|
TUYỂN TẬP
TRẦN NHÂN TÔNG
LÊ MẠNH THÁT
CHƯƠNG II
TUỔI
TRẺ VUA TRẦN NHÂN TÔNG
Nguồn tư liệu cho việc
nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông cơ bản như
đă tŕnh bày trên. Từ các nguồn tư liệu này, ta biết vua Trần Nhân
Tông sinh vào ngày 11 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 8 (1258). Khi
mới sinh, ĐVSKTT 5 tờ 38a8-b1 đă mô tả như “được tinh anh
của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn
toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên
đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được
việc lớn”.
Thánh đăng ngữ lục
tờ 14b1-7, đối
với thời gian trước khi sinh vua Trần Nhân Tông, c̣n nói tới giấc
mộng mà Nguyên Thánh Hoàng thái hậu mơ thấy: “Xưa hoàng thái hậu
Nguyên Thánh thường mơ thấy người thần trao cho hai cây gươm bảo:
‘Thượng đế có lệnh, cho ngươi tự chọn’. Thái hậu bất chợt rất vui,
bỗng lấy được cây gươm ngắn, do thế mà có mang”.
Những t́nh tiết này sau đó Chân Nguyên đă viết lại thành thơ
trong Thiền tông bản hạnh:
Thánh mẫu là mẹ ḷng
ḥa có nhân,
Giấc ḥe thoắt nhập
đêm xuân,
Chiêm bao xẩy thấy
thần nhân một người.
Cao cả tượng sứ nhà
trời,
Trao cho lưỡng kiếm có
lời bảo vây.
Hoàng hậu sực thức đêm
chầy,
Thấy điềm sự lạ tâu
bày Thánh Tông.
Ḷng vua thấy vậy cực
mừng,
Bàøøn mộng thốt rằng
ấy trời tộ ta
Sau khi có thai, Thánh
đăng ngữ lục lại chép tiếp cuộc sống của Hoàng thái hậu Nguyên
Thánh vẫn diễn ra b́nh thường, không có những quan tâm ǵ đặc biệt
đến việc nuôi dưỡng và bảo vệ thai, mà vào thời bấy giờ tại nước ta,
đặc biệt trong giới thượng lưu, đă trở thành một tập quán quen thuộc
và phổ biến: “Trong những tháng dưỡng thai, bà không lựa chọn các
món kỵ thai. Nhà bếp dâng ǵ liền ăn, mà thai vẫn không bị hư tổn.
Thái hậu biết là ḿnh có nơi giúp đỡ”. T́nh tiết này Thiền
tông bản hạnh không diễn tả lại, chỉ viết:
Từ ngày chiêm bao đă qua
Hoàng hậu thọ thai càng
ḥa tốt tươi.
Rồi sau đó khi vua Trần
Nhân Tông sinh ra, Thánh đăng ngữ lục, giống như ĐVSKTT
đă ghi nhận một hiện tượng là cậu bé Trần Nhân Tông đă có màu
vàng lúc mới sinh, và trên vai phải có nốt ruồi đen: “Đến khi vua
ra đời, màu da như vàng ṛng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Bên
vai phải vua c̣n nốt ruồi đen như hạt đậu lớn. Kẻ thức giả bảo:
‘Ngày khác chắc chắn có thể gánh vác việc lớn’ ”. Chi tiết này
Thiền tông bản hạnh đă mô tả lại khá dài ḍng qua những câu
thơ:
Măn nguyệt no tháng
thoát thai
Ḿnh vàng kim sắc
tướng ngài lạ thay
Vua cha thốt bảo rằng
bay
Hai ta có đức sinh
nay Bụt vàng.
Hữu kiên nốt ruồi bên
nương
Thuật sĩ xem tướng
đoán lường rằng bây:
Thái tử trí cả bằng
nay
Gánh việc đại khí làm
thầy mười phương.
Khi lớn, vuaTrần Nhân
Tông được vua cha đặt tên là Khâm và chăm lo giáo dục kỹ càng, để
chuẩn bị cho việc kế tục sự nghiệp lănh đạo quốc gia sau này. Các tư
liệu Việt Nam không cho biết rơ. Thánh đăng ngữ lục tờ 15b8
chỉ bằng ḷng viết: “Điều Ngự tính vua thông minh, đa năng
hiếu học, xem trải mọi sách, thông nội ngoại điển”. C̣n
Thiền tông bản hạnh th́ viết hai câu:
Cha mẹ dưỡng dục yêu
thương
Đặt hiệu cho chàng là
Điều Ngự Vương
Nhưng Trần Quang Chỉ, khi
đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, đă cho ta
biết khá rơ những ǵ mà Trần Nhân Tông đă được nuôi dạy, lúc c̣n
trẻ: “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển.
Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ
ǵ là không mau chóng nắm được sâu sắc”. Như thế, vua Trần Nhân
Tông đă thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng răi, với một tinh
thần cởi mở, kết hợp kiến thức khoa học với văn chương, quân sự với
âm nhạc. Đây là truyền thống giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt
Nam, mà ta đă thấy xuất hiện từ thời Mâu Tử và Khương Tăng Hội.
Đến năm 16 tuổi, tức năm
Giáp Tuất (1274), ĐVSKTT 5 tờ 34a4-5 cho biết: “Tháng 12
sắc phong hoàng trưởng tử Khâm làm Hoàng thái tử, lấy con gái trưởng
của Hưng Đạo Vương làm phi cho Thái tử”. Về sự kiện này, theo
Thánh đăng ngữ lục tờ 16b7 – 18a1 th́ vua cha tính chuyện truyền
ngôi cho, song vua Trần Nhân Tông từ chối, muốn nhường lại cho em
ḿnh là Đức Việp. Sau khi không được phép nhường ngôi Hoàng thái tử
cho em, Thánh đăng ngữ lục c̣n cho ta biết việc vua Trần Nhân
Tông lấy vợ và những cảm nghĩ của ông: “Năm vừa 16, được lập làm
Hoàng thái tử, Điều Ngự cố từ ba lần, xin cho em thay ḿnh, nhưng
đều không được. Đem trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho làm vợ, tức
là Thái hậu Khâm Từ. Duyên cầm sắc tuy hài ḥa, nhưng ḷng vua th́
rất nhạt nhẽo”. Chi tiết này Thiền tông bản hạnh chỉ ghi
lại sơ sài qua mấy câu, mà không đề cập đến việc lấy vợ:
Tuổi mới mười sáu niên
phương
Vua cha định liệu cho
thăng trị v́
Điều Ngự hai phen tâu
qú
Khiến nhường cho em
trị v́ thay anh.
Thái tử ḷng muốn tu
hành
Nh́n xem phú quí tâm
t́nh nhưng nhưng
Tuy ở điện bệ Đông
cung
Ḷng hằng giữ nhớ tôn
phong nhà thiền…
V́ đối với người vợ mới,
vua Trần Nhân Tông “tâm t́nh nhưng nhưng”, nên Thánh đăng
ngữ lục c̣n đưa thêm chi tiết về việc vua Trần Nhân Tông bỏ nhà
đi lên núi Yên Tử: “Một đêm vào giờ Tư, vua bèn vượt thành mà đi,
t́m vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp núi Đông Cứu th́ trời đă sáng mà
ḿnh lại rất mệt, bèn vào nghỉ ở trong tháp. Vị sư chùa thấy diện
mạo vua khác thường, bèn đem thức ăn dâng vua”. Thiền tông
bản hạnh đă diễn đạt đoạn này như sau:
Đêm ấy thái tử thoát
ra du hành
T́m lên Yên Tử một
ḿnh
Đến non Đông Cứu thiên
minh sáng ngày
Giả tướng lệ người thế
hay
Vào nằm trong tháp một
giây đỗ dừng
Tăng tự thấy tướng lạ
lùng
Làm bữa cơm thết cúng
dường cho ăn.
Tất nhiên, Thái tử bỏ nhà
ra đi th́ hoàng gia, mà đặc biệt là Hoàng hậu, phải t́m kiếm.
Thánh đăng ngữ lục viết về sự việc ấy thế này: “Hoàng hậu đem
tâu hết cho Thánh Tông nghe. Vua ra lệnh cho quần thần tung ra bốn
phương t́m kiếm. Thái tử bất đắc dĩ tự trở về và lên ngôi. Tuy ở nơi
cửu trùng sang trọng mà vẫn tự ḿnh giữ thanh tịnh”. Thiền
tông bản hạnh đă diễn tả lại:
Hoàng hậu lên tấu minh
quân
Rao bảo thiên hạ quần
thần đông tây
T́m đ̣i thái tử chớ chầy
Bắt em thay trị liền tay
tức th́
Thuở ấy thái tử lại về
Vua cha nhường v́ cho trị
vạn dân
Chi tiết này không thấy
ĐVSKTT ghi lại. Dẫu sao đi nữa, sau khi trở về hoàng cung,
trong khi ở chơi tại ngôi chùa Tư Phúc của hoàng gia, Thánh đăng
ngữ lục c̣n ghi thêm một chi tiết: “Thường ở chùa Tư Phúc
trong đại nội, ban ngày Thái tử ngủ, nằm mơ thấy lỗ rốn ḿnh mọc lên
một hoa sen vàng, lớn như bánh xe. Trên hoa có đức Phật vàng. Bên
cạnh có người chỉ Điều Ngự nói: ‘Biết đức Phật này không? Ấy là đức
Biến Chiếu Tôn’. Bèn giật ḿnh thức dậy, đem giấc mơ kể lại cho vua
Thánh Tông. Thánh Tông càng thêm lấy làm lạ”. T́nh tiết này
Thiền tông bản hạnh diễn tả lại:
Tuy ở điện bề đông
cung
Ḷng hằng giữ nhớ tôn
phong nhà thiền
Đêm khuya bóng nguyệt
kề hiên
Chiêm bao xảy thấy hoa
sen mọc bầy.
Có người chỉ bảo rằng
bây
Ngẫm thấy phen này
Thái tử có duyên.
Ấy là Phật bảo hoa
sen.
Sau giấc mơ này, theo
Thánh đăng ngữ lục, vua Trần Nhân Tông đă ăn chay đến nỗi gầy
guộc, vua cha phải yêu cầu thay đổi: “Từ đó thường chịu ăn chay,
không dùng đồ mặn, mặt rồng gầy guộc. Thánh Tông thấy lạ mới hỏi:
Điều Ngự nói hết lư do. Thánh Tông khóc bảo: ‘Cha nay già rồi, trông
nhờ một người ở con. Con mà như thế, th́ thành nghiệp của tổ tông sẽ
thế nào’. Điều Ngự cũng khóc”. Thiền tông bản hạnh
viết về sự việc này:
Thái tử từ ấy những
nguyền ăn chay
Mặt mũi ḿnh vóc đă
gầy
Vua cha xem thấy ngày
rày hỏi con.
Thái tử qú lạy tâu
van
Thánh Tông nước mắt
ḥa chan ṛng ṛng.
Ai hầu nối nghiệp tổ
tông
Tuổi cha già cả trong
ḷng khá thương.
Thái tử nước mắt đượm
nương
Phụ tử t́nh thâm cảm
thương thay là.
Dù giấc mơ xảy ra, trước
khi lên ngôi hay sau khi được phong làm Hoàng thái tử, sự thật rơ
ràng là Thái tử Trần Khâm đă chấp nhận lên ngôi vua vào ngày 22
tháng 10 năm Mậu Dần, Bảo Phù thứ 6 (1278). Vừa lên ngôi, vua Trần
Nhân Tông đă đứng trước một t́nh thế hết sức hiểm nghèo, mà đất nước
đang lâm vào. Đó là việc Hốt Tất Liệt ráo riết chuẩn bị xâm lược
nước ta trong khi đang thanh toán nốt những cứ điểm cuối cùng của
nhà Tống tại nam Trung Quốc, kết thúc với việc thừa tướng Lục Tú Phu
cơng vua Tống nhảy xuống biển chết vào mùa xuân năm sau (1279).
Tháng 10, vua Trần Nhân
Tông lên ngôi, th́ tháng 11 nhuận, sứ bộ của Hốt Tất Liệt là Sài
Thung đă đến Ung Châu thông qua con đường Giang Lăng, nhằm vào nước
ta mà đi tới. Về sự kiện này, ĐVSKTT 5 tờ 38a3-7 chỉ viết: “Vua
Nguyên nghe Thái Tông mất, có ư mưu tính nước ta, sai thượng thư bộ
Lễ là Sài Thung (tức Sài Trang Khanh) đến. Bấy giờ, sứ nước ta Lê
Khắc Phục đang trở về gặp quân Nguyên đánh nhà Tống, bèn theo đường
Hồ Quảng về nước. Thung cùng đi theo tới, mượn cớ vua không xin mệnh
mà tự lập, dựng lời bảo vua khiến vào chầu. Vua không nghe, sai
Trịnh Đ́nh Toản, Đỗ Quốc Kế đến Nguyên. Nhà Nguyên giữ Đ́nh Toản
không cho về”.
Các sử liệu Trung Quốc,
đặc biệt là Bản kỷ và An Nam truyện của Nguyên sử
10, tờ 5a3-4 và 209 tờ 4a1-b13 ghi rất rơ về hoạt động của phái
bộ này tại nước ta cùng những đối phó mà vua Trần Nhân Tông thực
hiện. Thứ nhất, tuy được cử đi từ tháng 8 và được Hốt Tất Liệt chỉ
đạo sử dụng con đường Giang Lăng, Quảng Tây thay v́ con đường Vân
Nam, Sài Thung đă tới Ung Châu vào tháng 11 nhuận. Khi nghe tin này,
vua Trần Nhân Tông đă gửi thư phản đối, yêu cầu Sài Thung phải trở
về con đường Thiện Xiển, Vân Nam mà chúng thường sử dụng trước đó.
Đây có thể là bức thư ngoại giao đầu tiên hiện được bảo tồn một phần
trong An
Nam truyện
của Nguyên sử 209
tờ 4a4-5: “Nay nghe Quốc công khó nhọc đến tệ quốc, dân biên giới
không ai là không kinh hăi, không biết sứ người nước nào mà đến ở
đây. Xin đem quân về đường cũ để mà đến”.
Sài Thung đă không đáp
ứng yêu cầu, mà c̣n gửi thư đ̣i phải đón hắn: “Thượng thư bộ Lễ
và các quan vâng lệnh trên cùng bọn Lê Khắc Phục của bản quốc do
Giang Lăng đến Ung Châu để vào An
Nam. Nếu có quân binh dẫn
đường hộ tống th́ nên theo ngựa trạm đến đầu biên giới xa đón”.
Cũng theo An Nam
truyện của Nguyên sử 209 tờ 4a6 -10, vua Trần Nhân Tông
đă sai Ngự sử trung tán kiêm tri thẩm h́nh viện sự Đỗ Quốc Kế
đến trước. Rồi sau đó sai thái úy, tức thượng tướng Trần Quang Khải
đem trăm quan đón chúng từ bờ sông Hồng đưa vào sứ quán. Ngày mùng 2
tháng 12 năm Mậu Dần (1278), vua Trần Nhân Tông đă đến sứ quán để
thăm bọn này. Ngày mùng 4, vua nhận chiếu và Sài Thung đă đọc lời
của Hốt Tất Liệt: “Nước ngươi nội phụ đă hơn 20 năm. Sáu việc vừa
rồi c̣n chưa thấy theo. Ngươi nếu không chầu th́ hăy sửa thành tŕ
của ngươi, chỉnh đốn quân đội ngươi để đợi quân ta (...) Cha ngươi
đă nhận lệnh ta làm vua. Ngươi không xin lệnh mà tự lập, nay lại
không chầu. Ngày sau triều đ́nh gia tội th́ lấy ǵ mà trốn ?”
Trước những lời xấc xược
đó, mà sau này, trong lời hịch động viên chiến sỹ của ḿnh, Trần
Hưng Đạo đă mô tả “thấy sứ giả qua lại dọc ngang ngoài đường,
khua tấc lưỡi cú vọ mà khinh rẻ triều đ́nh, đem cái thân dê chó mà
ngạo mạn tể phụ”, vua Trần Nhân Tông đâu có dễ dàng khuất phục.
Và để thử nắn gân, vua đă theo lệ cũ đăi yến Sài Thung ở dưới hành
lang. Thung không chịu ngồi vào yến, mà trở về sứ quán. Vua sai Phạm
Minh Tự đem thư mời dự yến tại điện Tập Hiền th́ hắn mới đến.
Tại yến tiệc này, An
Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 4a12 –b3 đă
ghi lại khá kỹ cuộc nói chuyện đă diễn ra giữa vua ta và Sài Thung.
Trước hết, vua Trần Nhân tông có lời phát biểu như thế này: “Tiên
quân vừa rời bỏ cuộc đời, tôi vừa nối ngôi, mà thiên sứ đến đem
chiếu thư, mở lời dỗ dành, khiến tôi vừa vui lẫn sợ trong ḷng. Trộm
nghe, ấu chúa nhà Tống nhỏ dại, thiên tử c̣n thương xót mà phong cho
tước công th́ chắc tiểu quốc đây cũng được gia ân thương xót. Trước
đây đă được tha miễn 6 việc. C̣n lễ tự thân vào chầu, th́ tôi sinh
trưởng ở thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen thủy thổ, sợ
chết dọc đường. Em tôi là Thái úy trở xuống cũng đều như vậy. Khi
thiên sứ trở về chầu vua, xin dâng biểu tâu rơ ḷng thành, cùng cho
biếu của lạ”.
Khi nghe lời này, Thung
liền nói ngay: “Chúa Tống chưa tới 10 tuổi, cũng sinh trưởng ở
thâm cung. Như thế mà sao vẫn đến được kinh sư. (Ta đây) ngoài việc
chiếu chỉ ra, không dám nghe một lệnh nào khác. Vả lại bốn người ta
đây thật đến để mời ngươi, chứ không phải để lấy của ngươi”.
Thế rơ ràng, chưa đầy hai
tháng từ khi mới lên ngôi, vua Trần Nhân Tông đă phải tiếp ngay Sài
Thung cùng phái bộ của hắn, đem lời đe dọa tiến công nước ta. Trước
những hành động và dă tâm đó, vua Trần Nhân Tông vẫn khôn khéo thực
hiện một chính sách ngoại giao mềm dẻo nhằm tạo cơ hội cho quân dân
Đại Việt có thời gian phát huy và củng cố tiềm lực của ḿnh. Khi Sài
Thung trở về, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ
4b3 –6, vua Trần Nhân Tông đă sai Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản và
Đỗ Quốc Kế đem biểu gửi cho vua Nguyên, từ chối việc vào chầu: “Cô
thần bẩm khí yếu đuối. Vả lại đường xá khó khăn, chỉ luống phơi
xương trắng làm cho Bệ hạ phải xót thương mà không ích lợi ǵ cho
triều đ́nh trong muôn một. Cúi mong bệ hạ xót thương tiểu quốc xa
xôi, khiến cho thần cùng những quan kẻ quan quả cô độc giữ được tính
mạng, để suốt đời phụng sự bệ ha. Đó là điều may lớn cho cô thần và
cũng là phước lớn cho sinh linh”.
Tháng 3 năm sau (1279),
khi bọn Sài Thung về đến Đại Đô trước và báo cáo việc vua Trần Nhân
Tông từ chối vào chầu mà chỉ gửi sứ, th́ khu mật viện nhà Nguyên đă
đề nghị với Hốt Tất Liệt cho tiến quân đánh nước ta. Hốt Tất Liệt
chưa nghe và cho sứ ta vào chầu. Tháng 11, giữ sứ ta là Trịnh Quốc
Toản ở lại Đại Đô, rồi sai bọn Sài Thung 4 người đi cùng Đỗ Quốc Kế
trở lại nước ta, đưa điều kiện và đe dọa, như An Nam truyện
của Nguyên sử 209 tờ 4b9 –12 đă ghi: “Nếu quả không thể
đến chầu được th́ hăy dồn vàng thay cho thân ḿnh, dùng hai ngọc
trai thay cho mắt ḿnh cùng với hiền sĩ, phương kỷ tử đệ hai người
và hai loại thợ mỗi thứ 2 người để thay cho thổ dân. Nếu không thế,
th́ hăy sửa sang thành tŕ của ngươi, để đợi sự phán xét”.
Đứng trước những lời đe
dọa và nguy cơ chiến tranh ngày càng tiến đến gần, vua Trần Nhân
Tông khẩn trương tiến hành một loạt biện pháp, nhằm nâng cao tiềm
lực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao của dân tộc, chuẩn bị
đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược sắp tới, mà bản thân vua và
triều đ́nh thấy không thể nào tránh được.
Đầu tiên, về chính trị,
vua thực hiện một chính sách an dân và ổn định xă hội bằng việc “đại
xá cho thiên hạ” nhân dịp tết Nguyên đán sau khi vua mới lên
ngôi, tức vào Tết năm Kỷ Măo Thiệu Bảo thứ nhất (1279), như
ĐVSKTT 5 tờ 38b4-5 đă ghi. Tiếp đến, vua cho giải quyết những
oan ức, bất công tồn tại trong quần chúng. ĐVSKTT 5 tờ 39b4-8
kể chuyện, 20 tháng sau khi lên ngôi, dân đă đón xe vua, để khiếu
nại về kết qủa một vụ án. Vua “ngay trên đường, sai chánh trưởng
nội thư hỏa là Trần Hùng Thao” giải quyết. Cũng trong giai đoạn
đó, Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang làm phản. Vua sai Trần Nhật Duật
đi dụ hàng. Trần Nhật Duật đă thành công và “đem Mật cùng vợ con
vào ra mắt vua”, mà “không mất một mũi tên”.
Về kinh tế, do khuyến
khích và huy động lực lượng nông dân, một năm sau khi lên ngôi, vào
tháng 10 th́ “được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái
Lộ một gị hai bông”, như ĐVSKTT 5 tờ 39b3-4 đă ghi. Và
để tạo điều kiện cho sự phát triển một nền thương mại quốc dân,
ĐVSKTT 5 tờ 39b2 cho biết tháng giêng năm Thiệu Bảo thứ hai
(1280) vua Trần Nhân Tông đă “ban thước đo gỗ, đo lụa cùng một
kiểu”, nhằm thống nhất hệ thống đo lường trong cả nước cho tiện
việc buôn bán. Tháng 2 cùng năm, “xét duyệt sổ đinh và các sắc
dịch trong nước”, để nắm dân số, tạo thuận lợi cho công ăn việc
làm của dân, đồng thời không gây trở ngại đến thời gian làm nghề,
tác động không tốt đến sản xuất và đời sống.
Về ngoại giao, ngoài việc
đối phó với nhà Nguyên, chỉ mấy tháng sau khi lên ngôi, vua Trần
Nhân Tông c̣n giải quyết vấn đề Chiêm Thành, nỗ lực xây dựng một
quan hệ hữu nghị thân thiết với quốc gia láng giềng nằm ở biên giới
phía nam của tổ quốc. Ngay trong tháng giêng năm Thiệu Bảo thứ nhất
(1279), bọn Chế Năng và Chế Diệp, khi được vua Chiêm cử cầm đầu phái
bộ đến nước ta, đă xin ở lại và làm bề tôi. Vua đă khéo léo từ chối,
thuyết phục bọn họ trở về. Không những thế, khi Chiêm Thành bị quân
Nguyên xâm lược vào tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), vua Trần
Nhân Tông đă ra lệnh gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện cho
Chiêm Thành. Sự kiện này, sử ta không nói tới, nhưng An Nam
truyện của Nguyên sử 209 tờ 5b3-8 nói rất rơ, và trở
thành một trong những nguyên cớ khiến quân Nguyên tiến công xâm lược
nước ta.
An Nam truyện viết: “An phủ sứ Quỳnh Châu Trần
Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm
Thành, sai quân 2 vạn và thuyền 500 chiếc để làm ứng viện”. Vua
Trần Nhân Tông phải viết thư trả lời: “Chiêm Thành là một nội
thuộc của tiểu quốc, th́ khi đại quân đến đánh, đúng ra đại quốc
phải tỏ thương xót, nhưng chưa từng dám nói ra một lời, bởi v́ tiểu
quốc biết thời trời việc người vậy. Nay, Chiêm Thành lại làm phản
nghịch, chấp mê không chịu quay lại th́ đúng là đứa không biết trời
biết người. Người biết trời biết người mà trở lại cùng mưu với đứa
không biết trời biết người th́ dù là trẻ con bé tí cũng biết là việc
không thể xảy ra. Huống nữa là tiểu quốc ư ? Xin quí hành tỉnh biết
cho”.
Dù có lời biện bạch này,
nhưng rơ ràng việc vua Nhân Tông gửi viện binh cho Chiêm Thành để
chống lại quân Nguyên chắc chắn đă xảy ra. Đây có thể là lần thứ 2
dân tộc ta gửi viện binh ra nước ngoài sau gần 14 thế kỷ khi vua
Hùng đă gửi viện binh giúp cho Đông Việt và Mân Việt chống lại quân
Hán của Vũ Đế. Chiêm Thành có một vị trí sống chết đối với an ninh
của Đại Việt. Khi cử bọn Toa Đô xuống xâm lược Chiêm Thành, Hốt Tất
Liệt không chỉ nghĩ tới chiếm Chiêm Thành như một đầu cầu để tiến
xuống các nước Đông Nam Á khác, như một số người đă đề xuất, mà
trước mắt là dùng Chiêm Thành như một bàn đạp để tiến công Đại Việt
từ phía nam. Thực tế, sự việc diễn ra sau đó đă chứng minh điều này.
Quả vậy, rút kinh nghiệm
của cuộc chiến tranh năm1258, Hốt Tất Liệt chú ư tới vị trí của
Chiêm Thành trong chiến lược bao vây và tiêu diệt nước ta. Cho nên,
theo Chiêm Thành truyện của Nguyên sử 210 tờ 4a3-6a7
ngay trong tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), Hốt Tất Liệt đă cử
Toa Đô cùng binh bộ thị lang Giáo Hóa Đích, tổng quản Mạnh Khánh
Nguyên và vạn hộ Tôn Thắng Phu đến Chiêm Thành, dụ vua Chiêm vào
chầu. Năm sau lại gửi tiếp hai phái đoàn nữa, một vào tháng 6 và một
vào tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 17 (1280). Qua năm 1281, Hốt Tất
Liệt chính thức thành lập cơ quan đầu năo tiến hành xâm lược nước
Chiêm, biết dưới tên Chiêm Thành hành trung thư tỉnh, do chính Toa
Đô đứng đầu. Đến tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 19 (1282) Toa Đô cầm
quân từ Quảng Châu tiến xuống Chiêm Thành. Đó là cơ bản viết theo
Chiêm Thành truyện của Nguyên sử 210 tờ 4a3-13.
Do thế, Chiêm Thành có
một vị thế hết sức xung yếu trong chiến lược pḥng thủ quốc gia Đại
Việt. Và vua Trần Nhân Tông kiên quyết bằng mọi giá phải giữ cho
được một biên giới phía nam ḥa b́nh và ổn định, không để cho kẻ
địch có cơ hội khoét sâu, gây chia rẽ t́nh đoàn kết Việt – Chiêm
trong việc đối phó với kẻ thù chung. Thực tế, trước khi gửi 2 vạn
quân và 500 chiến thuyền chi viện, có thể vào cuối năm 1282, tức năm
Toa Đô xuất quân từ Quảng Châu, th́ đầu năm 1282 này, tức tháng 2
năm Nhâm Ngọ Thiệu Bảo thứ 4, ĐVSKTT 5 tờ 41b1-2 đă ghi việc
Chiêm Thành gửi một phái bộ hơn 100 người do Bố Bà Ma dẫn đầu đến
Đại Việt dâng voi trắng. Phải nói đây là một phái bộ ngoại giao hùng
hậu và chắc chắn vấn đề chi viện đă được đặt ra. Gần 30 năm sau, khi
vua Chiêm vui vẻ dâng hai châu Ô, Lư để sáp nhập vào bản đồ Đại
Việt, cội nguồn của việc này đă bắt đầu từ đây.
Về quân sự, ngay vào năm
Chí Nguyên thứ 16 (1279), khi quân Nguyên đă tiêu diệt nhà Tống,
chiếm cứ toàn bộ Trung Quốc, th́ tháng 7 năm ấy, Hốt Tất Liệt tức
khắc ra lệnh đóng chiến thuyền để đánh Đại Việt, như Bản kỷ
của Nguyên sử 10 tờ 11b14 đă ghi. Tháng 11 cùng năm, tuy ra
lệnh giữ phái bộ Trịnh Đ́nh Toản của ta ở lại Đại Đô và sai lễ bộ
thượng thư Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tăng đi cùng với Đỗ
Quốc Kế sang Thăng Long, đe dọa vua Trần Nhân Tông: “Hăy sửa sang
thành tŕ mà đợi xét xử”. Tháng 10 năm sau (1280) Lương Tăng và
Sài Thung lại được sai đến nước ta một lần nữa. Cho nên, tháng giêng
năm Thiệu Bảo thứ 3 (1281) vua Nhân Tông đă sai chú họ ḿnh là Trần
Di Ái cùng Lê Tuân và Lê Mục đi sứ sang Nguyên.
Chớp lấy thời cơ này, Hốt
Tất Liệt thực hiện dă tâm xâm lược của hắn bằng cách thiết lập một
chính phủ bù nh́n lưu vong với Trần Di Ái đứng đầu với tư cách là An
Nam quốc vương, Lê Mục làm hàn lâm học sĩ và Lê Tuân làm thượng thư,
như Bản kỷ của Nguyên sử tờ 9a4-5 đă ghi. Theo tờ
chiếu năm Chí Nguyên 18 (1281) chép trong An
Nam chí lược 2 tờ 35, y nại lư do “cho sứ sang
vời th́ ngươi (tức vua Trần Nhân Tông, LMT) kiếm cớ không đi,
nay lại cố ư trái mệnh, chỉ sai chú là Di Ái vào chầu (...). Ngươi
đă cáo bệnh không vào chầu th́ nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc
thang điều dưỡng, ta đă lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua
nước An Nam”.
Sau khi thiết lập xong
chính quyền bù nh́n Trần Di Ái, cùng tháng đó Hốt Tất Liệt cho thành
lập An Nam tuyên uư ty, đặt Bột Nhan Thiết Mộc Nhi (Buyan Tamur) làm
An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái cùng Sài Thung và Hốt Kha Nhi
(Qugar) làm phó, như Bản kỷ và An Nam truyện của
Nguyên sử 11 tờ 9a8-9 và 209 tờ 4b12-5a1 đă chép. Rồi y cho một
ngàn quân, ra lệnh Sài Thung đưa Di Ái và đồng bọn về nước. Theo
An Nam chí
lược 3 tờ 44
th́ “về đến địa giới Vĩnh B́nh, người nước không nhận. Di Ái sợ,
đang đêm trốn về trước. Thế tử sai bồi thần đón Sài công vào nước
tuyên chỉ dụ”. ĐVSKTT 5 tờ 40b8-41a2, sau khi viết
“Sài Thung đem 5000 quân hộ tống về nước”, đă viết tiếp: “Thung
kiêu ngạo vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân Thiên
trường chặn lại. Thung lấy roi ngựa đánh bị thương vào đầu. Khi đến
viện Tập Hiền thấy bày màn trướng, Thung mới xuống ngựa”. Và
không cho ta biết Trần Di Ái đi đâu. Chỉ đến tháng 4 năm sau (1282)
ta mới thấy ĐVSKTT 5 tờ 41b2 ghi: “Bọn Trần Di Ái đi sứ về
nước”. Hai tháng sau, tức tháng 6, sách viết tiếp: “Trị tội bọn phản thủ Trần Di Ái. Ái phải đày làm binh
khao giáp ở Thiên trường và Tuân làm tổng binh”.
Thế là, ư đồ thành lập
chính phủ bù nh́n Trần Di Ái ở nước ta hoàn toàn thất bại do việc
vua Trần Nhân Tông đă cương quyết đánh tan đội quân hộ tống do Sài
Thung cầm đầu. Mười năm sau, trong tờ chiếu năm 1291, Hốt Tất Liệt
c̣n nhớ việc này và đă trách vua ta là “giết chú đuổi sứ”. Và
trong lá thư gửi cho Hốt Tất Liệt, vua Trần Nhân Tông c̣n bác bỏ: “Trước
đây, quốc thúc Di Ái rơ ràng là trốn đi ở cơi ngoài, mà bị vu là đă
giết càn”. Do thất bại này, Sài Thung rất hậm hực. Cho nên, như
ĐVSKTT 5 tờ 41a2-9 đă ghi lại, khi vua Trần Nhân Tông sai
thái sư Trần Quang Khải sang sứ quán tiếp hắn, hắn đă nằm khểnh
không chịu ra tiếp. Trần Quang Khải đi thẳng vào trong pḥng, hắn
cũng không dậy chào hỏi. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nghe thế, xin
đến sứ quán. Thấy Trần Quốc Tuấn tới, hắn đứng dậy chào hỏi mời
ngồi. Mọi người lấy làm lạ. Nhưng đấy là do v́ Trần Hưng Đạo cạo đầu
và ăn mặc như một vị hoà thượng phương Bắc.
Từ thất bại ấy, việc
tiến quân xâm lược nước ta, do đó, chỉ là vấn đề thời gian. Và trên
thực tế, triều đ́nh nhà Nguyên đă ráo riết chuẩn bị phương lược,
nhân sự và khí tài, để tiến đánh Đại Việt. Tất cả hoạt động này của
quân Nguyên, triều đ́nh Đại Việt, dưới sự lănh đạo của vua Trần Nhân
Tông, đă bám sát chặt chẽ. Tháng 8, ĐVSKTT 5 tờ 41b4-5 ghi sự
kiện các nhà hữu trách Việt Nam đă được vị tướng biên pḥng châu
Lạng là Lương Uất báo cáo về việc “Hữu thừa tướng nước Nguyên là
Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhuệ, nói phao là mượn đường đi đánh
Chiêm Thành, nhưng thực ra là để xâm lấn nước ta”.
Hai tháng sau, vua Trần
Nhân Tông cho tổ chức hội nghị quân sự B́nh Than để bàn kế hoạch
chống quân xâm lược. Bên lề hội nghị quân sự này, có hai sự việc
đáng chú ư, mà ĐVSKTT 5 tờ 41b8-43a6 đă ghi lại. Thứ nhất,ø
việc phục chức phó tướng quân cho Trần Khánh Dư. Và thứ hai là việc
Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản bóp nát quả cam v́ không được dự hội
nghị. Điều này chứng tỏ ngay trước khi quân xâm lược tiến vào biên
giới nước ta, vua Trần Nhân Tông đă phát động phong trào cương quyết
diệt giặc trong giới chỉ huy quân sự. Cùng tháng 10 năm đó, vua đă
phong thái uư Trần Quang Khải làm thượng tướng thái sư.
Tháng 7 mùa thu năm sau,
vua gửi phái bộ Hoàng Tư Lịnh và Nguyễn Chương đi sứ qua nhà Nguyên.
Phái bộ trở về, báo cáo đă gặp thái tử A Thai và b́nh chương A Lạt
đương họp 50 vạn binh của các xứ Hồ Quảng, có ư định xâm lược nước
ta. Khi nghe tin này, theo An Nam truyện của Nguyên sử
209 tờ 5a1-b3, vua Trần Nhân Tông đă gửi thư cho A Lư Hải Nha đ̣i
trả lại các sứ đă bị giữ. A Lư Hải Nha đă được vua Nguyên cho phép
trực tiếp viết thư trả lời. Từ Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh ở Ngạc
Châu, A Lư Hải Nha sai tên đạt lỗ hoa xích của châu này là Triệu Chử
cầm thư đến nước ta. Tháng 11 năm đó Triệu Chử tới. Vua Nhân Tông đă
sai trung lượng đại phu Đinh Khắc Thiệu, trung đại phu Nguyễn Đạo
Học, v.v… đem phương vật theo Triệu Chử sang Nguyên gặp Hốt Tất
Liệt. Đồng thời, vua tiếp tục cuộc đấu tranh ngoại giao bằng cách
sai trung phụng đại phu Phạm Chí Thanh cùng triều thỉnh lang Đỗ Bào
Trực đem thư đến gặp A Lư Hải Nha trả lời về việc tại sao không thể
giúp quân và giúp lương trong việc đánh Chiêm Thành cũng như việc
ḿnh không thể vào chầu vua Nguyên.
Trong khi cho phép A Lư
Hải Nha cử Triệu Chử vào tháng 7 th́ tháng 10 năm đó, Hốt Tất Liệt
sai Đào Bỉnh Trực đem chính thư của hắn qua cho vua Trần Nhân Tông.
Lá thư tuy không c̣n, nhưng nội dung chắc chắn là những lời đe dọa.
Để đối phó, trong tháng ấy, theo ĐVSKTT 5 tờ 43b6-8, vua Trần
Nhân Tông điều động các vương hầu đem toàn bộ quân đội thủy bộ tập
trận, phong cho Trần Hưng Đạo làm Quốc công tiết chế thống lĩnh
thiên hạ chư quân sự và giao quân cho những tướng tài, chuẩn bị đối
phó với cuộc xâm lược sắp tới.
Tháng 5 năm Chí Nguyên
thứ 21 (1284), ngày Canh Ngọ, Hốt Tất Liệt, khi nghe “Kinh Hồ
Chiêm Thành hành tỉnh đem quân tiến chiếm vùng đất Ô Mă gần An Nam
và xin thêm quân, bèn sai đạt lỗ hoa xích của Ngạc Châu là bọn Triệu
Chử đem thư vua đến bảo An Nam”, như Bản kỷ của Nguyên
sử 13 tờ 3a5-6 đă ghi. Để đáp lại, ngày Giáp Th́n cuối tháng 5
nhuận vua Trần Nhân Tông cử phái bộ Trần Khiêm Phủ đem cống chén
ngọc, b́nh vàng, chuỗi châu, lĩnh vàng, vượn trắng, chim cưu xanh và
vải vóc. Theo An Nam chí lược 14 tờ 139 th́ phái bộ
này qua Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh để xin hoăn binh.
ĐVSKTT
5 tờ 44a4-5 cũng chép
vậy, nhưng lại ghi vào tháng 11. Đây chắc là chép sai, v́ sau đó lại
chép tiếp: “Tháng 12 Trần Phủ từ nước Nguyên về nói vua Nguyên
sai thái tử là Trấn Nam Vương Thoát Hoan, B́nh chương A Lạt và bọn A
Lư Hải Nha đem quân, thác cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia
đường xâm lấn”. Trong ṿng hai tháng, Trần Khiêm Phủ không đủ
thời gian để đi về. Hơn nữa, tiếp theo Trần Khiêm Phủ c̣n có phái bộ
Đoàn Án và Lê Quư. Rồi đến tháng 7 c̣n có phái bộ Nguyễn Đạo Học như
Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 4a8-9 đă ghi. Một mặt trận
ngoại giao được dàn ra, để vận động và tranh thủ lấy thời cơ, nhằm
củng cố và phát triển lực lượng vật chất cũng như tinh thần với mục
đích nâng cao sức chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân và dân
Đại Việt.
Quả thật, tháng 8 năm đó
(1284), sau khi được phong Quốc công tiết chế, Trần Hưng Đạo đề nghị
tập hợp toàn bộ quân đội ở Đông bộ đầu tại thủ đô Thăng Long, để làm
một cuộc duyệt binh lớn. Sau đó, quân đội được bố trí đến đóng các
nơi xung yếu như Vĩnh B́nh, Động Bàng, Nội Bàng, Vạn Kiếp, B́nh
Than, Vân Đồn để đối phó với cánh quân Đông – Bắc của địch. Chỉ huy
mặt trận Đông Bắc này là Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo. C̣n để
đối phó với cánh quân Vân Nam ở phía Tây Bắc th́ giao cho Chiêu Văn
Vương Trần Nhật Duật chỉ huy. C̣n về phía nam kinh thành, ta xây
dựng một số cứ điểm pḥng ngự như Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng, giao
cho các tướng như Bảo Nghĩa Hầu Trần B́nh Trọng điều khiển. Cuộc
chiến tranh Mông – Việt sắp bắt đầu.
Trong khi tiến hành khẩn
trương các hoạt động quân sự, th́ công tác vận động toàn dân tham
gia kháng chiến đă được thực hiện song song. Tháng 12, Thái Thượng
hoàng Trần Thánh Tông triệu tập các bô lăo trong cả nước về đăi tiệc
tại thềm điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Để trả lời câu hỏi của
vua về việc có nên đánh hay không, các vị bô lăo đă “muôn người
như cùng một lời”, đáp lại “nên đánh”. Nhà sử học Ngô Sỹ
Liên b́nh luận về hành động này, đă nói: “Thánh Tông muốn làm thế
để xem sự ái hộ thành thật của hạ dân và muốn cho họ nghe dụ hỏi mà
cảm kích hăng hái lên”. Đúng thế, hội nghị Diên Hồng là một cuộc
vận động tư tưởng lớn, nhằm phổ biến rộng răi chủ trương nhất định
kháng chiến của vua Trần Nhân Tông và triều đ́nh cùng quân đội tới
toàn dân.
Như vậy, quân dân Đại
Việt, dưới sự lănh đạo của vua Trần Nhân Tông, đă chuẩn bị mọi mặt
tinh thần và vật chất, để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, chống lại
một cuộc chiến tranh do kẻ thù áp đặt, và cương quyết chiến đấu
thắng lợi khi cuộc chiến tranh xảy ra.
|