TUYỂN TẬP

TRẦN NHÂN TÔNG

LÊ MẠNH THÁT

CHƯƠNG VIII


 VỊ TRÍ VĂN HỌC CỦA VUA

TRẦN NHÂN TÔNG

 

Tiếng nói của dân tộc ta chắc chắn tồn tại từ lâu lắm rồi. Nhưng phải tới cuối thời kỳ triều đại Hùng Vương, tức vào khoảng những thế kỷ trước và sau tây lịch, ta mới có một số thông tin về tiếng nói này qua bài Việt ca và một số cấu trúc được t́m thấy trong Lục độ tập kinh Tạp thí dụ kinh.[1] Đặc biệt hai bản kinh vừa nói có khả năng đă tồn tại như những bản kinh tiếng Việt đầu tiên mà ta hiện biết, và đă lưu hành vào những thế kỷ đầu sau tây lịch, tối thiểu cho tới lúc Khương Tăng Hội (? - 280) dịch ra tiếng Trung Quốc. Vào thời điểm này, tiếng Việt đă phát triển phong phú và đa dạng, đến nỗi Sĩ Nhiếp (137-226) tương truyền đă viết bộ từ điển Hán Việt đầu tiên được biết, đó là Chỉ nam phẩm vựng hai cuốn. Đà phát triển này vẫn tiếp tục tới cuối thế kỷ thứ tư với sự ra đời các tác phẩm có thể coi như tự điển chữ Việt và cách thức ghi âm chữ Việt biết dưới tên Tá âmTá âm tự của Đạo Cao (370 –450?)[2].

Rồi sau đó tiếng Việt như một văn tự vẫn tiếp tục được sử dụng mạnh mẽ. Dân ta đă dùng tên Bố Cái Đại Vương để gọi cho người anh hùng Phùng Hưng.Và khi nền độc lập dân tộc được phục hưng, các triều đại có khả năng đă dùng tiếng Việt để ban bố các mệnh lệnh hành chánh của triều đ́nh cho dân chúng. Ta có thể mạnh dạn đưa ra giả thiết này nhờ vào một sự cố giữa hàn lâm phụng chỉ Đinh CủngViên và hành khiển Lê Ṭng Giáo năm 1288, theo đó có lệ cũ là phải viết và đọc chiếu chỉ của vua bằng hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Hán. Như thế, đến giữa thế kỷ thứ 13 tiếng Việt như một văn tự đă thực hiện mọi chức năng của nó. Điều bất hạnh là do thiên tai và địch họa, hàng loạt các tác phẩm viết bằng tiếng nói của dân tộc ta từ những bản kinh đầu tiên như Lục độ tập kinh và các bản chiếu chỉ của nhà vua cho đến các tác phẩm văn học như Tiều ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đă bị tán thất.

Bài thơ tiếng Việt tương truyền đầu tiên hiện biết là bài Giáo tṛ cho các buổi hát chèo thường được gắn cho tên tuổi của thiền sư Đạo Hạnh (? –1117). V́ đây là một bài thơ ngắn chỉ gồm 32 chữ và vấn đề văn bản học vẫn chưa được xác định rơ ràng, cho nên nhiều nghi vấn đă đặt ra. Chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của ḿnh là Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254 –1334) và Giáo tử phú của Mạc Đỉnh Chi (1284 –1361), nền văn học tiếng Việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của ḿnh c̣n được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại.

Không phải là một ngẫu nhiên của lịch sử mà vinh dự này thuộc về con người Trần Nhân Tông. Phần trên, ta đă thấy sự nghiệp và con người vua Trần Nhân Tông, một sự nghiệp văn trị và vơ công quá lớn lao, đến nỗi qua thời gian và sự phá hoại của kẻ thù vẫn không làm phai mờ đi được trong tâm thức của những người dân Việt. Chính họ đă giữ ǵn các tác phẩm văn học ấy cho ta, trong số hàng trăm hàng ngàn các tác phẩm tiếng Việt khác đă ra đời cùng thời với chúng, mà bây giờ ta chỉ biết tên, chứ không biết chúng có nội dung cụ thể là ǵ. Nói khác đi, công ơn của Trần Nhân tông đối với dân tộc ta quá sâu đậm, nhờ thế những tác phẩm như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca đă được trân trọng và giữ ǵn.

Thế nhưng, không phải chỉ v́ công ơn và uy tín cá nhân của vua Trần Nhân Tông, mà hai tác phẩm ấy được trân trọng và giữ ǵn. Hai tác phẩm đó được trân trọng và giữ ǵn c̣n v́ giá trị nội tại của bản thân chúng, đặc biệt là Cư trần lạc đạo phú. Có thể nói Cư trần lạc đạo phú là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đă đề ra và đă chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người Phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm Phật giáo Việt Nam được trích dẫn đích danh như một quyền uy, khi thiền sư Chân Nguyên tŕnh bày những vấn đề Phật giáo cho vua Lê Chính Ḥa vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục.[3] V́ thế tư tưởng của Cư trần lạc đạo phú đă giúp một phần nào cho sự tồn tại của nó trong quá tŕnh truyền đạt.

Ít lắm là trong khoảng 300 năm trở lại đây, thế kỷ nào Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca cũng đều được in và phổ biến rộng răi. Bản in xưa nhất chúng ta hiện c̣n là bản in năm 1745 do sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy ḿnh in lại và bản gỗ lưu lại chùa Liên Hoa ở kinh đô Thăng Long. Nó được in kèm chung sau tác phẩm Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên ở những tờ 47 –57. Trong bản in này có kèm theo Vịnh Hoa Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của chính Chân Nguyên. Việc in kèm theo như thế này chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in, chắc chắn phải đến từ một truyền bản của thiền sư Chân Nguyên, nghĩa là từ một truyền bản của nửa cuối thế kỷ thứ 17. Trước thế kỷ đó, số phận của Cư trần lạc đạo thế nào ta hiện nay chưa có một thông tin nào cả.

Nếu trước thế kỷ thứ 17 ta hiện chưa có thông tin ǵ về truyền bản của Cư trần lạc đạo phú Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca th́ sau thế kỷ thứ 18, tức sau lần in của ni cô Diệu Liên, vấn đề truyền bản của hai tác phẩm này tương đối rơ ràng. Trong lời dẫn cho lần in năm 1930 của Thiền tông bản hạnh, thiền sư Thanh Hanh (1840 –1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đă được in lại, và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa khi thiết lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo lưu hành vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 trong Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a6, An Thiền có ghi tên một tác phẩm gọi là Trần triều thập hội lục. Rơ ràng Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.

Trong ṿng hơn 300 năm trở lại đây, Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca đă được in nhiều lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư trần lạc đạo vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng như đất nước đang chuyển ḿnh qua một giai đoạn mới. Giá trị lư luận của tư tưởng Cư trần lạc đạo từ đó vẫn c̣n có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ thứ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt Phật tử tự nhận ḿnh là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm là thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là thiền sư Hải Âu v.v….

Hơn 300 năm qua, Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca đă được trân trọng, giữ ǵn và học tập như thế, th́ chắc chắn hơn 300 năm trước nó cũng có chung một diễm phúc. Bởi v́ nếu không có diễm phúc ấy, th́ qua ngọn lửa đốt sách bạo tàn của giặc Minh xâm lược trong gần 20 năm chiếm đóng, chúng chắc chắn đă chịu chung một số phận với các tác phẩm của dân tộc ta thời Lư Trần về trước. Hơn nữa, thời Lê sơ và thời Mạc là thời kỳ Phật giáo phục hưng mạnh mẽ trong phong trào dân tộc hóa với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lục của thiền sư Chân Nguyên, và đặc biệt việc thiết định và cổ xúy dùng tiếng Việt của thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.

 Trong một thời kỳ Phật giáo hoạt động sôi nổi và mạnh mẽ như vậy, việc học tập và nghiên cứu hai tác phẩm vừa nêu của vua Trần Nhân Tông chắc chắn đă xảy ra. Điều đáng tiếc là, cho đến lúc này ta vẫn chưa t́m ra một thông tin nào xác nhận về sự hiện diện của hai tác phẩm ấy trong giai đoạn đó. Dẫu thế, chúng chắc chắn đă được lưu truyền để đến cuối thế kỷ thứ 17 Chân Nguyên mới có dịp trích dẫn trong Kiến tính thành Phật của ḿnh. Nói khác đi chúng đă nằm trong ḍng chủ lưu của nền văn học và tư tưởng tiếng Việt. Cho nên, như đă nói, thật là một vinh dự cho nền văn học tiếng Việt của nước ta đă bắt đầu với ng̣i bút của một anh hùng dân tộc có những chiến công oanh liệt như Trần Nhân Tông và với những tác phẩm đă có một tác động sâu rộng trên truyền thống dân tộc, chứ không phải chỉ của Phật giáo, như Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca.

Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung tŕnh bày một số vấn đề tư tưởng và lư luận. Chúng đă dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ để phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó tiếng Việt đă trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có một vẻ đẹp của riêng nó. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đă lôi cuốn được sự chú ư của người đương thời, mà c̣n có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Tiếng Việt tự bản thân nó đă trở thành một ngôn ngữ văn học. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đă mang lại cho văn học Việt Nam.

Để có được hai tác phẩm ấy vào cuối thế kỷ thứ 13, tiếng Việt từ bao đời, hơn cả ngàn năm trước, từng là một ngôn ngữ văn học. Chúng đă kế thừa những thành tựu và tinh hoa của nền văn học trong hơn ngàn năm đó, nên đến ngày nay mỗi khi đọc lại, chúng ta vẫn cảm thấy chúng gần gũi, đẹp đẽ và dễ hiểu, khác hẳn với những câu văn ngọng nghịu khó chịu do người ngoại quốc ghi lại mới chỉ cách ta hơn 300 năm. Thực tế để có được giọng văn lư luận như đă xuất hiện trong Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca, tiếng Việt đă trải qua hàng ngàn năm thử thách và sử dụng, chứ không phải đến thời vua Trần Nhân Tông nó mới bắt đầu được đưa vào sự nghiệp sáng tác của thơ văn.

Quả vậy, nếu tiếng Việt không tồn tại trong hơn một ngàn năm đó, đối lập lại với tiếng Hán và trở thành một trong những bức trường thành chặn đứng mưu đồ Hán hóa do các nhà nườc Trung Quốc trong cùng thời gian đă ra sức quyết tâm thực hiện, th́ dân tộc ta ngày nay cũng không c̣n, chứ nói chi đến một nền độc lập nhà nước và một tiếng nói riêng biệt. Do thế, Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca là một kết tụ của những nỗ lực phi thường và đầy gian khổ trong quá tŕnh đấu tranh bi tráng để bảo vệ dân tộc và giữ vững chủ quyền quốc gia. Giá trị văn học của hai tác phẩm này từ đó càng nhân lên gấp bội.

 Do tính kết tụ vừa nói, không một ngôn ngữ nào trên thế giới bỗng chốc có thể nhảy lên vũ đài văn học, để trở thành một ngôn ngữ văn học. Ngay cả những ngôn ngữ lớn có văn bản lâu đời trên thế giới như tiếng Hán, tiếng Phạn, Hy Lạp v.v. cũng đều trải qua một quá tŕnh kiểu ấy, để từ những văn bản bói quẻ thô sơ hoặc những bài ca vịnh đơn giản, mà tiến lên thành những ngôn ngữ văn học nổi tiếng trên thế giới. Tiếng Việt ta cũng thế. Để có những tác phẩm lư luận có vẻ đẹp văn học như Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca, nó cũng đă trải qua một quá tŕnh kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết cho đến các mẩu chuyện trong Lục độ tập kinh Tạp thí dụ kinh, cho đến bài Giáo tṛ của thiền sư Đạo Hạnh. Cả quá tŕnh sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn tiếng nói dân tộc đă tạo cơ hội cho sự ra đời của hai tác phẩm vừa nêu.

Sự xuất hiện của tiếng Việt như một ngôn ngữ văn học, do thế, là một quá tŕnh đấu tranh gian khổ đầy thử thách và nguy cơ. Qua quá tŕnh đấu tranh đó, tiếng Việt đă chứng tỏ tính ưu việt của ḿnh, làm tiền đề cho sự xuất hiện của Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Không qua một quá tŕnh như thế th́ không bao giờ có được những tác phẩm kể trên. Đây là điểm mà những người nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ chú ư tới. Người ta cứ loay hoay đi t́m nguồn gốc chữ Nôm trong mấy bản văn bia c̣n lại của thời Lư Trần, rồi cứ đẩy lên đẩy xuống thời điểmï ra đời của thứ chữ này trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ thứ 13. Họ quên rằng để vào cuối thế kỷ thứ 13 có các tác phẩm như Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca th́ tiếng Việt và chữ Việt phải xuất hiện rất sớm, ít lắm cũng năm bảy trăm năm trở lên. Đây là một quá tŕnh bắt buộc có tính khách quan đối với bất cứ ngôn ngữ nào, chứ không phải chỉ riêng tiếng Việt ta. V́ vậy, nghiên cứu hai tác phẩm này chính là nghiên cứu quá tŕnh kết tụ của nó.

Ngày nay, ta không biết đích xác vua Trần Nhân Tông đă viết hai tác phẩm ấy vào thời điểm nào. Nhưng chắc chắn là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, qua nội dung của chính nó, phải được vua Trần Nhân Tông viết vào thời gian sau khi đă sống ở núi Yên Tử, tức sau tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), năm mà ĐVSKTT đă ghi “Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh”, v́ bài ca này đă nói tới việc :

                   Yên bề phận khó

    Kiếm chốn dưỡng thân

                   Khuất tĩnh non cao

                   Náu ḿnh sơn dă

                   Vượn mừng hủ hỷ

                   Làm bạn cùng ta

                   Vắng vẻ ngàn kia

                   Thân làm hỷ xả...

                   Đem ḿnh náu tới

                   Cảnh vắng ngàn kia

                   Dốc chí tu hành

                   Giấy sồi bô bả.

Viết như thế này, rất gần với những ǵ mà Huyền Quang tả về chùa Vân Yên và cuộc sống của vua Trần Nhân Tông ở đây:

          Cảnh tốt ḥa lành

          Đồ tựa vẽ tranh

          Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo

          Hèn chi vua Bụt tu hành...

          Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng

          Vượn bồng con kề cửa nghe kinh

          Nương am vắng Bụt hiện từ bi,

          gió hiu hiu mây nhè nhẹ

          Kề song thưa thầy ngồi thiền định,

          trăng vằng vặc núi xanh xanh...

          Mặc cà sa, nằm trướng giấy,

          màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương.

          Quên ngọc thực, bỏ hương giao

          cắp nạnh cà một ṿ, tương một hũ...

          Thầy tu trước đă nên Phật quả

          Tiểu tu sau c̣n vị tỳ kheo.

C̣n Cư trần lạc đạo phú, th́ thật khó mà xác định vua Trần Nhân Tông đă viết ra vào lúc nào trong cuộc đời ḿnh. Có người bảo là nó được viết ra trước lúc vua đi xuất gia, tức trước năm 1299. Chắc hẳn khi nói thế họ đă dựa vào hai câu mở đầu của bài phú này:

          Ḿnh ngồi thành thị

          Nết dụng sơn lâm

để khẳng định vua Trần Nhân Tông đang c̣n sống ở thành Thăng Long, mà ḷng vua đă hoàn toàn an nhàn tự tại như sống ở rừng núi. Nhưng cũng chính trong bài phú đó ở Hội thứ 5 ta đă gặp :

Thiền ngỏ năm câu, nằm nhăng trong quê Hà Hữu

Kinh xem ba biến, ngồi ngơi mái quốc Tân La

Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,

đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ

Lánh thị phi, ghê thanh sắc,

ngại chơi bời dặm liễu đường hoa

Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa,

hoặc chằm hoặc xể

Cơm cùng cháo, đói no đ̣i bữa, dầu bạc dầu thoa

 Viết như thế rơ ràng đây không phải là cuộc sống cung đ́nh thị thành, mà là cuộc sống dân dă rừng núi. Cho nên, thật khó mà dựa vào nội dung của bài phú này để xác định thời điểm ra đời của nó. Điều chắc chắn là nó được viết vào lúc vua Trần Nhân Tông đă có ít nhiều quan tâm đến núi Yên Tử. Ta biết trong Phật giáo đời Trần, Yên Tử có vị thế trung tâm. Thời ông nội ḿnh là vua Thái Tông đă từng tới đó. Khi c̣n trẻ vua Nhân Tông cũng đă có ư định lên sống ở đó. Dẫu sao đi nữa, chủ trương “Cư trần lạc đạo, Trần tục mà nên” vẫn đóng vai tṛ mà từ năm 1287, khi Tuệ Trung Trần Quốc Tung đă ấn chứng cho vua, th́ chủ trương đó càng trở nên rơ rệt. Nói cách khác, thời điểm ra đời của Cư trần lạc đạo phú phải từ sau năm 1287 trở đi và chắc chắn là sau năm 1288, khi quân thù đă bị quét sạch khỏi bờ cơi và cả nước đang ra sức lao động để kiến tạo cuộc sống ấm no cho gia đ́nh và bản thân người dân.

Bộ từ vựng của Cư trần lạc đạo phú gồm cả thảy 1688 hạng từ, kể luôn các tên đầu đề, tên các hội và bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú. Nếu chỉ kể riêng số từ vựng trong các hội th́ nó chỉ gồm 1623 hạng từ, trong đó có những hạng từ Việt xuất hiện khá nhiều lần như ḷng (18 lần), cho (13 lần), chẳng (13 lần), mới (12 lần, hay 11 lần), Bụt (10 lần).v. v..Và số 1623 hạng từ này nếu chúng ta thiết lập một bản từ gồm những tên người, tên đất, những từ chuyên môn và những từ phiên âm, chúng ta c̣n số hạng từ ít hơn nữa, tức khoảng hơn 1400 từ.

Chẳng hạn các từ như Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, bát nhă, chiêm bặc, chiên đàn, bồ đề, bồ tát, đàn việt, ưu đàm, Câu Chi, Diễn Nhă Đạt Đa. Đấy là những từ phiên âm của tiếng Phạn và chúng ta chỉ có 12 hạng từ thay v́ 26 hạng từ khi tách rời chúng ra thành từng hạng từ một. Các từ chuyên môn như bát phong, bát thức, cực lạc,đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, kim cương, vô lậu, lục căn, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, thái b́nh, thượng sĩ, trí tuệ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưởng lăo, viên giác, vô thường, vô minh, vô sinh, vô tâm, vô vi cũng thế. Nếu đưa chúng vào những hạng mục từ, ta chỉ có 32 hạng từ thay v́ có đến 64. Các tên đất, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Lâm Tế, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lăo, Thiên Cang, Thái Bạch cũng vậy.

Với số lượng trên dưới 1400 từ này, ta có một bộ từ vựng tương đối phong phú để nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Và đó là chỉ mới kể số hạng từ có trong Cư trần lạc đạo phú. Nếu gộp luôn số hạng từ của Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà số lượng lên đến 336, trong đó trừ những trùng lặp đă có đến 238 hạng từ. Gộp chung lại với Cư trần lạc đạo phú, ta sẽ có một bộ từ vựng với gần 2000 từ, tức cỡ loại từ điển nhỏ, và cho ta một nhận thức tương đối hoàn chỉnh về ngôn ngữ dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông, tức thế kỷ thứ 13, cách chúng ta gần 700 năm.

 Đến đây chúng ta cần phân tích sơ bộ hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của vua Trần Nhân Tông. Nhưng sự nghiệp văn học của nhà vua không chỉ giới hạn vào các tác phẩm tiếng Việt. Nhà vua c̣n là tác giả của 30 bài thơ và đoạn thơ, 22 lá thư viết cho vua quan nhà Nguyên cùng hai bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm và viện Kỳ Lân. Trong hai bài giảng này cũng có một số bài thơ và đoạn thơ dùng để trả lời cho các câu hỏi mà người đối thoại đă đặt ra, và vẫn chưa được kê vào số lượng thơ và đoạn thơ của vua Trần Nhân Tông. Nói thế tức cũng muốn nói số lượng tác phẩm vua Trần Nhân Tông c̣n lại cho chúng ta ngày nay không phải là ít, dù rằng phần lớn chúng đều được viết bằng chữ Hán.

Với sự nghiệp thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông, hầu hết những nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều thống nhất coi vua Trần Nhân Tông là một “tên tuổi lẫy lừng”trong lănh vực hoạt động sáng tạo này. Thực tế, đọc các bài thơ chữ Hán do vua Trần Nhân Tông sáng tác, người ta không thể không cảm nhận những vẻ đẹp khác nhau của đất nước, từ một buổi chiều làng quê yên tĩnh cạnh nơi ở của hoàng gia tại phủ Thiên Trường ở đồng bằng sông Hồng :

Xóm trước thôn sau tợ khói nḥa

Nửa không nửa có mé chiều sa

Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

C̣ trắng từng đôi ruộng xuống sà

(Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lư quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền)

cho đến một ngôi chùa tại Lạng Châu thuộc miền trung du Bắc bộ :

Chùa cổ đ́u hiu thu khói mờ

Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa

Nước quang non lặng bay âu trắng

Gió đứng mây đùa cây đỏ thưa.

(Cổ tự thê lương thu ái ngoại

Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ

Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá

Phong định vân nhàn hồng thụ sơ)

Ngay trong cuộc sống thường nhật, một ánh trăng ban đêm cùng tiếng rơi tí tách của sương thu trên lá cây trước sân nhà và xa xa tiếng chày nện vải từ một ngôi làng dệt nào đưa tới đă gợi nên những xao xuyến trong tâm hồn, cảm thấy vẻ đẹp của một đất nước thanh b́nh.

Đầy sách giường song chếch bóng đèn

Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm

Tiếng chày thức dậy đâu không biết

Hoa mộc trên cành trăng mới lên.

(Bán song đăng ảnh măn sàng thư

Lộ trích thu đ́nh dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)

Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái b́nh. Năm vua ra đời cũng chính là thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa mang lại nền ḥa b́nh để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống, và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) th́ vua Trần Nhân Tông đă phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả “uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đ́nh, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”, như Trần Hưng Đạo đă mô tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỵ (1257) vẫn c̣n đó, mà nhà vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội ḿnh vào một ngày xuân trước cuộc chiến tranh 1285.

          Hùm gấu nghiêm ngh́n cửa

          Áo măo bảy phẩm đầy

          Lính bạc đầu c̣n đó

          Nguyên Phong măi kể say

          (Tỉ hổ thiên môn túc

          Y quan thất phẩm thông

          Bạch đầu quân sĩ tại

          Văng văng thuyết Nguyên Phong)

Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đă từng cầm quân xông pha trận mạc. Thực tế, ta đă thấy nhà vua đă từng trực tiếp chỉ huy những trận đánh lớn, sống gần gũi với tướng lĩnh và binh sĩ, nên dễ cảm thông, thương xót cho những người vợ phải sống lẻ loi, khi người chồng v́ nhiệm vụ phải ra mặt trận ở một nơi xa xôi nào đó của tổ quốc.

       Ngủ dậy vén rèm hoa thấy rơi

          Hoàng ly không hót giận xuân rồi

          Lầu tây vô cớ vầng dương lặn

          Bóng ngả về đông hoa lẫn chồi.

          (Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng

          Hoàng ly bất ngữ oán đông phong

          Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại

          Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông)

Chiến tranh vệ quốc chống lại các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta rất nhiều lần, c̣n gợi lên những nỗi buồn như thế, huống nữa những cuộc chiến tranh để bảo vệ an ninh biên giới do các thế lực nhỏ yếu hơn ta quấy phá. Trong một bài thơ viết nhân chiến dịch b́nh định Ai Lao vào mùa xuân năm Canh Dần (1290), mà v́ nghĩa vụ bảo vệ cuộc sống an lành cho nhân dân và một biên cương ổn định cho tổ quốc, vua Trần Nhân Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Thế mà vua vẫn tỏ ra không thích thú ǵ:

          Hoa sóng tung lên buồm gấm bay

          Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay

          Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến

          Trăng sáng Cửu Than rồng có đây

          Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ

          Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy

          Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến

          Vội vă nam nhi chi lắm vầy.

          (Cẩm phàm khinh sấn lăng hoa khai,

          Bồng để yêm yêm thủ bất đài.

          Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,

          Cửu than minh nguyệt hữu long lai.

          Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,

          Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.

          Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,

          Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.)

Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương v́ lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5 –59a1 đă ghi: “Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui, vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói: ‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, v́ sau khi giặc rút lui th́ ba vùng (Ai Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp - LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ v́ có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần nghĩ kịp được”.

Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ v́ quyền lợi của đất nước mà vua Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đă truyền ngôi cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông c̣n phải thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia của các tướng Phạm Ngũ Lăo, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có. Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa măn những tham vọng cá nhân của người lănh đạo.

Trong cuộc đời ḿnh, vua Trần Nhân Tông đă từng sống qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, nên hơn ai hết đă hiểu thế nào là những nỗi khổ do chiến tranh đem lại cho phía ta cũng như phía địch. Việc sử dụng chiến tranh để chống lại chiến tranh chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ, khi mọi biện pháp khác không thể dùng được nữa. Do vậy, tự thâm tâm vua Trần Nhân Tông không bao giờ tán thành chiến tranh. Và sự không tán thành này xuất phát từ một cái nh́n về tính chung đồng loại của những con người dù ở chiến tuyến nào đi nữa, họ cũng đều có xúc cảm, suy nghĩ, nguyện vọng giống nhau. Không ít người từ hơn 500 năm trở lại đây, đă ca ngợi tính nhân bản và cao thượng của hành động cởi ngự bào phủ lên thủ cấp của tên tướng giặc Toa Đô, vừa bị quân ta chém đầu trong trận Tây Kết thứ hai năm 1285, do chính bản thân vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy.

Từ một sự chán ghét chiến tranh như vậy, vua Trần Nhân Tông tập trung mọi nỗ lực của ḿnh để xây dựng một nền ḥa b́nh lâu dài, không chỉ cho đất nước và dân tộc ḿnh, mà c̣n cho các dân tộc và quốc gia láng giềng, đặc biệt là đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ngay khi khói lửa của cuộc chiến tranh năm 1288 đang c̣n vướng vất trên các chiến trường Thăng Long, Bạch Đằng, lúc tiếp phái bộ Lưu Đ́nh Trực và Lư Tư Diễn, do Hốt Tất Liệt gửi qua để đ̣i lại các tướng tá giặc như Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn do ta bắt được, vua Nhân Tông đă nói đến

          Khí ḥa góc đất đều lan tới

          Bụi chiến sông trời rửa sạch trơn.

          (Thác khai địa giác giai ḥa khí

          Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần)

trong bài thơ tiễn đưa phái bộ này, thể hiện ư chí và nguyện vọng bảo vệ và xây dựng ḥa b́nh của nhân dân Đại Việt và của chính bản thân nhà vua. Đây là một nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với ḥa b́nh. Thật cũng lạ, một con người đă từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến tranh và đă có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với ḥa b́nh. Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời, ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho ḥa b́nh, nhất là một nền ḥa b́nh ở biên cương phía Nam của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm Thành.

Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xă hội, “càng tu hành càng xa với thực tế xă hội, càng xa với ư muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ” . Thế mà chính trong giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đă nối dài trên 200 cây số, và nền ḥa b́nh Việt Chiêm đă duy tŕ được gần mấy chục năm, làm tiền đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ:

          Phải trái ḷng theo hoa sớm rơi

          Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi

đă không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lư luận của tư tưởng vua Trần Nhân Tông, rồi vội vă b́nh luận đấy là những “câu thơ cực kỳ chán đời”, thể hiện “tư tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo... trong chế độ điền trang, sự phú quư cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”. B́nh luận thế là họ đă quên vua Trần Nhân Tông là một trong “những tên tuổi lẫy lừng nhất” của những nhà thơ nhà văn đời Trần. Và những tên tuổi lẫy lừng nàyï “đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết thắng và một ư chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”. Cho dù những b́nh luận trên được phát biểu v́ mục đích ǵ, có phần nào gây nhiễu loạn thông tin hoặc sai lệch quá khứ đi chăng nữa, th́ sự nghiệp vua Trần Nhân Tông, những đóng góp của cá nhân và triều đại nhà vua đối với dân tộc là không thể phủ nhận, là giai đoạn đáng ghi công, đáng tự hào của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ta đă thấy trong tư tưởng của vua Trần Nhân Tông có một cái nh́n về thời gian một chiều, một ngày đă qua là không bao giờ trở lại, như một bài thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung đă từng nói tới:

          Trăng lặn trời tây khôn bóng lại

          Nước trôi đổ biển sóng đâu quây

          (Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh

          Đông lưu phó hải khởi hồi ba)

Cho nên đối với bản thân ḿnh cũng như đối với mọi người, thời gian trở nên rất quư báu, cuộc đời con người quá ngắn ngủi cho một công việc phải làm:

          Thời gian dễ trôi qua

                   Mạng người khôn dừng lại

          (Thời quang dung dị quá

          Nhân mạng bất định lưu)

V́ thế, sự sống trở nên quư giá. Một ngày đi qua không bao giờ chúng ta có lại. Chúng ta phải huy động toàn bộ thời gian cho những việc có ích cho ḿnh cũng như cho người. Ta tưởng tượng dân tộc ta vào thời đó sống vội vă dồn dập. Họ sống vội vă dồn dập không phải v́ cuộc sống là một đày ải mà ta cố hưởng lạc để cho xong đời. Họ sống vội vă dồn dập v́ cuộc sống quá quư báu, không thể để nó trôi qua một cách vô vị, phí hoài. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc ta thấy ánh lên một sự thôi thúc cho cuộc sống, cảm thấy nếu ḿnh để mất đi một phút giây là mất đi một phần của sự sống. Họ hối hả xây dựng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống và gia đ́nh họ. Cả một đất nước tràn ngập, chứa chan sự lạc quan yêu đời. Chính v́ quá lạc quan yêu đời mới cảm thấy thời gian dễ mất đi và cuộc sống của chúng ta không bao giờ trở lại, như vua Trần Nhân Tông thường nhắc nhở:

           Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng

          Đừng để tầm thường xuân luống qua

          (Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú

          Bất thị tầm thường không quá xuân)

Lâu nay nhiều người thường cho rằng quan niệm thời gian của phương Đông là một quan niệm thời gian ṿng tṛn, thời gian luân hồi, cứ thịnh suy bĩ thái, rồi thịnh suy bĩ thái kế tục nhau, giống như xuân hạ thu đông, rồi xuân hạ thu đông. Nhưng họ đâu biết rằng bên cạnh quan niệm thời gian ṿng tṛn ấy, c̣n hiện diện quan niệm thời gian một chiều. Cứ mỗi ngày đi qua là một ngày vĩnh viễn mất đi không bao giờ trở lại, giống như mặt trăng lặn về phía tây rồi không bao giờ có mặt trăng thứ hai của nó. Tổ tiên ta từ xưa đă có một quan niệm thời gian rất gần với quan niệm thời gian của thời hiện đại chúng ta. Có người đă diễn tả quan niệm thời gian này bằng một h́nh ảnh rất sống động. Đó là thời gian giống như chiếc xe. Chiếc xe chỉ có một hướng đi tới, giống như thời gian một chiều. Nhưng để chiếc xe đi tới được th́ phải có 4 chiếc bánh quay tṛn bên dưới nó. Cũng vậy, thời gian một chiều đi tới, nhưng nó đi tới trên những thời gian ṿng tṛn, tức xuân hạ thu đông, tức thịnh suy bĩ thái.

Xuất phát từ quan niệm thời gian như vậy, mà trong chiến tranh đất nước Đại Việt đă làm nên một chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng oanh liệt. Và trong thời b́nh họ đă xây dựng nên một cuộc sống chỉ mấy năm sau chiến tranh với những cánh đồng lúa trĩu hạt, những nương dâu xanh ngắt bốn mùa và những chiếc cầu thượng gia hạ kiều, đă làm cho tên sứ Nguyên Trần Phu phải nể phục. Quân và dân Đại Việt đă sống theo những ǵ mà vua Trần Nhân Tông đă đề ra trong Cư trần lạc đạo phú.

          Dựng cầu đ̣, xây chiền tháp,

          Ngoại trang nghiêm sự tướng hăy tu...

          Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,

                   Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

Dân tộc ta vào thời đại Trần Nhân Tông đă chiến đấu và xây dựng hăng say như thế, thực tế không phải v́ danh v́ lợi, v́ thị v́ phi, mà chính v́ bản thân cuộc sống. Cuộc sống ngắn ngủi mà họ cho là đáng quư, đáng sống, cho nên người dân Đại Việt cố gắng sống xứng đáng với cuộc sống quư giá ngắn ngủi của ḿnh. Chính vua Trần Nhân Tông cũng đă nói đến việc “chuộng công danh, lồng nhân ngăi, thực ấy phàm ngu” trong Cư trần lạc đạo phú. Cho nên ta không ngạc nhiên khi ở tại sơn pḥng vua Trần Nhân Tông đă cảm xúc và viết ra bài thơ :

          Phải trái ḷng theo hoa sớm rơi

          Lợi danh tâm lạnh mưa đêm thôi

          Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng

          Một tiếng chim kêu xuân hết rồi

          (Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

          Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

          Hoa tận, vũ t́nh sơn tịch tịch

          Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn)

Quên danh, quên lợi, quên thị phi, vua Trần Nhân Tông vẫn nhớ đến mùa xuân. Và chỉ một tiếng chim hót vào một buổi sáng nào đó, sau trận mưa đêm làm hoa rụng hết, đă làm vua giật ḿnh, mùa xuân đă qua rồi. Thời gian trôi đi chóng vánh, mới ngày nào đó năm cũ mới hết, vậy mà mùa xuân bây giờ đă không c̣n thấy nữa. Cảm thức thời gian này là một trong những cảm thức đă chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chính bản thân vua Trần Nhân Tông. Trong Cư trần lạc đạo phú vua hằng mong

          Nửa ngày rồi, tự tại thân tâm

Thế mà công việc cứ dồn dập đổ tới tưởng như không bao giờ dứt. Ngay cả khi vua đến sống những nơi có vẻ như xa lánh hết mọi buộc ràng, công việc vẫn theo nhau kéo tới. ĐVSKTT 6 tờ 37a5-9 kể chuyện: “Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chính chưởng, là cận thần của vua Trần Nhân Tông. Trong khoảng Hưng Long (1293 –1314), chức hành khiển thiếu người, Thượng hoàng (tức vua Trần Anh Tông, LMT) chầu vua Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm. Vua Nhân Tông bảo Quốc Phụ làm được, Thượng hoàng thưa: ‘Nếu lấy ngôi thứ mà nói th́ được, nhưng chỉ thích uống rượu thôi’, vua Nhân Tông không nói ǵ. Bèn không dùng”. Và ta cũng thấy ở trên, trước lúc đi sứ ở Chiêm Thành vào tháng 10 năm Kỷ Măo (1303) Đoàn Nhữ Hài đến gặp vua Trần Nhân Tông cũng tại chùa Sùng Nghiêm này.

 Một cuộc sống đầy ắp những công việc như thế, rơ ràng không v́ lợi cho bản thân ḿnh, và tất nhiên càng không thể v́ danh. Có ǵ là lợi, khi bản thân ḿnh th́ “mặc cà sa nằm trướng giấy”, “cà một ṿ tương một hũ”, lợi đă không có th́ làm ǵ có danh. V́ danh thường kết với lợi. Nhưng nói thế không phải để buông xuôi. Chỉ có vấn đề là không đặt chúng thành mục đích của cuộc sống. Cuộc sống của vua Trần NhânTông và nhân dân Đại Việt thời đại ấy có một mục đích khác, đó là “tự tại thân tâm”, là “an nhàn thể tính”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là một sự theo đuổi hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là ǵ, th́ mỗi người phải tự trả lời lấy. Vua Trần Nhân Tông đă xuất gia trên núi Yên Tử cũng như trong khi cầm quân chiến đấu với giặc thù ở Tây Kết, có thể vua đă cảm thấy ḿnh tự tại an nhàn. Ai giới hạn ḿnh mà ḿnh không tự tại nếu không phải là chính ḿnh. Ai ngăn trở ḿnh mà ḿnh không an nhàn nếu không phải là chính ḿnh. Ḿnh phải cải tạo chính ḿnh và thế giới để tạo cho ḿnh tự tại và an nhàn. Đây chính là thông điệp mà thơ văn Trần Nhân Tông đă gửi đến cho chúng ta hôm nay và bao nhiêu thế hệ trước nữa:

          Ai buộc mà đi giải thoát t́m

          Không phàm sao phải kiếm thần tiên

          Vượn đùa ngựa mỏi người già phải

          Như cũ am mây một sập thiền

          (Thùy trược cánh tương cầu giải thoát

          Bất phàm hà tất mích thần tiên

          Viên nhàn mă quyện nhân ưng lăo

          Y cựu vân trang nhất tháp thiền)

Cuộc đời vua Trần Nhân Tông và thông qua cuộc đời này, ta thấy nhân dân Đại Việt lúc ấy đă sống vui vẻ trong đất nước ḿnh, hăng say lao động và chiến đấu để bảo vệ cuộc sống ấy. Họ không t́m một thế giới khác để thoát ly, một thế giới khác để mơ tưởng tới. Cuộc sống ở đời này quá ngắn ngủi đối với ho,ï nên họ cố sống cho hết những giây phút vàng ngọc của cuộc đời ấy qua từng chi tiết nho nhỏ của nó. Có thể đó là những đĩa bánh cuốn mà vua Trần Nhân Tông đăi tên sứ giả giặc Trương Lập Đạo vào những ngày vừa mới quét sạch quân thù ra khỏi đất nước

          Xong múa giá chi, thử áo xuân

          Hôm nay huống gặp tiết Cỏ xanh

          Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc

          Phong tục từ xưa của nước Nam

          (Thác chi vũ băi thí xuân sam

          Huống trĩ kim triêu tam nguyệt tam

          Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bĩnh

          Tùng lai phong tục cựu An Nam)

hay chỉ đơn giản đứng tựa lan can lặng lẽ ngắm nh́n núi xa vào một buổi chiều:

          Chim hót nhởn nha hoa liễu dày

          Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay

          Chuyện đời khách đến thôi không hỏi

          Cùng tựa lan can ngắm núi mây

          (Dương liễu hoa thâm điểu ngữ tŕ

          Họa đường thiền mẫn mộ vân phi

          Khách lai bất vấn nhân gian sự

          Cọng ỷ lan can khán thúy vi)

Thơ văn chữ Hán của vua Trần Nhân Tông đúng đă thể hiện được “một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm ḷng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, ḷng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ”, chứ không phải chỉ chứa đựng những ư tưởng “cực kỳ chán đời” như có người đă nhận xét. Vị thế văn học của vua Trần Nhân Tông từ đó là rất lớn. Với Cư trần lạc đạo phú Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Trần Nhân Tông là người mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học Việt Nam, đó là giai đoạn văn học, mà tiếng Việt là chủ ngữ. Không những thế, với những vần thơ chữ Hán và những tác phẩm văn xuôi sắc sảo, vua Trần Nhân Tông đă cống hiến cho ta những cảm