TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 2 ]

LÊ MẠNH THÁT

[ 1 ]   [ 3 ]

B - KINH
CỰU TẠP THÍ DỤ

 1 

Xưa vô số kể, có một nhà buôn tên gọi Tát Bạc, lúc ấy đến một nước khác mua hàng hóa. Chỗ trú chân gần nhà một đệ tử Phật. Nhà đệ tử Phật bấy giờ làm lễ cầu phước lớn, đặt tòa cao, các tăng thuyết pháp, giảng bàn tội phước thiện ác đều do thân, miệng, ý tạo ra và giáo lý bốn sự thật, vô thường, khổ, không. Người buôn đường xa lúc ấy đến nghe, lòng hiểu, vui tin, bèn thọ 5 giới gọi là ưu bà tắc. Vị thượng tọa đem giáo lý khuyên dỗ, nói: “Thiện nam tử, giữ thân miệng ý thì mười lành đầy đủ. Mỗi giới có 5 thần, năm giới có 25 thần, đời này hộ vệ khiến không chết oan, đời sau tự tại, đạo lớn vô vi”. Nhà buôn nghe giảng càng vui vô kể.

Sau về nước mình, trong nước hoàn toàn không có Phật pháp. Bèn muốn truyền đạo, sợ không người nghe, nên đem giáo pháp đã nhận giáo hóa cha mẹ, anh em, vợ con và người làm trong ngoài, ai cũng vâng theo.

Cách nước nhà buôn ngàn dặm có một nước, dân đông giàu sướng, của quý nhiều, đẹp. Hai nước ngăn cách, tuyệt không thông hiếu đã hơn trăm năm, trên đường có quỉ Dạ xoa ở, bắt người ăn thịt, trước sau khôn kể, vì thế đoạn tuyệt không người vãng lai. Nhà buôn tự nghĩ: “Ta giữ giới Phật, thì như kinh dạy, có 25 vị thần hộ trợ, không nghi ngờ gì. Còn quỉ kia nghe nói chỉ một mình nó. Ta đến hàng phục, chắc được thắng lợi”.

Bấy giờ có hơn 500 nhà buôn cùng đi, bèn nói với họ: “Tôi có sức lạ, có thể phục quỉ, còn quý vị có đi đến gặp quỉ thì chắc không có lợi lớn”. Họ bèn tự bàn nhau: “Hai nước không thông hiếu đã lâu lắm rồi. Nếu thông được, thì lợi được không nhỏ”. Họ đồng ý lên đường đi. Đến giữa đường thấy chỗ quỉ ăn người, hài cốt tóc tai lăn lóc đầy đất. Tát Bạc tự nghĩ: “Quỉ thần trước sau đều có thể ăn thịt người, nay là điều chứng nghiệm. Ta chết, đó đúng với chức phận, chỉ sợ cho những người này thôi”. Bèn nói với họ: “Quí vị ở lại đây, chỉ một mình tôi đi tới. Nếu thắng được quỉ, thì sẽ trở lại đón. Nếu không trở lại thì biết ngộ hại, các vị nên mỗi người trở về, chớ đừng đi tới nữa.”

Rồi Bạc một mình đi tới. Mới đi vài dặm đã gặp thấy quỉ đến, bèn một lòng niệm Phật, ý định không sợ. Quỉ đến hỏi: “Ông là ai?” Đáp: “Tôi là người hướng đạo mở đường”. Quỉ cười lớn nói: “Ngươi có nghe đến tên ta không mà muốn mở đường?”. Tát Bạc đáp: “Biết ngươi ở đây, nên đến tìm để đấu với ngươi. Nếu ông thắng, ông ăn ta. Nếu ta thắng, thì mở đường cho muôn họ, làm lợi ích cho thiên hạ”. Quỉ hỏi: “Ai nên hạ thủ trước?” Nhà buôn đáp: “Ta đến tìm, nên phải hạ thủ trước”. Quỉ đồng ý. Bạc dùng tay phải đánh nó, tay đụng bụng quỉ, mắc cứng không ra. Tay trái lại đánh, cũng mắc. Như vậy, hai chân và đầu đều mắc vào bụng quỉ, không thể đụng đậy được. Bấy giờ, Dạ xoa dùng bài tụng hỏi:

Tay chân cùng với đầu

Năm món vậy cột chắc

Chỉ nên ra chịu chết

Vùng vẫy lại ích gì?

Nhà buôn dùng kệ đáp:

Tay chân cùng với đầu

Năm món tuy bị cột

Giữ lòng như kim cương

Rốt không bị ngươi giết

Quỉ ma lại nói kệ:

Ta là vua các thần

Làm quỉ nhiều “sức lớn”

Trước sau ăn bọn ngươi

Số không thể đếm xiết

Nay ngươi chết gần rồi.

Sao lại nói năng lắm.

Khách buôn dùng kệ đáp:

                   Vô thường là thân này

   Ta muốn sớm bỏ đi

              Mà nay nguyện ta thỏa

              Đem ra bố thí mày

Nhờ thế được chính giác

Trí vô thượng chứng ngay

Quỉ nói kệ đáp ý:

Chí mầu người vĩ đại

Ba cõi hiếm có ai

Chắc làm thầy độ ngươi

Chẳng lâu đức trùm cả

Xin đem thân tự qui

Đầu diện kính lạy ngài.

Rồi thì Dạ xoa ra xin thọ năm giới, lòng thương chúng sinh, xong làm lễ, rút vào trong núi sâu. Tát Bạc trở lại kêu mọi người tiến lên về nước kia. Từ đó, hai nước đều biết chuyện 5 giới 10 lành dẹp quỉ mở đường, mới biết Phật pháp chí chân vô lượng, đều cũng giữ giới, cung kính Tam bảo, nước thành thái bình, sau lên trời đắc đạo. Ấy là nhờ ân lực của vị hiền giả thẳng tin 5 giới.

Phật bảo các Tỳ kheo: “Tát Bạc lúc ấy là thân ta”.

Bồ tát thực hành giới Ba la mật, độ được như vậy.

2

Quá khứ vô số kiếp, bấy giờ có vua công với 500 vợ công theo nhau đi khắp các núi non, thấy công xanh kia sắc rất đẹp, bèn bỏ 500 vợ đi theo công xanh. Công xanh chỉ ăn quả ngọt cam lộ. Lúc ấy, vợ vua có bệnh, đêm mộng thấy vua công. Thức dậy trình vua: “Xin vua nên treo giải lớn để bắt”. Vua ra lệnh thợ săn ai bắt được vua công đem dâng thì sẽ thưởng vàng 100 cân, gả con gái cho làm vợ.

Các thợ săn chia nhau đi khắp các núi, thấy vua công đang theo công xanh, bèn lấy hồ ngọt đem bôi khắp cây. Vua công ngày ngày đi lấy thức ăn ấy cho công xanh. Như vậy quen thói, thợ săn bèn lấy hồ ngọt đem bôi lên thân mình. Vua công đến lấy hồ ngọt, liền bị người bắt được, bèn nói với người: “Ta đem một núi vàng cho ông, ông có thể thả ta ra?” Người đáp: “Vua cho ta vàng và gả con gái làm vợ, đủ để sống một đời rồi”. Rồi mang nạp vua.

Vua công trình vua: “Vua vì quá yêu phu nhân, nên mới bắt tôi. Xin đem nước đến, tôi chú nguyện cho phu nhân uống, tắm rửa, nếu không lành bệnh thì giết cũng chẳng muộn”. Vua bèn lấy nước cho chú nguyện, rồi đem trao phu nhân uống. Bệnh liền hết. Trong cung hay ngoài ai có bá bệnh đều nhờ nước ấy mà được chữa lành. Vua và nhân dân đến lấy nước, số nhiều không kể. Vua công nói với vua: “Ngài có thể lấy cây cột chân tôi, để tôi đi lại tự do trong hồ nước cùng chế thuốc chú nguyện, khiến dân xa gần có nước lấy thoải mái”. Vua đáp: “Rất hay”. Công đem cây đi vào trong hồ nước, tự chế nhiều phương, vừa chú nguyện. Người dân uống nước, mù được sáng, điếc được nghe, què gù được thẳng.

Vua công lại trình vua: “Trong nước các bệnh dữ đều được chữa lành hết. Nhân dân thờ cúng tôi như thiên thần không khác. Tôi rốt cuộc không có ý bay đi. Đại vương có thể mở chân tôi, khiến tôi được bay đi lại vào trong nước hồ. Đêm đến tôi nghỉ đêm trên rừng kia”. Vua liền sai mở. Như vậy được vài tháng.

Một hôm đứng trên rừng vua công cười lớn. Vua hỏi: “Ngươi sao lại cười?”. Đáp: “Tôi cười thiên hạ có 3 cái ngu. Một là cái ngu của tôi. Hai là cái ngu của thợ săn. Ba là cái ngu của vua. Tôi có 500 người vợ đi theo, mà lại bỏ để được theo công xanh. Vì lòng ham muốn nên bị thợ săn bắt. Đấy là cái ngu của tôi. Người thợ săn, tôi cho một núi vàng không lấy, lại nói có vua cho vàng và vợ. Đó là cái ngu của thợ săn. Vua có được thần y vương, phu nhân, thái tử, nhân dân trong nước, ai bệnh đều được chữa lành, lại thêm đẹp đẽ. Vua được thần y mà không giữ kỹ, lại thả cho đi. Đó là cái ngu của vua”. Nói rồi vua công bay đi.

Phật bảo Xá lợi phất: “Vua công bấy giờ là thân ta đó. Quốc vương bấy giờ là thân ông. Phu nhân bấy giờ, nay là vợ Điều Đạt. Thợ săn bấy giờ là Điều Đạt”.

3 

Xưa có quốc vương đi săn trong vùng đầm rộng, rất đói khát mệt mỏi. Xa trông thấy nhà cửa cây cối um tùm, bèn đi đến đó. Trong nhà có người con gái, vua đến xin ăn uống trái cây các loại. Vua xin gì được nấy, bèn xin gặp người con gái. Người hầu trả lời: “Trần truồng, không có áo quần”. Vua liền cởi áo đem cho, tự nhiên có lửa cháy áo. Ba lần như thế. Vua kinh ngạc hỏi người con gái: “Vì sao lại như vậy?”. Người con gái đáp: “Đời trước tôi là vợ vua. Vua đãi cơm các sa môn Phạm chí, lại muốn dâng áo. Tôi lúc đó nói: Chỉ đãi cơm là được rồi, khỏi cần cho áo. Nên bây giờ mắc tội này. Nếu vua còn nghĩ tới, xin may áo cúng cho các sa môn đạo sĩ trong nước. Nếu có ai hiểu kinh Phật, xin chú nguyện cho người con gái ấy thoát được sự khổ cực kia”.

Vua nhận lời, trở về nước may áo, tìm các sa môn đạo sĩ mà không có ai. Lúc ấy trong nước không ai hiểu kinh Phật. Vua nhớ lại, bảo hỏi ông chèo đò thì chắc biết. Ông chèo đò nói: “Trước đây có người muốn qua sông, không có tiền trả, bèn lấy kinh Năm giới một cuốn trao tôi để đọc”. Vua bảo: “Người biết kinh Phật thì đem áo cho người”. Rồi khiến người chèo đò chú nguyện cho người con gái trần truồng được phước vô lượng mà thoát khỏi sự cực khổ. Người con gái lúc ấy có áo mới mặc vào thân. Nên sau hết sống trong đường quỉ, sẽ sinh lên cõi trời thứ nhất. 

4 

Xưa bờ biển có quốc vương đi săn, bắt được một sa môn, bèn khiến sa môn ban đêm tụng kinh tán nhạc. Vua bảo: “Người này là một ca sĩ lớn”. Nên hễ có khách, bèn bảo ca. Bấy giờ có một nhà buôn ưu bà tắc nước khác đến nước ấy. Vua xin đem sa môn ra bảo ca. Vị ưu bà tắc nghe đọc kinh xong, trong lòng hớn hở ra đi. Nhà buôn đem một ngàn muôn đến chuộc, đến 3 ngàn muôn, vua mới cho chuộc. Nhà buôn làm lễ nói: “Tôi đem ba ngàn muôn đến chuộc mới được như vậy”. Nhà sư tức khắc bay lên giữa hư không, nói: “Khanh tự chuộc mình, chứ không phải chuộc tôi. Sao vậy? Xưa vua là người bán hành. Ông đến vua mua hành, không trả đủ ba tiền. Ta bấy giờ cho ông mượn. Ông lại không trả lại 3 tiền. Nay tiền ấy sinh cháu con tới đến 3 ngàn muôn, mà ông phải trả lại cho 3 tiền gốc”. Ý vua liền hiểu, hối lỗi, thọ 5 giới làm ưu bà tắc.

Thầy nói: “Nợ không kể nhiều ít, không thể mắc, cũng không giao cho người khác.” 

5 

Lúc Phật còn ở đời có một bé con cùng ở với con người anh. Bé hằng ngày đến chỗ Phật nghe kinh giới. Con người anh can mãi không được, sau bắt bé kiềng giữ lại, lấy gậy đánh, nói: “Phật, tỷ kheo tăng sẽ đến cứu mày”. Bé khóc kêu sợ hãi tự qui Tam bảo thì chứng được quả Tu đà hoàn. Nhờ oai thần của Phật, bé liền bay đi cùng với cây kiềng trói, vào tường ra tường, lên đất độn thổ một cách tự do theo ý. Con người anh thấy thế, sợ hãi cúi đầu hối lỗi. Bé liền nói các việc làm lành dữ cho con người anh, rồi cùng đến chỗ Phật thọ giới. Phật tái hiện lại đầu đuôi đời trước, con người anh vui vẻ, lòng hiểu hết, do thế được quả Tu đà hoàn.  

6 

Xưa có la hán cùng hành đạo với một sa di trong núi. Sa di hằng ngày đến nhà đạo hữu lấy cơm. Đường đi qua trên một con đê gồ ghề hiểm trở, thường trượt chân đổ cơm vào trong bùn. Sa di lấy phần cơm sạch bỏ trong bát thầy, còn phần cơm nào dơ bèn đem rửa để ăn. Chuyện như thế chẳng một ngày. Thầy hỏi: “Sao rửa mất đi mùi cơm?” Đáp: “Khi đi xin thì trời tạnh, về thì mưa. Trên đường đê trượt chân đổ cơm”. Thầy lặng lẽ thiền định, biết là do rồng chọc ghẹo sa di. Bèn đứng dậy, đến trên đê, cầm gậy gõ vào đê. Rồng hóa làm một ông già, cúi đầu lễ sát đất. Sa môn hỏi: “Ngươi vì sao lại chọc ghẹo sa di của ta?” Đáp: “Không dám chọc ghẹo. Sự thật là thích dung mạo của sa di”. Rồng lại hỏi: “Sao ngày nào cũng thấy đi?” Thầy đáp: “Đi xin cơm”. Rồng nói: “Từ ngày nay trở đi, xin hằng ngày đến nhà con ăn cơm cho đến hết đời con”. Sa môn mặc nhiên nhận lời, trở về bảo sa di: “Con đi chỉ xin phần cơm của con, chớ đừng mang phần cơm thầy về”.

Sa di từ đó đến nhà kia ăn. Sau thấy trong bát thầy có vài ba hạt cơm thơm ngon khác với cơm thế gian. Bèn hỏi Hòa thượng: “Phải cơm trên trời không?” Thầy mặc nhiên không đáp. Sa di muốn rình biết cơm thầy từ đâu, bèn chui xuống giường, ôm lấy chân giường. Hòa thượng tọa thiền, dùng định ý cùng giường bay đến cung bảy báu của rồng. Rồng cùng vợ và các thể nữ đều đến làm lễ sa môn, rồi lại làm lễ sa di. Thầy biết, kêu ra, nói: “Chính tâm ngươi, chớ động. Đây là một việc phi thường. Sao lại làm dơ lòng mình. Ăn xong trở về, ta sẽ nói cho biết. Rồng kia tuy cung điện nhà cửa bảy báu, vợ con thể nữ, cũng vẫn là súc sinh. Ngươi là sa di, tuy chưa đắc đạo, nhưng nhất định sinh lên trời Đao Lợi, hơn kia trăm lần. Nên chớ vì thế mà dơ lòng”. Lại bảo sa di: “Cơm trăm vị này, vào miệng hóa thành ểnh ương. Lòng ghét mửa ngược ra lại, cơm lại ăn không xuống. Hai là đàn bà con gái đẹp khó sánh, muốn làm lễ vợ chồng thì hóa thành hai con rắn quấn nhau. Ba là lưng rồng có vẩy ngược, cát sinh ở trong, đau tới tim gan. Rồng có ba nỗi khổ đó. Ngươi sao muốn làm rồng?” Sa di không đáp, ngày đêm tương tư không ăn, mắc bệnh mà chết. Thần hồn sinh làm con rồng, oai thần dũng mãnh. Sau rồng hết số, thoát được làm người.

Thầy nói: “Ngươi chưa đắc đạo, không thể khiến thấy đạo và trong nhà quốc vương”. 

7 

Xưa có vợ vua sinh một người con gái. Cha mẹ đặt tên Nguyệt Nữ, đẹp đẽ vô song. Vua đem cho quần áo trân báu, cô bảo là tự nhiên. Đến năm 16 tuổi, vua giận nói: “Đấy là đồ ta cho, sao con bảo tự nhiên”. Sau có đứa ăn mày đến xin, vua nói: “Đó thật là chồng con”. Nguyệt Nữ thưa: “Vâng, tự nhiên”. Bèn bị đuổi đi. Người ăn xin sợ hãi, không dám nhận. Cô gái nói: “Anh xin ăn thường không no, vua cho anh vợ, sao anh từ chối”. Rồi cùng nhau ra khỏi thành, ngày nghỉ đêm đi.

Đến một nước lớn, vua nước ấy mới băng hà, không có thái tử. Vợ chồng ngồi ở ngoài thành. Những người đi vào ra hỏi: “Các người là ai, tên họ là gì, từ nước nào đến?” Đáp: “Tự nhiên”. Như vậy hơn mười ngày. Bấy giờ quan đại thần sai tám Phạm chí ra ở cửa kinh thành theo thứ tự, xem tướng những người vào ra cửa, chỉ có hai vợ chồng ấy là đúng tướng. Lúc ấy, quần thần cả nước cùng đón về làm vua. Hai vợ chồng vua dùng chính pháp cai trị, nhân dân yên ổn. Các tiểu vương đến chầu, trong đó có vua cha của Nguyệt Nữ. Ăn uống xong, Nguyệt Nữ đặc biệt giữ vua cha lại. Nguyệt Nữ dùng bảy báu làm một chiếc máy cá, màn kéo một con thì 120 con hiện ra, gõ cửa một con thì (120 con) mở, bèn xuống làm lễ cha, thưa với cha: “Nay được như vậy là tự nhiên”. Người cha nói: “Phu nhân làm vậy, thần không bì kịp được”.

Thầy bảo: “Nguyệt Nữ cùng người ăn xin đời trước là hai vợ chồng cùng làm ruộng, chồng bảo vợ đi lấy cơm. Chồng xa thấy vợ gặp sa môn dừng lại bên bờ sông theo vợ khất thực. Vợ chia phần cơm dâng cho nhà sư. Nhà sư dừng lại ăn. Chồng từ xa thấy hai người, không thể bảo là (không) có ác ý, liền cầm gậy đến xem. Nhà sư bèn đi. Vợ nói: “Phần anh đang còn đó, chớ giận”. Chồng bảo: “Phân làm hai, anh và em cùng ăn”.

Thầy nói: “Chồng có ác ý, nên đọa làm con nhà nghèo khó, sau thấy nhà sư, bèn vui vẻ tự hối lỗi, nên cùng hưởng phước ấy”. 

8 

Xưa có chúng Tỳ kheo cùng đi với nhau, gặp ba người say. Một người chạy vào trong cỏ trốn. Một người ngồi ngay ngắn, vỗ má bảo không có tình trạng phạm giới. Một người đứng dậy, múa, nói: “Ta cũng đâu uống rượu của Phật thì có gì mà sợ”. Phật bảo A Nan: “Người trốn trong cỏ, khi đức Phật Di Lặc chứng Phật, sẽ được độ thoát làm la hán. Người ngồi ngay ngắn vỗ má, thì qua một ngàn đức Phật, đến đức cuối cùng sẽ được độ thoát làm la hán. Người đứng dậy múa thì vô số kiếp sau mới được độ”.

Xưa có sa môn ngày đêm tụng kinh. Có con chó nằm dưới giường, một lòng nghe kinh, không còn nghĩ tới ăn uống. Như vậy mấy năm, khi chết, được làm thân người, sinh làm con gái ở nước Xá Vệ. Lớn lên, thấy sa môn khất thực, cô liền tự chạy đi lấy cơm, vui vẻ cúng dường. Như vậy sau cô theo sa môn xuất gia làm Tỳ kheo ni, tinh tấn tu hành, được quả la hán. 

9 

Xưa lúc đức Phật Duy Vệ còn ở đời, các họ lớn trong nước, mỗi họ cúng Phật và chúng Tỳ kheo một lần. Bấy giờ có một họ lớn, nghèo không có gì cúng Phật, bèn thưa rằng: “Xin chúng Tỳ kheo, có ai muốn có thuốc trị bệnh, tôi xin cung cấp hết”. Lúc ấy, có một Tỳ kheo, thân thể có bệnh. Họ lớn đem một quả ngọt cho ăn, Tỳ kheo được an ổn lành bệnh. Họ lớn sau chết, sinh lên cõi Trời, hơn các chư thiên khác năm điều: Một là thân không tật bệnh. Hai là đẹp đẽ. Ba là sống lâu. Bốn là được của giàu. Năm là có trí tuệ. Như vậy trong 91 kiếp, trên thì làm trời, thác xuống thì làm nhà họ lớn, không đọa vào đường dữ. Cho đến khi đức Phật Thích Ca Văn thì làm con nhà giàu, tên là Đa Bảo, gặp Phật thì vui vẻ, làm sa môn thì tinh tấn tu hành được đạo gọi là la hán. Hễ cúng dường sa môn cao hạnh một người còn hơn cúng dường người cả nước dơ dáy đầy tà kiến.

Xưa có vợ chồng đều giữ năm giới phụng sự sa môn. Có Tỳ kheo mới học, không biết kinh, đến nhà xin ăn. Vợ chồng mời vị Tỳ kheo lên ngồi làm cơm cúng dường. Ăn xong, vợ chồng đều cúi đầu làm lễ, thưa: “Chúng con phụng sự quí thầy chút ít, mà chưa từng nghe kinh. Mong thầy khai mở chỗ u tối bất cập của chúng con”. Vị Tỳ kheo cúi đầu, không biết gì để đáp, nói: “Khổ thay, khổ thay!” Tâm ý vợ chồng đều được cởi mở, nói rằng thế gian thật khổ, lúc ấy liền chứng được đạo. Tỳ kheo thấy hai người vui vẻ, cũng được chứng đạo.

Thầy nói: “Kiếp trước nhiều đời, ba người này là anh em nguyện học đạo cùng thực hành, nên nay đều chứng đạo”. 

10 

Xưa có quốc vương đi săn trở về, qua nhiễu tháp, làm lễ sa môn. Quần thần đều cười. Vua biết, bèn hỏi quần thần: “Có vàng trong vạc, vạc đang sôi, có thể dùng tay lấy ra được không?” Đáp: “Không thể được”. Vua nói: “Đem nước lạnh đổ vào, có thể lấy được không?” Quần thần thưa vua: “Có thể được”. Vua nói: “Ta làm việc vua săn bắn thì như nước sôi. Thắp hương đốt đèn, nhiễu tháp, thì như đem nước lạnh đổ vào nước sôi. Hễ làm vua thì có việc làm lành và dữ, sao lại chỉ có việc làm dữ mà không là việc lành?”. 

11 

Xưa có sa môn đi đến nước khác, ban đêm không được vào thành, nên ngồi trong cỏ ngoài thành. Đến đêm quỉ Dạ xoa tới bắt nói “Phải ăn mày”. Sa môn đáp: “Cách xa nhau rồi”. Quỉ hỏi: “Sao cho là cách xa nhau?”. Sa môn đáp: “Ngươi hại ta, ta sẽ sinh lên trời Đao Lợi, ngươi sẽ vào địa ngục, thế không cách xa sao?” Quỉ bèn dâng lời, từ tạ làm lễ mà đi. 

12 

Xưa có quốc vương sai người đi kêu người bạn. Người bạn bảo: “Cám ơn vua, tôi đang mắc đào đất làm hầm, muốn giấu bảy báu”. Vua nghe rất kinh ngạc. Vua lại sai người đi kêu người bạn. Người bạn thưa vua: “Nay đang mắc đưa của báu vào trong hầm”. Vua lại ra lệnh gọi người bạn. Người bạn thưa vua: “Nay đang mắc lấp đất hầm, lấp bằng xong sẽ đi”. Vua hỏi: “Ngươi sao ngu thế? Giấu bảy báu mà đi nói cho người biết ư ?”. Người bạn thưa: “Ban nãy lo thức ăn chén dĩa ngon đẹp, định để dâng cơm cho Phật và các thầy Tỳ kheo, ấy là đào đất làm hầm. Đem cơm canh ra dọn, ấy là đưa của báu xuống hầm. Quét đường sá, dâng nước rửa, giảng kinh, ấy là san lấp đất hầm. Thưa vua, của báu đó năm nhà không thể làm nhục được”. Vua nói: “Lành thay! Lành thay! Ngươi sao không nói sớm. Ta sẽ nói sớm. Ta sẽ kiểm lại các báu giấu trong kho”. Vua liền mở kho tàng, bố thí lớn, dâng cơm đức Phật và các thầy Tỳ kheo. Đức Phật vì vua giảng lẽ thanh tịnh và chú nguyện. Vua liền phát lòng đạo.  

13 

Xưa có nhà giàu thỉnh Phật dâng cơm. Bấy giờ có một người bán sữa bò, nhà giàu giữ lại ăn cơm, dạy giữ trai giới. Ở lại nghe kinh, khách mới về nhà. Vợ nói: “Em từ sáng chờ anh, chưa ăn cơm”. Rồi ép chồng ăn, phá việc trai giới. Tuy vậy, vẫn bảy lần sinh lên trời, bảy lần sinh ở đời.

Thầy nói: “Một ngày trì trai, có lương thực cho sáu mươi vạn tuổi. Lại có năm phước. Một là ít bệnh, hai là thân thể yên ổn, ba là ít lòng dâm, bốn là ít nằm ngủ, năm là được sinh lên trời, thường biết việc làm đời trước của mình”. 

14 

Đức Phật và chúng Tỳ kheo đáp lời mời. Có một sa môn cùng một sa di đến sau. Giữa đường gặp dâm nữ lôi kéo vị sa môn. Sa môn cùng dâm nữ ăn nằm. Ăn nằm xong mới đến nhà dâng cơm. Đức Phật bảo vị sa di: “Con đến dưới núi Tu Di lấy nước cam tuyền đến đây”. Sa di đã đắc đạo, bèn quăng bát lên trước, rồi chắp tay đuổi theo, phút chốc đã được nước đem về. Vị thầy hổ thẹn, tức tưởi, hối lỗi, trách mình, liền chứng la hán. Người nữ ấy kiếp trước từng là đôi bạn với sa môn. Gặp đôi bạn, hết tội, mới chứng được đạo.

Xưa vua A Dục mỗi ngày dâng cơm cho một nghìn la hán. Sau đến một sa môn trẻ tuổi, cùng một nghìn vị sư vào cung. Vị sa môn trẻ tuổi ngồi xong, nhìn cung điện vua trên dưới, rồi lại nhìn không ngớt vợ cả của vua. Vua có ý giận. Cơm xong, mỗi người tự ra về. Vua giữ lại ba vị thượng tọa, hỏi: “Vị sa môn trẻ tuổi từ đâu đến, tên họ là gì, thờ ai làm thầy, đó chẳng phải là sa môn, sao đem vào cung, nhìn mặt phu nhân, mắt không nhấp nháy?” Ba vị đáp: “Vị sa môn ấy từ Thiên Trúc đến. Thầy tên ấy, y họ ấy, tên ấy, có trí tuệ, hiểu rõ kinh điển, nên đến để xem cung điện xây cất, rồi ngó lên trời Đao Lợi, vừa ngang bằng, chứ không có ý gì khác. Vua đời trước đem cát cúng trong bát Phật, vòi vọi là vậy. Nay mỗi ngày lại dâng cơm cho một nghìn la hán, phước ấy vô cùng. Còn vì sao nhìn chính phu nhân, ấy là phu nhân đẹp đẽ vô song trên một vạn sáu ngàn người, nhưng sau bảy ngày thì chết sẽ vào địa ngục. Thế gian vô thường, vì thế nên mới nhìn”. Vua sợ hãi kêu phu nhân quy y với ba vị sư. Vị sư nói: “Vua tuy hằng ngày dâng cơm cho chúng tôi cả ngàn người, nhưng ngàn người không thể cởi mở được ý của phu nhân, nên phải mời được vị sa môn trẻ tuổi kia giảng kinh thì phu nhân mới mau thấy được đạo Phật”. Vua sai đi mời vị sư thật ấy. Vị sư trở lại. Vua cùng phu nhân cúi đầu sát đất, xin quy y, khiến cho tội nặng được nhẹ. Vị sư giảng cho phu nhân những gì đã thấy trải qua ở đời trước và giáo lý chính yếu của đạo. Bèn lúc ấy vui vẻ, lông tóc dựng ngược, chứng được quả Tu đà hoàn. Phu nhân năm trăm đời trước vốn là chị của vị sư này, có cùng nhau thề ai được đạo trước thì độ cho nhau.

Thầy nói: “Người không có đời trước, rốt cuộc không thể do đâu hiểu được, không thể gặp nhau, nói năng thì rốt cuộc không ăn ý với nhau. Mỗi người đều có thầy riêng của mình”.  

15 

Xưa có nhà giàu tên Y Lợi Sa, giàu không thể kể, nhưng bủn xỉn không chịu ăn ngon mặc đẹp. Bấy giờ có một ông già ham ăn cũng ở gần, hằng ngày ăn uống cá thịt tự do, khách khứa không dứt. Người nhà giàu tự nghĩ: “Ta của cải không kể xiết, trái lại không được như ông già ấy”. Bèn giết một con gà, nấu một thăng gạo trắng, đem lên xe, đến một chỗ không người. Xuống xe, vừa định ăn thì trời Đế Thích hóa làm chó đi đến, trông lên ngó xuống. Bèn nói mời chó: “Mày nếu treo ngược được giữa trời, ta sẽ cho mày ăn”. Chó liền treo ngược giữa trời. Người nhà giàu ý quá sợ, do đâu mà có việc đó, bèn nói: “Mắt mày văng ra ngoài đất, ta sẽ cho mày chăng?” Hai mắt chó liền văng rơi xuống đất. Người nhà giàu bỏ đi chỗ khác.

Vua trời hóa làm thân thể, giọng nói người nhà giàu, cưỡi xe trở về nhà, ra lệnh người nhà có ai trá xưng nhà giàu thì phải xua đuổi đánh đi. Người nhà giàu chiều trở về nhà. Kẻ giữ cửa la mắng bảo đi. Vua trời lấy hết của cải để bố thí lớn. Người nhà giàu cũng không được về. Của cải hết, ông vì thế phát cuồng. Vua trời hóa làm một người đến hỏi: “Ngươi sao mà buồn?” Đáp: “Của cải tôi sạch hết rồi”. Vua trời nói: “Hễ có của quí khiến người ta nhiều lo lắng. Năm nhà rốt cuộc đến không hẹn. Chứa của không ăn không cho, chết làm quỉ đói thường thiếu ăn mặc. Nếu thoát được làm người, thường sinh vào nhà hạ tiện. Ngươi không hiểu vô thường, giàu lại bủn xỉn không ăn, muốn mong cái gì?” Vua trời liền giảng bốn sự thật, khổ, không, vô ngã. Người nhà giàu lòng hiểu, vui vẻ. Vua trời liền đi. Người nhà giàu được trở về, tự mình hối lỗi trước, hết lòng đem bố thí, chứng được đạo.  

16 

Xưa có con một dòng họ lớn, đẹp đẽ, đem vàng đúc một tượng con gái, thưa với cha mẹ: “Có con gái ai giống như thế, con sẽ lấy làm vợ”. Bấy giờ nước khác có một người con gái cũng đẹp đẽ, cũng đem vàng làm một tượng con trai, thưa với cha mẹ: “Có người con trai nào như thế, con sẽ lấy làm chồng”. Cha mẹ mỗi bên nghe có việc ấy, bèn xa đưa lễ, hợp hai người làm vợ chồng. Lúc ấy, quốc vương đưa gương soi mình, bảo quần thần: “Người trong thiên hạ, có ai dung nhan như ta không?” Đáp: “Thần nghe nước kia có người con trai đẹp đẽ vô song”. Bèn sai sứ đến mời. Sứ giả đến, đem ý vua ra nói: “Vua muốn gặp hiền giả”. Bèn đóng xe ra đi. Rồi tự nghĩ: “Vua cho ta sáng suốt, nên đi mời”. Bèn trở về lấy những yếu thuật của sách vở thì gặp vợ đang gian dâm với khách. Buồn rầu trĩu nặng, bèn vì thế hết khí, nhan sắc hư hao cổ quái, lại xấu. Bề tôi thấy như vậy, nghĩ người đi đường khó nhọc, nên nhan sắc tiều tụy, bèn lấy chuồng ngựa để cho nghỉ ngơi. Đến ở chuồng ngựa, anh thấy chính phu nhân của vua ra thông dâm với tên nuôi ngựa. Lòng anh tự hiểu ra: “Phu nhân của vua còn vậy, huống nữa là vợ ta!”. Ý được cởi mở, nên nhan sắc trở lại như cũ. Bèn đến gặp vua, vua hỏi: “Sao ở ngoài đến ba ngày?” Đáp: “Sứ giả đến đón, tôi có chỗ quên, nên giữa đường trở về lấy thì thấy vợ gian dâm với khách, tức ý vì thế buồn giận, nhan sắc suy vi, phải ở chuồng ngựa ba ngày. Hôm qua trong chuồng ngựa thấy chính phu nhân đến tư thông với tên nuôi ngựa. Phu nhân còn vậy, huống nữa là những người khác. Lòng hiểu ra, nên nhan sắc trở lại như cũ”. Vua nói: “Vợ ta còn vậy, huống nữa đàn bà người thường”. Hai người cùng vào núi, cạo bỏ râu tóc, làm sa môn, nghĩ rằng không thể làm việc với đàn bà, tinh tiến không biếng nhác, đều được quả Phật Bích Chi. 

17 

Xưa có người đàn bà sinh một người con gái đẹp đẽ vô song. Năm ba tuổi, quốc vương lấy xem, kêu nhà sư coi tướng sau có trúng làm phu nhân không. Nhà sư nói: “Người con gái này sẽ có chồng, vua ắt đến sau” (Vua nghĩ): “Ta phải giấu kỹ nó”. Bèn gọi chim câu đến hỏi: “Ngươi ở chỗ nào?” Nó thưa vua: “Tôi ở lưng chừng núi lớn, có cây, người và súc thú không thể đến được, dưới có dòng nước xoáy, thuyền không thể qua được”. Vua nói: “Đem người con gái này gửi ngươi nuôi”. Bèn kẹp đem đi. Hằng ngày đều đến chỗ vua lấy cơm cho người con gái.

Như vậy lâu sau đó, thượng lưu có một xóm bị nước đẩy trôi đi, có một cây thẳng băng trôi theo nước, dưới dòng có một người con trai ôm được cây ấy, rớt vòng nước xoáy không trôi đi được. Xoáy một hồi, cây đứng thẳng lên, bám vào núi. Người con trai leo lên cây của chim câu, tư thông với con gái. Người con gái giấu người đó. Chim câu hằng ngày cân người con gái xem. Khi chưa có thân người con trai thì nhẹ. (Bây giờ) chim biết người con gái nặng. Bèn tìm hiểu phải trái thì biết được người con trai, đem quăng đi, rồi đến như thật trình vua. Vua nói: “Nhà sư đã xem tướng rồi”.

   Thầy nói: “Người có đôi từ kiếp trước, không thể dùng sức mà ngăn được. Gặp đôi thì được. Các loài súc sinh cũng vậy.” 

18 

Xưa có quốc vương giữ kỹ phụ nữ. Vợ cả gọi thái tử bảo: “Ta là mẹ con, cả đời không thấy cảnh trong nước, mẹ muốn đi chơi một lần, con có thể thưa với vua”. Nói vậy đến ba lần, thái tử trình vua. Vua liền đồng ý. Thái tử tự làm người đánh xe, đưa quần thần ra đường nghênh đón, vái chào phu nhân. Phu nhân đưa tay mở màn cho người thấy được mình. Thái tử thấy đàn bà như vậy, bèn giả vờ đau bụng trở về. Phu nhân nói: “Ta vô duyên quá”. Thái tử nghĩ: “Mẹ ta còn như vậy, huống nữa là người khác”. Đêm đến, bèn giao việc nước lại, đi vào trong núi xem chơi.

Bấy giờ bên đường có cây, dưới cây có dòng suối đẹp. Thái tử leo lên cây, thấy Phạm chí đi một mình đến suối tắm rửa. Rồi đem cơm ra ăn. Dùng thuật mửa ra một chiếc bình. Trong bình có người con gái cùng Phạm chí ăn nằm ở chỗ kín đáo. Phạm chí thỏa mãn nằm ngủ. Người con gái lại dùng thuật ói ra một chiếc bình, trong bình có người con trai trẻ tuổi, lại cùng ăn nằm, xong lại nuốt bình. Giây lát, Phạm chí thức dậy, lại đem người con gái nhốt vào bình, nuốt bình, rồi cầm gậy mà đi.

Thái tử trở về nước trình vua mời nhà tu cùng các thần hạ, làm ba phần cơm để một bên. Phạm chí đến rồi, nói: “Tôi một mình thôi”. Thái tử nói: “Nhà tu nên đưa vợ ra cùng ăn”. Nhà tu bất đắc dĩ đưa vợ ra. Thái tử bảo bà vợ: “Phải đưa người con trai ra cùng ăn”. Như vậy đến ba lần, bất đắc dĩ bà đưa người con trai nọ ra cùng ăn. Ăn xong, họ bỏ đi.

Vua hỏi Thái tử: “Con làm sao biết được?” Đáp: “Mẹ con muốn xem cảnh trong nước, con làm người đánh xe. Mẹ đưa tay ra khiến người ta thấy. Con nghĩ người nữ hay có nhiều dục, nên vờ đau bụng trở về vào núi, thấy nhà tu ấy giấu vợ trong bụng ắt có điều gian. Như vậy, người nữ gian không thể dứt được. Xin đại vương tha những người trong cung tự do đi đâu thì đi”. Vua liền ra lệnh trong hậu cung ai muốn đi tùy ý mình.

Thầy nói: “Thiên hạ không thể tin người nữ”. 

19 

Xưa có hai người theo thầy học đạo, cùng đi đến nước khác. Trên đường đi thấy dấu voi. Một