng nhất, là tin tưởng bản thân ta có thể và cần phải tự chăn. Hai là Tấn: nổ lực tự chăn một cách thích hợp và liên tục. Ba là Niệm: luyện tập cho kư ức một mặt hướng về giáo huấn của Phật, một mặt cảnh giác mà chống lại sự tự buông thả hay lơi lỏng trong sự tự chăn. Bốn là Định: trước hết là dốc chí, chuyên chú, không bao giờ dao động hay đổi bỏ sự tự chăn. Năm là Tuệ: trước hết là hiểu biết khá rơ về sự tự chăn. Trong 5 thiện căn này, Tuệ quan trong bậc nhất cho sự tỉnh ngộ. Nó vừa là sinh ra vừa là kết quả, vừa là chủ đạo vừa là được hổ trợ, của 4 thiện căn trước. Thế nhưng 5 thiện căn chưa phải là căn bản của sự tự chăn. Căn bản của sự tự chăn chính là giới. Giới là sợi dây là cây gậy trong sự tự chăn. Mục ngưu đồ quả là đề cao giới ấy. Giới ấy, và con trâu, và mục tử và giay, và gậy, trước hết và thực sự, toàn là thức thứ 6 cả. Dầu cho nói đén sự đốn ngộ kiến tánh như Thiền tông đi nữa, thực sự cũng là sự tỉnh ngộ đột biến (một dạng độc đầu) của thức thứ 6 ấy. Và đốn ngộ ǵ, kiến tánh ǵ, th́ hỏi là trả lời, khi biết chân như là ǵ.
(5a) Mục ngưu đồ, trước hết hăy nói áp dụng cho mọi người, nhất là áp dụng các tranh bước đầu. Trâu là bản thân. Mục tử là ư chí. Chăn là tự đổi mới (theo tiêu chuẩn đạo đức xă hội và đạo đức tâm linh). Ai cũng có thể và nên áp dụng như vậy. Bây giờ nói áp dung cho sự tu Thiền. Trâu là tâm thức. Chăn là đối với công án (chủ đề) hăy ‘tỉnh tỉnh như mèo ŕnh chuột’ không nghĩ ǵ khác. Đặc biệt áp dụng cho sự tu Tịnh. Trâu cũng là tâm thức. Chăn là chánh niệm liên tục, không nghĩa nhớ ǵ khác ngoài Phật, ngoài danh hiệu của Phật. Nghĩa nhớ ǵ bất đáng th́ tức khắc nhớ Phật không nghĩ như vậy. Cái ǵ đáng làm, và có thể làm được, hăy nghĩ nên là như Phật đă làm. ‘Tâm mà tưởng nhớ đến Phật th́ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật’ (quán kinh).
(5b) Thế nhưng, đối với mọi người xuất gia th́ phải tự buộc chứ không phải tùy nguyện, cố mà làm theo đoạn kinh Di giáo sau đây, đoạn kinh mà Mục ngưu đồ được gợi ư và bắt nguồn từ đó. “Các thầy tỳ-kheo, đă ở trong tịnh giới th́ phải chế ngự 5 thứ giác quan không cho phóng túng. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa mạ của người… Năm thứ giác quan do tâm chủ động, v́ vậy mà các thầy lại phải chế ngự tâm ḿnh… Phóng túng tâm ra th́ làm tan nát việc thiện của người, chế ngự tâm lại một chỗ th́ không việc ǵ không thành”.
Như tôi đă nói, những lời sơ lược về Mục ngưu đồ trên đây là như lời giới thiệu cho Tranh chăn trâu của Ḥa thượng Kế Châu, mong giúp thêm vào thiện nguyện của tập sách ấy.
Tháng 3, 2536 (1993) Trí Quang |