TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 1 ]LÊ MẠNH THÁT |
|
II. NGHIÊN CỨU VỀ LỤC ĐỘ TẬP KINH
Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành văn thời Hùng Vương còn để lại cho đến nay qua một bài Việt ca duy nhất đang bàn cãi[26] thì lịch sử văn học và văn hóa Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lý Nam Đế có thể được nghiên cứu qua một loạt những tác gia lớn như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu, trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng Hội với Lục độ tập kinh. Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ghi lại tình tiết 100 trứng của truyền thuyết khởi nguyên dân tộc ta[27]. Lục độ tập kinh cũng là tác phẩm đầu tiên và xưa nhất ngoài bài Việt ca, còn bảo lưu được một số trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt, và cung cấp một lượng đáng kể các tá âm cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ, và phục chế lại diện mạo tiếng nói ấy cách đây 2.000 năm. Lục độ tập kinh còn là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v… làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh còn là văn bản thiết định những chủ đề tư tưởng lớn của Phật giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát triển tư duy Phật giáo Việt Nam, mà thành quả đầu tiên phát hiện cho đến nay là sáu lá thư trao đổi giữa Lý Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh vào khoảng những năm 450[28]. Lục độ tập kinh vì thế là một tác phẩm văn học lớn không chỉ của lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn là của lịch sử văn học tư tưởng và văn hóa dân tộc. Có thể nói cùng với Mâu Tử Lý hoặc luận và Cựu tạp thí dụ kinh, nó kiến tạo nên giai đoạn văn học đầu tiên của lịch sử văn học 2.000 năm Việt Nam, tập hợp những thành tựu và thắng lợi đầu tiên trong cuộc đọ sức sống còn đầy cam go và khốc liệt với kẻ thù, làm nền tảng cho những cuộc đấu tranh sắp tới, mà đỉnh cao huy hoàng là sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế vào năm 544, khẳng định sự độc lập không chỉ về mặt chính trị kinh tế, mà còn về mặt tư tưởng văn hóa. Nó đã trở thành một bức trường thành, mà chủ nghĩa xâm lược văn hóa Trung Quốc không vượt qua được. Lục độ tập kinh do đó có một vị thế xung yếu không chỉ của lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn của lịch sử văn học, tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Xung yếu như vậy, song cho đến lúc này vẫn chưa có một bản dịch tiếng Việt hoàn chỉnh và công bố rộng rãi làm tư liệu nghiên cứu không những cho những người quan tâm đến lịch sử và giáo lý Phật giáo Việt Nam, mà còn cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử chính trị, tư tưởng, văn hóa và ngôn ngữ dân tộc. Đặc biệt hơn nữa là Lục độ tập kinh đã được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Pháp từ lâu[29]. Và những mẫu chuyện do nó cung cấp đã lưu hành rộng rãi trong sinh hoạt văn học và tôn giáo nước ta, nếu không phải là từ thời Mâu Tử, thì cũng từ thời Chân Nguyên trở đi. Do đó có một yêu cầu bức thiết công bố bản dịch trọn vẹn và hoàn chỉnh Lục độ tập kinh nhằm góp phần vào việc nghiên cứu bản sắc tư tưởng văn hóa dân tộc và Phật giáo Việt Nam. Trước khi công bố bản dịch, chúng tôi đề nghị tiến hành nghiên cứu tình trạng văn bản của Lục độ tập kinh cùng nội dung tư tưởng và những liên quan của nó với văn bản học Việt Nam. Từ đó, nó giúp ta tìm hiểu lại những sinh hoạt tư tưởng học thuật của không những Phật giáo, mà còn của dân tộc thời Lục độ tập kinh là một bản kinh tiếng Việt. Đặc biệt sự có mặt của một loạt các cấu trúc tiếng Việt cổ, của những nhận định về các xu thế tư tưởng ở Việt Nam thời nó, của các cải biên, thậm chí hư cấu nên các truyện mới. Bản nghiên cứu này chia làm 8 phần. Phần I, ghi lại các mẫu tin kinh lục về quá trình truyền bản của Lục độ tập kinh cùng số quyển, niên đại và tên gọi. Phần II đề nghị xem xét việc Khương Tăng Hội đã dùng bản đáy nào cho công tác dịch bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay. Từ đấy phát hiện ra một số cấu trúc ngữ học không bình thường, đã trở thành đề tài bàn cãi của phần III. Phần IV thử tìm hiểu bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt có khả năng gồm những gì. Phần V nghiên cứu những cải biên và hư cấu có thể của Lục độ tập kinh. Phần VI và VII mô tả một số tư tưởng và liên hệ của bản kinh với tư tưởng và văn học dân tộc ta. Phần cuối là mấy tổng kết sơ bộ.
1. VẤN ĐỀ TRUYỀN BẢN TÊN GỌI VÀ NIÊN ĐẠI
Về Lục độ tập kinh, bản kinh lục xưa nhất hiện còn là Xuất Tam tạng ký tập 2 ĐTK 2145 tờ 7a27-b1 đã ghi thế này: “Lục độ tập kinh 9 quyển, hoặc gọi Lục độ vô cực kinh, hoặc gọi Độ vô cực tập, hoặc gọi Tạp vô cực kinh (...) Thời Ngụy Minh đế (228-240) sa môn Thiên Trúc Khương Tăng Hội dịch ra vào đời Ngô chúa Tôn Quyền (222-252) và Tôn Lượng (253-258)[30]”. Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 326a21 xác nhận Khương Tăng Hội có dịch Lục độ tập ở chùa Kiến Sơ. Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục 6 ĐTK 2146 tờ 144a11 vào năm Khai Hoàng thứ 14 (585) dưới mục Tây phương chư thánh hiền sở soạn tập đã ghi: “Lục độ tập 8 quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch”. Năm Khai Hoàng thứ 17 (597), Phí Trường Phòng viết Lịch đại tam bảo ký 5 ĐTK 2034 tờ 36b24 đã nói: “Năm Thái Nguyên thứ nhất (251) ở Dương đô chùa Kiến Sơ dịch các kinh Lục độ tập v.v... 4 bộ 16 quyển”. Hơn mười năm sau vào năm Nhân Thọ thứ 2 (603) Ngạn Tôn soạn Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2147 tờ 161b7 lại xếp “Lục độ tập 8 quyển, Khương Tăng Hội đời Ngô dịch” vào mục Hiền thánh tập truyền. Tỉnh Thái cũng ghi như vậy trong Chúng kinh mục lục 2 ĐTK 2148 tờ 195a28 viết năm Lân Đức thứ nhất (664). Đạo Tuyên soạn Đại đường nội điển lục 2 ĐTK 2149 tờ 230a6-c23 chép: “Lục độ tập kinh 9 quyển, một chỗ gọi Lục độ vô cực kinh, một gọi Độ vô cực kinh, một gọi Tạp vô cực kinh. Xem Trúc Đạo tổ lục và Tam tạng ký (...) Đời Tề vương nhà Ngụy trong năm Chính Thỉ (241-249) sa môn Thiên Trúc Khương Tăng Hội (...) ở chùa Kiến Sơ dịch ra...” Minh Thuyên viết Đại châu san định Chúng kinh mục lục lược ghi ý kiến của Đạo Tuyên, nói: “Lục độ tập kinh 1 bộ 8 quyển 145 tờ, một tên Lục độ vô cực kinh, một tên Độ vô cực kinh, một tên Tạp vô cực kinh. Trên đây do Khương Tăng Hội đời Ngô dịch ở Vũ Xương. Rút từ Nội điển lục”. Tỉnh Mại soạn Cổ kim dịch kinh đồ ký 1 ĐTK 2152 tờ 352a26-b22 ghi: “Sa môn Khương Tăng Hội là con trưởng của đại thừa tướng nước Khương Cư (...) vào năm Thái Nguyên thứ 2 nhà Ngô nhằm năm tân mùi ở Dương đô dịch Lục độ tập kinh 9 quyển, Ngô Phẩm kinh 5 quyển (...)” Trí Thăng trong Khai nguyên thích giáo lục 2 ĐTK 2154 tờ 490b4-491b23 nhận ra năm Thái Nguyên Tân Mùi là thứ nhất, chứ không phải thứ hai, đã viết: “Lục độ tập kinh 8 quyển, hoặc 9 quyển, hoặc gọi Lục độ vô cực kinh, hoặc gọi Độ vô cực tập, hoặc gọi Tạp vô cực kinh. Xem Ngô lục của Trúc Đạo Tổ và Tăng Hựu lục (...) sa môn Khương Tăng Hội (...) vào năm Thái Nguyên thứ nhất tân mùi (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ do mình lập, dịch các kinh Lục độ...” Viên Chiếu sao lại toàn bộ ý kiến của Trí Thăng trong Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 3 ĐTK 2157 tờ 787c4-788c21. Qua các kinh lục, ta thấy Lục độ tập kinh có 8 hoặc 9 quyển và được gọi bằng nhiều tên như Lục độ tập, Lục độ vô cực kinh, Độ vô cực kinh hay Tạp vô cực kinh. Truyền bản bây giờ có 8 quyển và có tên Lục độ tập kinh. Chúng ta chấp nhận tên gọi này. Về niên đại, tất cả các kinh lục đều nhất trí nói Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh ở chùa Kiến Sơ tại Trung Quốc. Điều này có nghĩa Hội phải dịch nó sau năm 247. Tăng Hựu, Huệ Hạo, Pháp Kinh, Ngạn Tôn, Tỉnh Thái và Đạo Tuyên không nói rõ Hội đích xác dịch vào năm nào, chỉ biết trong koảng 222-258, hoặc ngắn hơn trong khoảng 241-249. Nhưng đến Phí Trường Phòng, Tỉnh Mại, Trí Thăng và Viên Chiếu, họ đồng ý đặt thời điểm dịch Lục độ tập kinh vào năm Thái Nguyên Tân Mùi của Tôn Quyền nhà Đông Ngô, tức năm 251. Trong tình hình tư liệu hiện nay, nếu chỉ giới hạn niên đại 251 này cho Lục độ tập kinh chúng ta tất không có một phản bác nào. Tuy nhiên, vì Tỉnh Mại và Trí Thăng đều có ý muốn nói các tác dịch phẩm khác của Khương Tăng Hội cũng được thực hiện vào thời điểm đó hay sau nó không lâu, nên vấn đề nảy sinh. Trong năm tác phẩm dịch hiện còn của Khương Tăng Hội, đó là Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải, An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tự thì 4 trong số chúng đã có những dấu hiệu nội hay ngoại tại cho thấy chúng được hoàn toàn thành hay chuẩn bị tư liệu trước năm 247 khá lâu, trừ Lục độ tập kinh. Cụ thể là An ban thủ ý kinh tự và An ban thủ ý kinh chú giải. Nội dung An ban thủ ý kinh tự trong Xuất Tam tạng ký tập 6 ĐTK 2154 tờ 43b18-c1 nói An Thế Cao đến “ở kinh sư”, nói Khương Tăng Hội “mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy viên tịch, ngữa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai, nghẹn lời xem quanh, lệ rơi lã chã. Nhưng phước xưa chưa hết, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ từ Cối Kê (...) Tôi theo xin hỏi, thước giống góc khít, nghĩa không sai khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải lời thầy thì không truyền, không dám tự do...”. Căn cứ An ban chú tự của Đạo An trong Xuất Tam tạng ký tập 6 tờ 43c22-23, ta biết: “Đầu đời Ngụy, Khương Hội viết chú nghĩa. Nghĩa hoặc có chỗ chìm chưa rõ, An trộm không tự lượng mình, dám nhân người trước, giải thích ở dưới”. Vậy, theo Đạo An, Khương Tăng Hội đã viết An ban thủ ý kinh chú giải vào “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ). Nhà Ngụy do con Tào Tháo là Tào Phi thành lập năm 221 và chấm dứt năm Hàm Hy thứ nhất (265) của Nguyên đế Tào Hoán, kéo dài được 45 năm. Cho nên nếu Hội viết An ban thủ ý kinh chú giải vào đầu đời Ngụy thì ông phải viết nó vào khoảng những năm 221-230, tức những năm đầu của nhà Ngụy, chứ không thể sau những năm 247 hay 251 trở đi được. Chính vì viết giữa khoảng 221-230, Khương Tăng Hội mới nói An Thế Cao đến “ở kinh sư”, nhằm chỉ Lạc Dương, kinh đô nhà Hán cũng như nhà Ngụy. Và chính trong khoảng đó, lúc Hội trên dưới 20 tuổi, tang cha mẹ và thầy mới để lại những ấn tượng đau buồn sâu sắc thể hiện trong đoạn văn dẫn trên của lời tựa. Việc viết An ban thủ ý kinh chú giải cùng lời tựa do thế chắc chắn không thể xảy ra sau năm 247 hay 251, như các nhà kinh lục đã có. Cựu tạp thí dụ kinh cũng vậy. Ta ngày nay tuy không thể nào xác định chắc chắn Khương Tăng Hội dịch nó vào thời điểm nào, nhưng có thể nghĩ Hội phải chuẩn bị khá sớm cho công trình phiên dịch ấy. Lý do nằm ở chỗ 14 đoạn văn bình luận sau 13 truyện của bản kinh đó đã được Hội bảo là do “thầy nói” (sư viết). “Thầy” đây không chỉ một người nào khác hơn là vị thầy của Hội, như sẽ thấy dưới đây, khi nghiên cứu về Cựu tạp thí dụ kinh. Một khi các đoạn bình luận ấy là của vị thầy của Hội, điều hiển nhiên là Hội đã ghi chép chúng lại, trong khi thầy giảng Cựu tạp thí dụ kinh cho Hội nghe. Song có lẽ mới giảng được 13 truyện thì thầy đau bịnh và đột ngột từ trần (điêu táng). Cho nên, ngày nay chỉ có 14 đoạn văn bình luận vừa nói. Từ đó, ta có thể rút ra kết luận là Cựu tạp thí dụ kinh là một văn bản được ghi chép lại khá sớm trong toàn bộ sự nghiệp phiên dịch trước tác của Khương Tăng Hội. Quá trình hình thành văn bản đó có thể giải thích như sau. Ông đã chép lại một nguyên bản tiếng Việt. Rồi thầy ông, từng buổi học, giảng cho ông một truyện. Mỗi buổi giảng xong một truyện, vị thầy đã tóm tắt ý chính và Khương Tăng Hội ghi lại bên lề. Chính nhờ lối ghi chép cẩn thận và trân trọng này, ta mới không thấy có rối loạn, dù các truyện có bình luận không được xếp đặt theo một thứ tự nhất định, từ truyện 4, rồi 6, 7 tới 9, 13, 14, 17, 18, 19, 22, 26, 32 và 40. Qua phân tích 3 trường hợp hiện biết trên, tức An ban thủ ý kinh tự, An ban thủ ý kinh chú giải và Cựu tạp thí dụ kinh, ta nhận ra một sự thực là quan điểm của các nhà kinh lục về niên đại của một số tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội là không thể chấp nhận được, đặc biệt khi họ bảo chúng được thực hiện “tại chùa Kiến Sơ do Hội sáng lập” ở Trung Quốc. Tối thiểu 4 trong 5 tác dịch phẩm hiện còn, ta biết chắc chắn đã viết hay chuẩn bị tư liệu tại nước ta, như đã thấy. Vì thế, khi Phí Trường Phòng, Tỉnh Mại và Trí Thăng bảo Lục độ tập kinh được dịch “vào năm Thái Nguyên thứ nhất tân mùi (251) của Tôn Quyền ở chùa Kiến Sơ”, ta không thể hoàn toàn tin được.
2. VẤN ĐỀ BẢN ĐÁY
Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ nếu như ta chấp nhận niên đại 251 này, vấn đề chưa phải đã chấm dứt. Ai từng đọc Lục độ tập kinh cũng đều thấy văn từ và nội dung nó chứa đựng một số nét làm cho người ta nghi ngờ nó có phải là một dịch phẩm từ một nguyên bản tiếng Phạn không. Thực tế, ngay vào thế kỷ thứ VI sdl, Pháp Kinh khi viết Chúng kinh mục lục đã xếp nó vào loại tác phẩm “do các thánh hiền phương Tây soạn tập”. Quan điểm này sau đó đã được Ngạn Tôn và Tỉnh Thái tán đồng, khi họ viết các bản kinh lục của mình và xếp Lục độ tập kinh vào loại “hiền thánh tập truyền do hiền thánh soạn”, mà không nói đến “phương Tây” nữa. Thế đã rõ. Càng đọc kỹ Lục độ tập kinh, người ta càng thấy nó bộc lộ nhiều dấu vết cho phép giả thiết nếu không nói là khẳng định, nó “do thánh hiền soạn ra”. Và “thánh hiền” đây không còn nhất thiết là “phương Tây” nữa. Bởi vì nó chứa đựng những dữ kiện, mà dù “thánh hiền phương Tây” cũng không thể thốt ra được. Chẳng hạn, truyện 49 của Lục độ tập kinh 5 ĐTK 152 tờ 28a22-24 có câu phát biểu của anh thợ săn nói rằng: “(Tôi) ở đời lâu năm, thấy nho sỹ tích đức làm lành, há có bằng đệ tử Phật quên mình cứu mọi người, ở ẩn mà không dương danh ư?” Rõ ràng “thánh hiền phương Tây” không thể có một phát biểu như thế “về nho sĩ” được. Bởi “phương Tây” thời ấy không có “nho sĩ”. Phát biểu đó do vậy phải được thốt ra từ miệng một “thánh hiền phương Đông”, và trong trường hợp này lại là một “thánh hiền” của nước ta, đến năm 251 Khương Tăng Hội mới dịch ra tiếng Trung Quốc bản Lục độ tập kinh ngày nay. Bản kinh đây từ đấy chứa đựng những dữ kiện không thể xuất phát từ nguyên bản Phạn văn cho Khương Tăng Hội dịch được. Khương Tăng Hội phải dùng một nguyên bản đã có cải biên các truyện của truyền thống Phạn văn hay Pali, để có thể cho phép các phát biểu loại dẫn trên xuất hiện. Thực tế, không phải chỉ có truyện 49 mới có hiện tượng phát biểu ấy. Một số truyện khác của Lục độ tập kinh cũng được “thánh hiền phương Đông” canh cải và biên tập lại. Chẳng hạn, truyện 86, Nho đồng thọ quyết. Đây là một truyện tiền thân mà cốt lõi ta hiện thấy trong Phạn bản Lalitavistara và Hán bản Phổ diệu kinh do Chi Khiêm dịch đồng thời với Khương Tăng Hội. Thế nhưng, nếu so sánh hai bản Phạn và Hán này với truyện 86, chúng ta một lần nữa thấy truyện nhiều lần nhắc đến “chúng nho”, “quốc nho”, “chư nho” và gắn cho họ những quan điểm kỳ thị, bảo thủ, lạc hậu đáng phê phán, mà hai bản kia không có. Rõ ràng, đây là một bộc lộ quan điểm của người biên tập Lục độ tập kinh đối với nho giáo, một lối phê phán gián tiếp học thuyết ấy, một học thuyết không phải không có những nhược điểm cơ bản. Nó do vậy chỉ thể hiện quan điểm của người biên tập, chứ không thể có trong nguyên bản chữ Phạn được. Người biên tập từ đó không thể là một “thánh hiền phương Tây”, vì hệ tư tưởng nho giáo không tồn tại ở “phương Tây”. Ngược lại, ông phải là một thánh hiền “phương Đông”, mà cụ thể là nước ta, vì hệ tư tưởng ấy lúc đó không chỉ tồn tại, mà còn ra sức tấn công vào thành trì văn hóa dân tộc ta. Việc phê phán nó do thế trở thành một yêu cầu tất yếu, nếu không nói là quan tâm hàng đầu của bất cứ một công trình lý luận nào của dân tộc, trong đó có cả Phật giáo dân tộc. Lục độ tập kinh vì không phải dịch trực tiếp từ các nguyên bản Phạn văn, nên phải ít nhiều đáp ứng yêu cầu quan tâm vừa nói trong khi biên tập. Thế người biên tập phải chăng là Khương Tăng Hội. Sống gần như sát thời với Hội, Đạo An viết Thập pháp cú nghĩa kinh tự, mà Tăng Hựu chép lại trong Xuất Tam tạng ký tập 10 ĐTK 2145 tờ 70a11-13, đã nói: “Xưa Nghiêm Điều soạn Thập huệ chương cú, Khương Tăng Hội tập Lục độ yếu mục, mỗi tìm dấu chúng, vui vì có hiểu, nhưng vẫn có phiến, truyền lâu chưa chép. Nay sao sắp xếp, đặt tên Thập pháp cú nghĩa”. Vậy, ngoài dịch Lục độ tập kinh, ta biết Khương Tăng Hội có (biên) tập Lục độ yếu mục, Lục độ yếu mục có nội dung gì, ta ngày nay không thể biết được, bởi vì nó thất lạc tương đối sớm, đến nổi các kinh lục xưa nhất và sau đó không một bộ nào đã ghi nó vào danh sách các tác phẩm dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Có thể nó gồm những đoạn giới thiệu về độ hiện thấy trong Lục độ tập kinh? Ta không thể khẳng định được. Điều chắc chắn là Khương Tăng Hội đã có một quan tâm đặc biệt về tư tưởng lục độ, nên đã viết một tập riêng về các “yếu mục” của tư tưởng đó. Thực tế, nếu so sánh những gì hiện biết về quan điểm của Hội đối với Nho giáo với những phát biểu dẫn trên của Lục độ tập kinh, ta thấy có một sai khác đáng chú ý. Truyện của Hội trong Xuất Tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a17 và trong Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13, mà sau này các bản kinh lục đều chép lại với một vài thêm bớt không đáng kể, đều ghi quan điểm của Hội là “cách ngôn của sách Nho tức cũng là minh huấn của Phật giáo”, “tuy lời Châu Khổng lược bày việc gần rõ, còn đến Phật dạy thì đủ tới u viễn”. Quan điểm này tất không thể nào phù hợp hoàn toàn với quan điểm phát biểu trong truyện 49 và 86. Trong những truyện ấy, ngay cả cách ngôn nhà Nho liên hệ với chuyện “rõ gần” (hiển cận), như vợ chồng, danh tiếng v.v... cũng bị đả kích mạnh mẽ, không thương tiếc. Cho nên, về mặt tư tưởng có một sai khác đáng kể giữa quan điểm của Lục độ tập kinh và bản thân Khương Tăng Hội. Từ đó, dù Đạo An có nói tới việc Hội “biên tập” một tác phẩm nhan đề Lục độ yếu mục, ta cũng không thể đơn giản đồng nhất Lục độ yếu mục này với Lục độ tập kinh hay một bộ phận của nó, và coi Lục độ tập kinh là do Hội biên tập. Không những về mặt quan điểm mà về mặt văn từ, Lục độ tập kinh hiện nay chứa đựng một số lượng lớn các câu chữ mang sắc thái văn hóa Viễn Đông, tức văn hóa Trung Quốc và Việt Nam. Cụ thể là các từ nhân nghĩa (truyện 48), nhân đạo (41, 84), bất nhân (11, 43), nhân hiếu (45), nhân ái (57), nhân từ (91), thành tín (91), các câu “quân nhân, thần trung, phụ nghĩa, tử hiếu, phu tín, phụ trinh”, (70, 67), “gia hữu hiểu tử” (82), “bất nhân nghịch đạo” (11) v.v... Các từ và câu này chiếm một tỉ lệ khá cao trong toàn bộ bản văn Lục độ tập kinh, tạo nên ấn tượng “văn tsừ điển nhã”, như Thang Dụng Đồng đã nhận định[31] và đã dẫn họ Thang đến việc coi Lục độ tập kinh không phải do Khương Tăng Hội dịch, mà do Hội viết. Sự thực, những phân tích tư tưởng trên cho thấy không thể kết luận Khương Tăng Hội đã biên tập Lục độ tập kinh. Ấn tượng “văn từ điển nhã” ấy có được là do khi dịch Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã sử dụng một bản đáy tiếng Việt, thay vì tiếng Phạn. Chính nhờ căn cứ vào bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt này, Khương Tăng Hội mới có được một bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc mang tính “văn từ điển nhã” vừa thấy. Nói cách khác, Hội đã không dịch Lục độ tập kinh từ nguyên bản tiếng Phạn, vì bản kinh này ngày nay chứa đựng những phê phán đối với Nho giáo, mà nguyên bản chữ Phạn khó có thể có được. Và Hội cũng không thể viết bản kinh đó, vì quan điểm phê phán Nho giáo của Lục độ tập kinh không phù hợp với quan điểm của Hội đối với Châu Khổng. Vì thế, ấn tượng “văn từ điển nhã” bắt nguồn từ việc Khương Tăng Hội đã sử dụng một bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt với một hệ thống văn từ Phật giáo đã được Việt hóa mang sắc thái văn hóa Viễn Đông, để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay. Sự kiện Khương Tăng Hội sử dụng những bản đáy tiếng Việt cho công tác dịch thuật không phải không xảy ra trong những trường hợp khác, mà cụ thể là Cựu tạp thí dụ kinh. Cựu tạp thí dụ kinh với 14 đoạn bình luận cho 13 trong số 61 truyện của nó và được Khương Tăng Hội ghi là “Thầy nói” (sư viết) rõ ràng chứng tỏ một nguyên bản đã tồn tại để cho “thầy” Hội dùng mà giảng cho Hội và đưa ra những đoạn bình luận ấy. Hội do thế dứt khoát không thể biên tập Cựu tạp thí dụ kinh. Bản kinh này đã có trước thời Hội. Căn cứ vào những cấu trúc tiếng Việt hiện có trong bản Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc ngày nay, ta có thể kết luận thêm ngôn ngữ của bản kinh đó là tiếng Việt. Nói thẳng ra, Cựu tạp thí dụ kinh được Khương Tăng Hội dịch ra từ một nguyên bản tiếng Việt của nó. Chỉ với một kết luận như vậy, ta mới lý giải sự kiện tại sao những lời bình luận của thầy Hội lại xuất hiện trong Cựu tạp thí dụ kinh. Chúng xuất hiện nhờ Hội đã chép toàn bộ bản kinh và ghi lại những lời bình luận của thầy vào một truyện nào đó do thầy ông giảng. Một khi đã thế, ta không có một đòi hỏi tất yếu nào buộc ta phải giả thiết, chứ khoan nói chi đến việc khẳng định, Lục độ tập kinh là do Khương Tăng Hội viết, chứ không phải do ông dịch, như các bản kinh lục đã ghi. Sự thật, nếu phân tích kỹ hơn Lục độ tập kinh về mặt văn bản học, ta sẽ phát hiện ra một số cấu trúc ngữ học bất bình thường trong các truyện của nó. Chính những cấu trúc ngữ học bất bình thường này sẽ đánh tan ấn tượng “văn từ điển nhã” vừa nói, bởi vì với những cấu trúc bất bình thường ấy làm sao văn từ của Lục độ tập kinh “điển nhã”. Không những thế, chúng còn giúp củng cố kết luận trên về việc Khương Tăng Hội đã sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc. Thế thì, những cấu trúc ngữ học bất bình thường trong Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc ngày nay là gì?
3. NHỮNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ HỌC CỦA LỤC ĐỘ TẬP KINH
Trong các tác phẩm hiện còn của Khương Tăng Hội, thì Lục độ tập kinh giữ một vai trò xung yếu đặc biệt. Xung yếu bởi vì xuyên qua nó, chúng ta tìm hiểu được quá trình tác động hỗ tương giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong những ngày đọ sức gay go và khốc liệt đầu tiên này. Nó cho ta biết những tư tưởng giáo lý gì của Phật giáo đã được truyền vào cho dân tộc ta, và ngược lại, dân tộc ta đã tiếp thu những gì từ Phật giáo. Không những thế, vì Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo tại Việt Nam, nên Lục độ tập kinh cũng để cho thấy những dấu ấn của nền văn hóa Việt Nam, và từ đó, ta có thể tái lập lại một phần nào diện mạo của nền văn hóa đó trong những giờ phút đọ sức gay go, khốc liệt đầy ngỡ ngàng và không tương xứng ấy. Lục độ tập kinh hay Tập hợp các kinh về sáu hạnh vượt bờ của bồ tát, bây giờ được xếp vào bộ Bản duyên và in vào Đại tạng kinh số 152. Nó được ghi là do “Sa môn Khương Tăng Hội nước Khương Cư đời Ngô dịch”. Khương Tăng Hội cha gốc người Khương Cư (Sogdiane) qua buôn bán ở nước ta, rồi sinh Khương Tăng Hội, nên nói ông là người nước Khương Cư cũng không có gì lạ. Ông dịch Lục độ tập kinh vào khoảng năm 251, tức bốn năm sau khi ông qua truyền giáo ở Kiến Nghiệp, nên nói dịch vào đời nhà Ngô của Trung Quốc cũng không có gì là quá đáng. Điều đáng lấy làm lạ là Lục độ tập kinh có phải do Khương Tăng Hội dịch hay không? và nếu dịch thì ông đã dùng nguyên bản nào để dịch ra? Trả lời câu hỏi thứ nhất, giáo sư Thang Dụng Đồng[32] của Trường Đại học Bắc Kinh trước đây đã gợi ý Lục độ tập kinh không phải là một dịch phẩm, vì “văn từ” nó quá “điển nhã”. Thực tế, nhận xét nầy phải nói là đầy sáng tạo và khá hàm súc. Những ai đã từng đọc qua Lục độ tập kinh thì không thể nào không có một ấn tượng như thế. Khương Tăng Hội đã sử dụng lối văn bốn chữ khá sắc sảo và tương đối nhuần nhuyễn cũng như huy động được vốn từ ngữ mang nặng màu sắc Trung Quốc cũng như Việt Nam, nên khi đọc lên, ta nghe gần gũi, có cảm tưởng như một bản văn viết, chứ không phải là một bản dịch từ một nguyên bản chữ Phạn hay một phương ngôn nào đó của Ấn Độ. Một kiểm tra thực tế xác nhận cảm tưởng đó. Những từ như “nhân nghĩa”, “hiếu thuận”, “nho đức” v.v... tất nhiên không thể tìm thấy trong tiếng Phạn. Và những câu: Nam hữu vi ngẫu Tự cổ nhiên hỉ Nam hiền nữ trinh Thành diệc nam tỷ Hay là: Phụ ly sở thiên Chích hành nhất túc Chúng hữu nghi vọng Khởi huống tuần sóc Rồi những đoạn phê phán Nho giáo như thế nầy trong truyện 49 ĐTK 152 tờ 28a22-4 thì không thể tìm thấy trong các sách văn học Phật giáo Ấn Độ thời Khương Tăng Hội: “Tôi ở đời đã lâu năm, tuy thấy nho sỹ chứa đức làm thiện, nhưng há có kẻ như đệ tử Phật quên mình cứu người, ở ẩn mà không dương danh đó sao?”. Ngoài ra, còn có những truyện được cải biên, thêm thắt yếu tố Lạc Việt vào, như trường hợp truyện 23 nói tới trăm trứng, mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây[33]. Và có những truyện dứt khoát không thể có nguồn gốc Ấn Độ, như truyện 69 kể việc người con đào mả, lấy vàng liệm trong miệng cha mình v.v... Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn, chúng ta phát hiện một sự kiện hết sức lạ lùng, nhưng rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa đối với không những lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Sự kiện đó là trong một số câu của Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã không viết đúng theo ngữ pháp Trung Quốc, mà lại theo ngữ pháp Việt Nam, cụ thể là: 1. Truyện 13 ĐTK 152 tờ 7c13 “Vương Cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung chính điện thượng tọa, như tiền bất dị...” 2. Truyện 14 ĐTK 152 tờ 8c5 “. . . Nhĩ vương giả chi tử, sinh cư vinh lạc, trưởng ư trung cung...” ĐTK 152 tờ 9b27: “... Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đát cụ...” 3. Truyện 26 ĐTK 152 tờ16 b 2: “... Thủ thám tầm chi, tức hoạch sắt hỉ, trung tâm sảng nhiên, cầu dĩ an chi...” 4. Truyện 39 ĐTK 152 tờ21 b 27: “... trung tâm hoan hỉ” 5. Truyện 41 ĐTK 152 tờ 22 c 12: “Vương bôn nhập sơn, đổ kiến thần thọ” 6. Truyện 43 ĐTK 152 tờ 24 b 21: “... trung tâm chúng uế...” 7. Truyện 44 ĐTK 152 tờ 25 a 26: “trung tâm nục nhiên, đê thủ bất vân” 8. Truyện 72 ĐTK 152 tờ 38 b 25: “Thần đổ tôn linh vô thượng chính chân tuyệt diệu chi tượng lai tại trung đình, thiếp kim cung sự”. 9. Truyện 76 ĐTK 152 tờ 40a8: “Thần thiên thân lãnh, cửu tộc quyên chi, viễn trước ngoại dã”. ĐTK 152 |