|
TUYỂN TẬP
TRẦN NHÂN TÔNG
LÊ MẠNH THÁT
Tựa
Vua
Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn,
nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đă trực tiếp lănh đạo quân
và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động
được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hăn, thiện
chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử,
Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh
cao của thời đại. Không những thế, vua đă mở rộng biên cương của tổ
quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của
dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau măi măi ghi nhớ và biết ơn.
Thêm
vào đó, nền văn hóa Việt Nam thời đại vua Trần Nhân Tông đă xuất
hiện hai sự kiện có ư nghĩa hết sức trọng đại. Thứ nhất là việc dùng
tiếng Việt như một ngôn ngữ hành chánh chính thức của triều đ́nh
cùng với tiếng Hán. Đây là lần đầu tiên việc sử dụng tiếng Việt đă
được ghi lại bằng minh văn. Các triều đại trước chắc chắn đă ít
nhiều dùng tiếng Việt, nhưng cho đến nay ta không có bất cứ một xác
minh nào. Chính dưới thời vua Nhân Tông, mà một sự kiện như thế đă
chính thức được chép lại. Phải nói rằng, tiếng Việt sử dụng chính
thức này đă tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt các tác phẩm văn
học tiếng Việt từ Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An,
cho đến bản dịch Kinh Thi của Hồ Quí Ly, cùng các bài thơ của
Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang, nhà sư chùa An Quốc. Đặc biệt là
Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trăi và bản dịch kinh Phật thuyết
đại báo phụ mẫu ân trọng và Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng
tiếng Việt xưa nhất hiện c̣n, có thể là của thiền sư Viên Thái.
Sự
kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đă thành lập ḍng thiền Trúc
Lâm Yên Tử thuần túy Việt Nam với chủ trương Cư trần lạc đạo.
Triều vua Trần Nhân Tông có những biến động chính trị, quân sự to
lớn qua việc hai lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông và việc
sát nhập hai châu Ô, Lư vào bản đồ Đại Việt, cùng những biêÙn động
học thuật với việc sử dụng tiếng Việt như một ngôn ngữ chính thức
cùng với tiếng Hán, th́ tất nhiên phải có những biến động về tư
tưởng. Giữa những biến động này chứng tỏ có quan hệ biện chứng.
Không thể có biến động này xảy ra mà không kéo theo một biến động
khác xuất hiện.
Chính
từ những biến động đó, mà ḍng thiền Trúc Lâm ra đời, không những
làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam mấy trăm năm tiếp
theo, mà c̣n tạo tiền đề cho sự nghiệp nam tiến của dân tộc trong
mấy trăm năm ấy. Không phải ngẫu nhiên vị sáng tổ của phái Thảo
Đường là vua Lư Thánh Tông mở đầu cho sự nghiệp Nam tiến vào năm
1069. Rồi vua Trần Nhân Tông đặt nền móng cho sự nghiệp đó với việc
thành lập hai châu Thuận và Hóa. Và gần đúng 400 năm sau, Bồ tát
giới Hưng Long Nguyễn Phúc Chu đă chính thức sai tướng Nguyễn Hữu
Cảnh đi thiết lập thành phố Sài G̣n và gầy dựng Nam Bộ thành một bộ
phận không thể phân ly của tổ quốc Việt Nam. Phải có một lư luận
đằng sau những người con ưu tú này của dân tộc. V́ Cư trần lạc
đạo phú của vua Trần Nhân Tông được bảo tồn qua các truyền bản
lưu giữ trong các tự viện của ḍng thiền Trúc Lâm, lần đầu
tiên ta có một văn bản để nghiên cứu cơ sở lư luận vừa nói.
Sự
nghiệp văn trị và vơ công của vua Trần Nhân Tông vĩ đại như thế.
Trải qua 700 năm lịch sử, sự nghiệp này đă được nhiều lần đánh giá
và ca ngợi, từ những người đồng thời như Trương Hán Siêu, Trần Minh
Tông, Phạm Sư Mạnh cho đến những người về sau như Nguyễn Trăi, Ngô
Sỹ Liên, Lê Quí Đôn, Ngô Th́ Nhiệm v.v… Và sự nghiệp văn học và tác
phẩm của vua Trần Nhân Tông cũng đă từng bước được sưu tập như
Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Tam tổ thực lục,... Nhưng
cho đến nay, trong công tác sưu tập này vẫn c̣n có những thiếu sót.
Chẳng hạn toàn bộ các văn thư ngoại giao do vua Trần Nhân Tông viết
cho vua quan nhà Nguyên vẫn chưa được thu thập và công bố đầy đủ,
tối thiểu là trong giới hạn của những nguồn tư liệu hiện tại bảo lưu
và cho phép.
Chúng
tôi, do thế, đề nghị giới thiệu lại sự nghiệp vơ công và văn trị
cùng những tác phẩm văn học, mà vua Trần Nhân Tông đă để lại cho
chúng ta đến ngày hôm nay. Toàn tập Trần Nhân Tông ra đời là
một thể hiện nỗ lực ấy. Toàn tập này được chia làm hai phần.
Phần đầu giới thiệu tổng quát sự nghiệp vơ công và văn trị qua 9
chương nghiên cứu từng vấn đề, từ tuổi trẻ cho đến vai tṛ nhà vua
trong hai cuộc chiến tranh 1285 và 1288, cũng như trong việc mở
mang bờ cơi, sử dụng tiếng Việt và thành lập ḍng thiền Trúc Lâm Yên
Tử. Phần hai công bố các tác phẩm văn học từ thơ phú, văn xuôi, bài
giảng, ngữ lục cho đến các văn thư ngoại giao, nhằm cung cấp tư liệu
cho những ai quan tâm nghiên cứu nhiều mặt về lịch sử Việt Nam nói
chung và bản thân vua Trần Nhân Tông nói riêng.
Cuối
cùng, để cung cấp tài liệu tham khảo và kiểm soát, chúng tôi cho in
lại toàn bộ các văn bản chữ Hán và Quốc âm, mà chúng tôi sử dụng để
phiên âm hay dịch nghĩa. Trong trường hợp có nhiều bản khác nhau,
chúng tôi chọn những bản xưa nhất hiện có làm bản đáy và cho in, c̣n
các bản khác th́ được dùng làm khảo dị.
Toàn tập này về cơ bản hoàn thành vào năm
1977, nhưng đến nay mới được công bố trọn vẹn. Tuy vậy, chỉ có một
điều đáng tiếc là trong số các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông do
chúng tôi sưu tầm được trong những năm 1974-1975 và trước đó, th́
trong lần công bố này thiếu mất bản dịch chú Lăng Nghiêm do
Bồ Đề Thất Lỵ (Bodhisri)
truyền đạt, Bảo Sát bút thọ và vua Trần Nhân Tông nhuận sắc. Đây có
thể nói là một trong những bản dịch cuối cùng từ tiếng Phạn ra tiếng
Hán tại nước ta và của Viễn Đông và có sự tham gia của nhà vua.
Bản
chúng tôi t́m thấy tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên là một bản in thời
Cảnh Hưng không c̣n nguyên vẹn lắm. Những trang đầu có lời tựa đă bị
mất, chỉ c̣n tờ cuối. C̣n năm đệ chú Lăng Nghiêm th́ bốn đệ
đầu c̣n nguyên, đệ cuối cùng bị rách và chỉ c̣n đoạn phiến. Về phần
Thập chú cũùng bị mất. Sau mỗi cụm từ Phạn in cỡ chữ lớn có
hai hàng chữ Hán dịch nghĩa in cỡ chữ nhỏ. Rất tiếc bản này đă bị
thất lạc trong năm 1984. Chúng tôi hy vọng những ai đang giữ bản in
ấy, v́ lợi ích chung của nền học thuật nước nhà, xin công bố, để làm
tư liệu nghiên cứu cho việc t́m hiểu không những chính các đóng góp
của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và Phật giáo, mà c̣n lịch sử
văn hóa và tư tưởng Việt Nam nói chung.
Vạn Hạnh
Tiết
trùng dương năm Kỷ Măo
Lê
Mạnh Thát
|