TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 2 ]

LÊ MẠNH THÁT

[ 1 ]   [ 3 ]

TẠP THÍ DỤ KINH

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT

 1  

 Bồ tát độ người giống như mẹ vú khéo nuôi con. Có bốn việc. Một là tắm rửa cho sạch. Hai là cho con bú no. Ba là dỗ ngủ yên. Bốn là bồng bế ra vào cho vui vẻ. Dùng bốn việc ấy nuôi lớn con mình khiến được thành tựu. Bồ tát cũng lại như thế. Có bốn việc nuôi lớn chúng sinh. Một là dùng chính pháp rửa sạch lòng. Hai là dùng kinh pháp cho ăn uống no đủ. Ba là tùy lúc mà thiết lập thiền định tam muội. Bốn là dùng bốn ân làm lợi ích hết thảy luôn khiến cho vui vẻ. Dùng bốn việc ấy khuyên dạy mọi người, nuôi dưỡng chúng sinh khiến được đạo trí lớn. 

2 

Thế gian có hai loại bạn, thường cùng người kết bạn làm nhân duyên, khiến người mắc tội lớn mà cũng khiến người được phước lớn. Hai loại bạn đó gọi là gì? Một là bạn dữ, hai là bạn lành. Ví như quân giặc làm chuyện ác nghịch, giết hại vua cha, phá loạn thiên hạ, chúng sinh bị độc hại, không ai là không bị. Đó là bạn dữ. Theo chúng mà làm việc, khiến người mắc tội lớn. Ví như Bồ tát Thích Ca Văn phát lòng cầu đạo cứu hộ chúng sinh, dùng lòng thương bốn bậc, bốn ân tiếp hộ hết thảy, ba cõi năm đường không ai là không được độ. Đó gọi là bạn lành. Theo họ mà làm việc, khiến người được phước lớn. 

3 

Xưa Nam Thiên Trúc có một nước tên Tư Ha Khê nằm trên bờ biển, thành nó rộng hơn bốn vạn dặm. Bấy giờ nước khác có một bà lão tên A Long gặp nạn đói loạn, trôi dạt đến nước đó, cô đơn không nơi nương tựa, nhờ xin ăn mà sống. Bèn đến nhà trưởng giả định xin ở nhờ. Khi trưởng lão trở về gặp, bèn hỏi han bà lão. Bà lão bèn tỏ rõ cảnh cùng khổ của mình. Trưởng lão buồn rầu thương xót, bảo bà lão: “Có thể tại gia tôi, tôi sẽ nuôi nấng bà”. Bà lão vui mừng nói: “Tôi không có gì để đền ơn, chỉ chút ít sức mọn để giúp việc. Mọi việc cần làm, tôi không sợ khó nhọc”. Rồi bèn dừng chân ở lại.

Lòng vừa buồn vừa vui nghĩ: “Ta ngày xưa cúng dường chúng tăng thết đãi theo ý. Bây giờ bỗng gặp nghèo khổ, lòng cho không đạt”. Lòng tự cảm thương, bèn đến lễ nhà sư. Hỏi han xong xuôi bèn thưa: “Không biết sáng nay các thần được cúng chưa?” Nhà sư đáp: “Từ sáng vào thành xin ăn, không được một chút gì. Vì thế đã trở về cởi áo ở đây”. Bà lão liền nghĩ muốn có cơm dâng cúng tăng mà tự mình không có gì, bèn bạch các sư: “Con nay vào thành xem, nếu sửa soạn gì, con sẽ trở về bạch lại. Nếu không cũng sẽ báo cho biết tin”. Lúc ấy, chúng tăng đồng ý, mỗi người cởi áo dưới gốc cây.

Rồi thì, bà lão trở về nhà, thưa lại với vị trưởng giả: “Tôi cần vài ngàn quan tiền. Nay tôi tuy giúp việc ở đây, nguyện tự thân bán làm đứa ở suốt đời, có thể làm giấy chứng”. Vợ trưởng giả hỏi: “Bà ở đây ăn ở với chúng tôi, sao lại cần tiền đem làm việc gì?” Bà lão nói: “Tôi cần dùng gấp không thể nói được”. Liền đó, vợ trưởng giả lấy tiền cho bà, nói: “Bà đem đi, nếu có dịp bà có thể tự trả lại, chứ tôi dùng giấy chứng làm gì?”.

Bà lão được tiền, bèn đến những người quen biết trước ở chung quanh, đem sự tình nói hết, lấy tiền đưa cho từng người, nhờ làm cúng đủ sáu mươi người. Chốc lát làm xong, bèn mang đến các sư nói: “Vốn không thật định, chỉ sự chí thành mà thôi”. Họ đều lấy làm lạ về sự tinh tấn xuất kỳ bất ý, mà hỏi: “Bà lão ở chỗ nào, ban sáng ta đi xin ăn khắp hết làng xóm, mà sao không gặp?” Bà lão nói hết gốc ngọn: “Con là người nước kia, gia tiên phụng Phật, cúng dường chúng tăng, gặp đời loạn lạc, một mình cô độc, tại gia đại trưởng giả nước này, giúp việc cho ông, sống nhờ cơm áo, thân nghèo sống gửi không có một đồng tiền. Vừa rồi gặp các nhà sư, buồn vui lẫn lộn, lòng có chỗ muốn, sợ ý nguyện không thành, thưa với vợ trưởng giả, đem thân tự bán, tìm kiếm chút đỉnh, muốn dâng cơm chúng tăng. Bà vợ nhân từ thấy thương, nên lòng thành mọn của con được toại” Nhà sư khen: “Thật có thể gọi là việc bố thí tận tín”. Họ bảo nhau: “Chúng ta cũng vì thân năm ấm, mà đi xin ăn. Bữa ăn hôm nay, chính là ăn thịt người, nên mỗi người phải lập chí để đáp lại công đức bố thí”.

Mỗi người một lòng ấy nhập định. Việc tám phương tinh thành cảm thông, liền được định siêu, thần trí uy linh, rung chuyển cảnh giới, cây cối cúi mình, như muốn quì vái. Các sư thấy điềm, ca ngợi thí chủ. Quốc vương kinh ngạc, lấy làm lạ tại sao, bèn triệu quần thần, cùng bàn điềm lành cảm ứng do đâu mà có. Thần hạ ra bốn cửa thành xem xét nguồn gốc, thấy bên ngoài thành các sư nhóm họp, người cúng nờm nợp cùng vui vẻ nhờ nhau. Họ cùng tâu vua, vua bảo: “Chính do họ làm mau mời họ vào”. Bề tôi trở lại truyền lệnh vua. Bà lão sợ hãi, e có tai vạ, trả lời bề tôi: “Thân tôi thuộc về vợ trưởng giả, không được tự do”. Bề tôi về báo ý đó. Vua bảo: “Vẫn cứ mời đến”.

Lúc ấy, vợ trưởng giả nghe lệnh vua, liền cùng bà lão đến chỗ vua. Vua hỏi ý bà: Bà lão đem hết ngọn nguồn, trình vua. Vua nói: “Ta làm chúa một nước, giàu có tự tại, nhưng không biết vâng kính Tam Bảo, cúng dường chúng tăng, như bà lão đây đến nỗi có cảm ứng như vậy”.

Vua nói: “Bà này là thầy ta”. Bèn đón rước vào trong cung, dùng nước thơm tắm rửa, đặt ngồi vị trí thầy. Cung nhân thể nữ gồm hai vạn người. Vua tự nhận thọ giới làm Ưu bà tắc. Phu nhân và thể nữ là Ưu bà di. Người trong nước hết thảy đều phát lòng đạo. 

4 

Xưa nhà sư học đạo ở trong núi. Trong núi có nhiều rắn bành. Nhà sư sợ, bèn dựa vào gốc cây, treo cao giường dây mà ngồi thiền định. Chỉ khổ nỗi buồn ngủ không tự ngăn được. Người trời trong hư không cười làm thức giấc, bèn buồn ngủ không hết. Người trời nhân thế tạo phương tiện, muốn làm sư sợ, khiến không buồn ngủ. Nửa đêm, người trời nói: “Này nhà sư! Rắn độc đến!”. Nhà sư quá sợ, bèn đốt đèn tìm khắp, không thấy. Người trời nhiều lần làm không ngưng. Nhà sư bèn nổi giận, nói: “Người trời sao nói hai lưỡi? Không thấy có con gì, sao nói là rắn độc”. Người trời nói nhà sư: “Sao sư không thấy có rắn độc trong mình. Thân mình có bốn rắn độc, không trừ sao lại đi tìm nó bên ngoài?” Nhà sư nghe người trời nói, liền tự suy nghĩ, thấy rõ thân thể mình, mới biết là bốn đại, bị năm ấm sau suy nhận chìm vô số kiếp đến nay vẫn chưa thoát được, liền hiểu bốn chân lý khổ, không, vô ngã. Trời chưa sáng, thì lậu hết, trí hiểu, sáu thần thông đầy đủ, bèn chứng được quả la hán. 

5 

Xưa có vua A Dục xây trong nước được một ngàn hai trăm ngôi tháp. Sau khi bị bệnh rất nặng, có một sa môn đến thăm vua. Vua gặp mặt, buồn không thể kể xiết. Nhà vua nói: “Vua trước sau làm việc công đức không thể kể xiết, nên cởi mở cõi lòng, chớ có ân hận”. Vua nói: “Giả sử có chết đi cũng không ân hận. Sở dĩ buồn là vì trước đây có xây dệt một ngàn hai trăm chiếc phướn bằng chỉ vàng, muốn tự mình treo phướn rải hoa ở các đồ dùng của tháp thì mới xong, mà nay mắc bệnh nặng, sợ không thành bốn nguyện mình, nên tự buồn thôi”. Nhà sư bảo: “Vua hãy chắp tay một lòng khiến vua thấy hết các tháp trong nước”. Nhà sư liền hiện thần thông, tự khắc 1200 ngôi tháp đều hiện ra trước mặt vua. Vua thấy rất vui mừng, bệnh liền lành hẳn. Bèn lấy phướn hoa vàng treo trên các tháp. Các tháp cúi mình đến tay vua. Vua thỏa ý nguyện mình, thân thể hại hết bệnh, liền phát nguyện lớn, sống thêm 25 năm, làm các công đức cho đến khi được bất thối chuyển. 

6 

Xưa có vua A Dục, khi lên ngôi, 28 vạn dặm thì thuộc hết về vua. Rồng, dạ xoa... trên đất liền cũng cúi đầu làm tôi, không ai không phục về. Chỉ có một vua rồng ở hồ phía bắc rộng hơn 300 dặm, có được một phần xá lợi của Phật, ngày đêm cúng dường, một mình không chịu cúi đầu trước vua A Dục.

Vua liền cử bốn thứ quân đến bên hồ. Rồng không ra đánh. Rồng có uy thần, vua cũng không thể tiến quân. Như vậy ba lần đến đều không thể tiến quân. Như vậy ba lần đều không thể bắt được rồng. (Vua nghĩ): “Sở dĩ oai thần nó gồm thân vì phước nó lớn hơn ta. Ta nay nên làm nhiều công đức cúng dường Tam Bảo, rồi đến bắt chắc được không nghi ngờ gì”. Do thế, vua sửa xây chùa tháp, rộng mời chúng tăng nhiều lên không nghỉ. Để tự thử công đức, vua đúc một rồng vàng và một hình vua, đặt hai đầu cân, cân xem nặng nhẹ. Lúc mới làm công đức, mà đem cân hai tượng, thì rồng nặng, vua nhẹ. Lúc sau lại cân thì hai bên nặng nhẹ như nhau. Lại làm công đức, sau vua lại cân ngày càng nặng, rồng cân ngày càng nhẹ. Vua biết công đức ngày càng nhiều, dấy binh đánh. Chưa đến nửa đường vua rồng lớn nhỏ cúi đầu đón rước, đem một phần xá lợi Phật mà họ có được, dâng cho vua A Dục. Vua A Dục lại dựng chùa tháp, rộng giảng Phật pháp. 

7 

Xưa sau khi đức Phật nhập niết bàn được 100 năm thì có vua A Dục yêu thích Phật pháp. Trong nước có hai vạn Tỳ kheo, vua thường cúng dường. Chín mươi sáu nhóm ngoại đạo sinh lòng ghen ghét, âm mưu muốn hại Phật, phá sư. Chúng cùng nhau nhóm họp, suy nghĩ phương pháp. Trong chúng có một tay giỏi việc làm huyễn, nó bảo mọi người: “Ta muốn làm huyễn, biến thành hình ác quỉ, bắt sa môn. Họ nghe mà trốn mất thì sẽ biết là họ không bằng ta, nên chắc chắn trở về với đạo chúng ta”. Vị thần đạo lạ này thờ tên là Ma Di Thủ La (Mahisuna), một đầu bốn mặt, tám mắt tám tay, đó là vị thần đáng sợ nhất của các vị thần. Phạm chí liền hóa làm thân ấy, đem hơn hai trăm quỉ xấu dương dương đi khắp trong nước, từ từ tiến dần đến cung vua. Gái trai một nước không ai là không sợ hãi. Vua ra đón thấy quỉ quá ghê, lên tiếng hỏi: “Không biết thần lớn muốn bảo ban gì?”. Quỉ bảo vua: “Ta muốn ăn thịt người”. Vua lại nói: “Không thể vậy được”. Quỉ bảo: “Nếu vua thương tiếc nhân dân, thì trong nước ai vô ích với vua, hãy giao cho ta ăn”. Vua nói: “Không có ai”. Quỉ bảo: “Các sa môn không làm ruộng, cũng không đi lính, không thuần thuộc vua. Đó là những người vô ích, hãy giao cho ta ăn”.

Lòng vua không vui. Việc bất đắc dĩ, bèn sai sứ đến Kỳ Hoàn báo tin. Trong hai vạn Tỳ kheo, có sa di nhỏ nhất, mới mười ba tuổi, tên Đoan Chính, thưa với các Tỳ kheo: “Con phải đi đối phó nó”. Họ đồng ý. Sa di ra ngoài, thưa với vị điển chủ: “Nếu có vị Phạm chí nào rớt xuống Kỳ Hoàn, thì xin thầy cứ cạo đầu, không cho thoát”. Rồi đến chỗ quỉ, bảo quỉ: “Biết ngươi đến muốn ăn thịt chúng ta. Ta là người nhỏ nhất trong tăng chúng, nên đến trước cho ngươi sai sử, các Tỳ kheo còn lại đúng lượt sẽ đến”. Sa di lại nói: “Tôi sáng đến chưa được ăn, ông cho tôi ăn được một bữa no, rồi hãy ăn tôi”. Quỉ bèn cho ăn.

Bấy giờ, từ quỉ Phạm chí cũng có hơn hai vạn người. Vua đang làm bếp lớn dọn cho chúng ăn. Sa di bèn lấy phần ăn hai vạn người bỏ hết trong miệng, rồi bằng thần thông bay về Kỳ Hoàn, nên chưa no. Bèn lại bắt lấy hai vạn Phạm chí nuốt luôn, cũng dùng thần thông đưa về Kỳ Hoàn.

Lúc ấy, Phạm chí làm huyễn, bỏ chạy rất sợ hãi, trở lại làm người cúi đầu xin lỗi, xin làm đệ tử. Các Phạm chí bị các Tỳ kheo cạo đầu hết, được giảng kinh pháp, đều chứng được la hán. Nhân dân cả một nước không ai là không vui mừng, được may mắn được độ. Vua suy nghĩ, nói: “Một sa di nhỏ tuổi cảm động như thế, huống nữa lại biển đại thừa, chỗ nào là không có người nhỏ thế”. Bèn phát lòng đạo vô thượng chính thân. Từ ấy trở đi, Phật pháp hưng thịnh, bất diệt tới nay. 

8 

Xưa có quốc vương thích ăn thịt người, bảo anh nấu bếp: “Các ngươi đêm đi lén bắt người về cung cấp cho bếp, lấy đó làm thường”. Bề tôi sau đó đều biết, liền cùng tống đi, vứt ra ngoài nước, rồi tìm bậc hiền lương để lập vua.

Từ đó, vua ăn thịt người sau 13 năm, mình mọc hai cánh, đi ăn thịt người, không kể xa gần. Ở trong núi, bèn đến cầu đạo với thần cây của núi nói: “Sẽ bắt 500 quốc vương cúng thần cây núi, nếu thần khiến ta được trở về nước làm vua”.

Từ đó, bèn bay đi bắt, được 499 người đem vào hang núi, lấy đá bít cửa. Lúc ấy quốc vương đem các hậu cung đến hồ tắm chơi. Mới ra cửa cung, gặp một nhà sư nói kệ xin ăn. Vua liền hứa là trở về cung sẽ cho vàng bạc. Bấy giờ, vua xuống hồ, sắp định tắm rửa thì vua ăn thịt người từ không trung bay đến ôm vua đem đi về trong núi. Vua gặp vua ăn thịt người không sợ không hãi, sắc mặt như cũ.

Vua ăn thịt người hỏi: “Ta vốn muốn bắt lấy năm trăm người, để tế trời. Đã có bốn trăm chín chín người, nay lại bắt được một người, thế là số đã đủ giết để tế trời. Ngươi biết điều đó, sao không khiếp sợ?”. Vua trả lời: “Người sống tất có chết, vật thành có bại, gặp gỡ tất có chia ly, dọ lại mà phân tích, nên không dám buồn. Nhưng sáng nay khi ra khỏi cung, giữa đường gặp đạo sĩ nói kệ cho tôi, tôi hứa bố thí, nay chưa cho được, nên lấy làm ân hận. Nay vua rộng thương nhân thứ, cho tôi mấy ngày, bố thí xong sẽ trở lại, không trái lời thề nặng”. Vua ăn thịt người đồng ý cho đi, còn bảo thêm: “Hẹn ông bảy ngày, nếu không đến, ta đến bắt ông cũng không khó”.

Vua liền trở về cung ở kinh đô, trong ngoài không ai là không vui mừng. Bèn mở kho tàng, bố thí xa gần, phong thái tử làm vua, ủy lạc trăm họ, rồi giã từ mà đi. Vua ăn thịt người, xa thấy vua đã đến, nghĩ: “Đây ta được người không lạ thường sao? Từ chết được sống mà cố đến trở lại”. Liền hỏi: “Thân mạng là cái người yêu chuộng, mà ông lại xả bỏ, đời khó mà tin có được. Không biết ông giữ chí hướng gì, xin nói ý cho biết”. Vua nói: “Việc thương cho của ta chí thành đáng tin, nên sẽ được giác ngộ hoàn toàn, độ khắp mười phương”. Vua kia nói: “Nghĩa lý của việc tìm Phật, việc nó ra sao?”. Bèn nhân đó rộng giảng năm giới, mười lành, bốn bậc, sáu độ. Lòng mở thênh thang, vua kia theo thọ năm giới làm thân tín sĩ, thả 499 người, mỗi mỗi cho về nước.

Các vua đi theo cùng về nước của vua, vì cảm động trước lời thề đáng tín của vua mà họ được cứu sống, nên không ai chịu về chính nước mình. Họ bèn ở lại nước đó. Ở nước đó mỗi vua dựng một ngôi nhà chạm trổ khắc vẽ trang hoàng tráng lệ theo kiểu nhà vua, ăn uống phục sức ngự dụng không khác gì vua. Người bốn phương đến hỏi: “Sao lại có chuyện giống như nhà vua khắp cả một nước?”. Mọi người trả lời: “Đều là nhà của các vua”. Danh tiếng truyền xa. Từ đó đến nay mới gọi là thành nhà vua. Đức Phật đắc đạo rồi, tự kể lại ngọn nguồn, nói vị vua giữ chữ tín, chính là thân ta. Vua ăn thịt người là Uông Quân Man rồi trở về thành Vương Xá thuyết pháp độ người vô lượng đều là những người có nhân duyên kiếp trước làm vua.

Đức Phật thuyết pháp lúc ấy, không ai không vui mừng, được phước được độ không thể kể xiết. 

Xưa núi Tuyết có con voi trắng, mình có 6 ngà. Voi chúa có hai vợ, một vợ lớn tuổi, một vợ trẻ tuổi. Mỗi khi ra chơi, hai vợ đều đi kẹp hai bên. Khi voi chúa ra đi chơi, đường đi qua một, hoa cây nhiều đẹp, bèn định lấy hoa cho hai vợ trang sức trên mình, vòi cuốn lấy cây lay xuống. Gió thổi nên làm hoa chỉ rụng trên mình vợ cả. Vợ bé đứng dưới gió nên không được hoa, bảo voi chúa có ý thiên vị, lòng sinh ý dữ. Sau trong hồ voi chúa có mọc một hoa sen ngàn cánh màu vàng. Voi nhỏ gặp, lấy đem dâng voi chúa. Voi chúa được hoa đem cho vợ cả bảo gắn trên đầu. Vợ bé càng ghét tức, nghĩ muốn hại vua.

Trong núi Tuyết có nhiều nhà tu, do thế vợ bé hái lấy trái ngon mỗi lần đem dâng một trăm ngàn Phật Bích Chi. Sau đó đến một chỗ hiểm trên núi, tự thề nguyền đem hết phước báu cúng dường trước sau các Phật Bích Chi để sinh vào trong loài người có của cải thế lực, tự biết đời trước, để giết hại voi chúa ấy. Rồi buông mình phóng xuống dưới núi mà chết.

Hồn đến sinh vào cõi người làm con gái trưởng giả thông minh biết khắp, đẹp đẽ vô cùng. Người con gái lớn lên, quốc vương cưới về làm vợ và thương trọng. Người vợ nghĩ: “Đây chính lúc báo được oán xưa”. Bèn dùng trái dành xoa vàng mặt, nằm ủ kêu bệnh. Vua vào hỏi! Nàng đáp: “Đêm qua nằm mơ thấy đầu voi sáu ngà, em muốn được ngà nó, đem làm khuyên tai. Vua nếu không bắt được ngà đó thì bệnh em ngày một nặng”.

Vua quá thương trọng, nên không dám trái ý, bèn gọi các thợ săn trong nước đến, được vài trăm người và nói với họ: “Các ngươi có thấy có voi sáu ngà trong núi không?”. Họ đều trả lời: “Chưa từng thấy”. Lòng vua không vui, bèn khiến người vợ gọi các thợ săn đến nói ý bà. Bà nói: “Vùng này gần đây thật không có con voi đó. Trong các ngươi ai có gan chịu khổ không?”. Có một người quì nộp xuống nói: “Tôi rất có thể chịu”.

Nhân đó người vợ cho anh một vạn lạng vàng và một móc sắt, một búa đẽo và một bộ y bảo: “Ngươi đi thẳng vào núi Tuyết, đường rẽ có một đại thụ, hai bên có mãng xà mình dài vài trăm trượng, không thể đến gần, dùng búa đẻo cây xuyên qua mà đi, đi tới sẽ gặp một con sông lớn, có cây cối bủa ra trên sông, lấy móc sắt lên cây theo cành mà tiến lên vượt tới chỗ voi ở, xem chỗ nó thường nghỉ ngơi, thì hãy xuống đào một cái hầm sâu, phủ cỏ mỏng trên rồi ở trong rình lúc voi đến, dùng tên bắn nó, xong liền mặc cà sa như phép của sa môn. Voi thờ Tam Bảo nên rốt cuộc không hại người. Thợ săn nhận lời chỉ giáo, liền lên đường ra đi. Bảy năm bảy tháng bảy ngày thì đến chỗ voi ở, bèn đào hầm vào trong ở. Chốc lát voi chúa trở về. Thợ dùng tên độc bắn. Voi bị trúng tên đó, biết không đến từ xa, bèn dùng vòi quật đất trúng hai bên, thấy người trong hầm, liền hỏi ai. Người kia quá sợ hãi, tự thú nói: “Tôi là người ứng mộ”. Voi chúa liền biết đó là việc làm của người vợ vua, bèn tự cắt ngà mình đem cho thợ săn, bảo người ấy: “Ngươi trở về đi, đàn voi mà thấy tức sẽ giết ngươi, nên nghe chỉ bảo xong thì đi ngay. Đàn voi tất tìm dấu người mà đuổi theo”.

Voi chúa dùng uy thần đem che chở, nên trong khoảng bảy ngày thì ra khỏi vùng ấy, trở về nước mình đem ngà voi dâng cho vợ vua. Vợ vua được ngà, xem qua xem lại, vừa vui vừa hối hận. Chẳng bao lâu thì thổ huyết mà chết.

Lúc Đức Phật Thích Ca vẫn còn ở đời, trời rồng quỉ thần, bốn chúng đệ tử đại hội nghe thuyết pháp. Trong những người ngồi nghe, có một đại Tỳ kheo ni, xa trông Đức Phật, bèn cười lớn tiếng, chốc lát lại cất tiếng khóc. Những người ngồi nghe, không ai là không lấy làm lạ. Đức A Nan hỏi đức Phật: “Vì sao Tỳ kheo ni ấy đã chứng được A la hán, do nguyên nhân nào mà vừa buồn vừa vui không thể tự kiểm soát được, xin được nghe sự việc”. Đức Phật bảo A Nan: “Voi chúa trắng lúc ấy chính là thân ta. Vợ cả nay là Cù Di. Vợ bé nay là vị Tỳ kheo ni ấy vì chứng được thần thông, biết việc ngày xưa, nên buồn vì không chịu được việc lòng vui, còn cười vì đã giết hại người lành, từ đó mà đắc đạo”.

Chúng hội nghe, đều nghĩ: “Kết nhân duyên ác với đức Thế Tôn, mà vẫn còn được độ, huống nữa kết nhân duyên đạo đức”. Hết thảy chúng hội đều phát lòng đạo chính chân vô thượng thề khắp mười phương, rộng độ hết thảy.

10 

Xưa đức Phật đến nước ở truồng, nhận lời mời của Tu Kiệt. Nước đó gần biển. Rồng gây mây mưa. Đức Phật sợ trôi chìm nhân dân, nên nhân ăn uống xong, dẫn chúng tăng đến hồ A Nậu Đạt. Đức Phật họp xong, chúng tăng ngồi ổn định thì được báo Xá Lợi Phất không có mặt trong buổi hội. Vua Trời nghĩ: “Tả hữu của Phật thường có thần thông trí huệ càng làm rực rỡ ánh sáng của Phật”. Đức Phật biết ý vua trời nghĩ, bảo Mục Kiền Liên: “Con gọi Xá Lợi Phất đến”. Mục Kiền Liên làm lễ mà đi.

Xá Lợi Phất đang vá áo pháp. Mục Liên nói: “Phật đang đại hội ở trời hồ A Nậu Đạt. Phật bảo tôi đến gọi ông, xin đến đúng giờ”. Xá Lợi Phất trả lời: “Đợi áo tôi xong”. Mục Liên đáp: “Nếu đến không đúng giờ, tôi sẽ dùng thần thông đem ông và ngôi nhà đá trong núi của ông đặt trong bàn tay mặt của tôi để đưa tới chỗ Phật”. Xá Lợi Phất bèn cởi chiếc dây lưng đặt trên đất, nói với Mục Liên: “Ông nếu có thể khiến chiếc dây lưng rời đất thì thân tôi ông mới có thể dở nổi”. Mục Liên liền dở lên, đất vì thế rung động, nhưng dây lưng không thể dở được. Mục Liên dùng thần thông trở về chỗ Phật thì Xá Lợi Phất đã về trước, ngồi bên Phật. Mục Liên mới biết sức của thần thông không bằng sức của trí tuệ.

Bấy giờ trong tọa chúng có một Tỳ kheo, trong tai có hoa tu mạn. Tọa chúng nghi ngờ vì phép Tỳ kheo là rời bỏ yêu trang sức bằng hoa, mà Tỳ kheo này mang hoa là vì sao? Vua trời liền thưa Phật: “Không biết vì sao Tỳ kheo ấy mang hoa”. Đức Phật bảo vị Tỳ kheo vứt bỏ hoa trong tai. Tỳ kheo thọ giáo, bèn dùng tay lấy hoa vứt đi, nhưng hoa tiếp tục như cũ. Như vậy lấy vứt mà chỗ đó vẫn có. Đức Phật bảo vị Tỳ kheo dùng thần thông vứt đi. Bèn dùng sức định tạo ra vài ngàn muôn bàn tay từ không trung vứt bỏ hoa trong lỗ tai. Hoa vẫn không hết. Tọa chúng mới biết đó là do nhân duyên đạo đức, chứ không phải do tạm mang hoa. Vua trời bạch Phật xin nói ngọn nguồn khiến chúng hội cỗi hết nghi ngờ.

Đức Phật bảo vua trời: “Xưa vào thời Phật Duy Vệ cách đây 91 kiếp, lúc bấy giờ đức Phật đại hội thuyết pháp, có một khách say rượu trong đại hội nghe kinh, vui mừng lấy hoa trên tai mình rải lên Phật, rồi làm lễ mà đi. Sau khi chết trong 91 kiếp thọ phước trên trời và cõi người không còn trở lại ba đường dữ. Muốn biết người trời đó thì nay chính là vị Tỳ kheo ấy. Rãi một cành hoa mà phước báu đến nay đắc đạo vẫn chưa hết”. Vua trời thưa Phật: “Một khách say ngày xưa không thọ giới cũng không thực hành sáu ba la mật, chỉ rải một cành hoa, mà phước qua 91 kiếp đến nay không hết, huống nữa là người làm nhiều!”. Đức Phật bảo vua trời: “Nên biết đấng Nhất Thiết Trí làm lợi ích cho hết thảy như vậy”. Hết thảy chúng hội nghe nói như thế, rất vui mừng, rộng phát lòng đạo vô thượng chính chân.

11 

Xưa đức Phật mới đắc đạo, giáo hóa thiên hạ, không ai là không vâng theo. Chỉ vua nước Xá Vệ không tin hiểu đúng lúc. Tịnh xá Phật cùng vườn vua gần nhau, chỉ cách bức vách, đều nằm ra bờ sông. Trong tịnh xá có hơn ba trăm sa di để các tôn đức sai khiến. Bấy giờ vị duy na sai các sa di đem bình đến sông lấy nước.

Các sa di đến bờ sông, họ cởi cà sa đùa giỡn. Lúc ấy vua Ba Tư Nặc với phu nhân ngồi trên lầu thấy các sa di cùng đùa giỡn như vậy, liền bảo phu nhân: “Ta không tin Cù Đàm chính vì như vậy. Đám Cù Đàm tự xưng thanh tịnh, không che giấu. Nay họ đùa giỡn không khác gì ta thì sao được gọi là chân”. Phu nhân đáp: “Ví như rắn rồng trong biển, pháp Đại thừa cũng như thế. Có người đắc đạo, có người chưa đắc đạo, không thể bàn gồm vào một”.

Phu nhân nói chưa xong, các sa di mặc lại cà sa, mỗi mỗi lấy nước đi thẳng về tịnh xá, dùng thần thông tung ba trăm chiếc bình lên không trung, mỗi mỗi bay theo đều về tịnh xá. Phu nhân bèn chỉ ra: “Những gì đại vương nói, ý vua chưa xong. Nên nay hiện thần thông thì sao?”. Vua thấy rất vui, liền xuống lầu cùng quần thần trăm quan đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ qui y hối lỗi. Đức Phật vì họ thuyết pháp. Vua và phu nhân hết thảy chúng hội đều phát lòng đại vô thượng chính chân.

12 

Xưa trưởng giả Phạm chí nước Xá Vệ ra thành đi chơi, dần dà đến bên Kỳ Hoàn. Đức Phật biết người này có công đức có thể độ. Đức Phật liền ra ngồi dưới gốc cây, phóng hào quang lớn rọi khắp vùng Kỳ Hoàn, cây cối đất đá đều thành sắc vàng. Phạm chí thấy ánh sáng, hỏi người đi theo: “Ánh sáng đó là gì?” Người đi theo nói: “Không biết”. Trưởng giả hỏi: “Chẳng phải là ánh sáng mặt trời sao?” Người đi theo nói: “Ánh sáng mặt trời thì nóng. Ánh sáng này mát lạnh vừa phải, nên chẳng phải là ánh sáng mặt trời”. Trưởng giả lại hỏi: “Phải chăng là ánh lửa ư?” Người đi theo nói: “Chẳng phải ánh lửa. Ánh lửa thì lung lay không định. Ánh sáng này im phắc, không giống ánh lửa”. Người đi theo suy nghĩ biết, bảo trưởng giả: “Đó là ánh sáng đức của sa môn Cù Đàm”. Trưởng giả liền nói: “Đừng nói điều đó. Ta không thích Cù Đàm. Mau trở về”.

Đức Phật liền biến hóa ba mặt đều tự nhiên có suối lớn, đi về hướng nào cũng không thể qua được. Chỉ ở trước Phật có đường thẳng. Người đi theo thưa: “Phía Cù Đàm có đường qua”. Việc bất đắc dĩ, Phạm chí tiến lên, xa thấy đức Như Lai liền lấy quạt che mặt. Đức Phật lại dùng uy thần khiến trong ngoài cất hết, chính mắt thấy Phật giác ngộ, xuống xe, cúi đầu làm lễ. Đức Phật thuyết pháp cho họ, bèn phát lòng đạo vô thượng chính chân, rồi chứng bất thối chuyển. Quay lưng với Phật mà đi còn chứng được trí tuệ đạo, huống nữa người tin hướng Phật ư ?

13 

Xưa nước Ba La Nại có tám người đại lực sĩ. Một người đương được sức 60 con voi. Trong đó có một người riêng có nhiều phép linh quyền biến lạ lùng, 64 biến hóa văn vũ đều đủ, vì thế tự thị không biết sợ một ai. Đức Phật thấy người ấy tất rơi vào con đường dữ, nên đến chỗ y định độ thoát. Người giữ cửa báo vào: “Cù Đàm đến bên ngoài, muốn gặp”. Lực sĩ nghe, nói với tả hữu: “Trí tuệ Cù Đàm có, há thắng ta, vì không bằng ta”. Rồi bảo người giữ cửa đuổi đi, không thể gặp.

Đức Phật đến cửa ba lần không gặp. Do thế, đức Phật làm một lực sĩ trẻ tuổi đến đòi đấu. Người giữ cửa vào thưa! Lực sĩ hỏi: “Phải chăng là tám người trong nước sao?” Người giữ cửa đáp: “Là người trẻ tuổi, chưa từng thấy”. Lực sĩ ra ngoài gặp, đem đến diễn trường, khinh nó trẻ tuổi, định quật giết đi, bảo người trẻ tuổi: “Mạnh đến trước nhau, cùng đánh nhau”. Hai người tiến ra, sắp định giao hiệp thì Phật dùng thần thông cất mình lên không trung cách đất hơn mười trượng, xem xuống đất chỉ thấy mũi gươm lửa. Người ấy đều mất hết lòng cao ngạo tức giận, chỉ e sợ chết, xa ở không trung nói quy mạng, lực sĩ ở dưới xin được toàn mạng. Đức Phật hạ xuống đất, hiện lại thân Phật. Lực sĩ biết đó là Phật, bèn cúi đầu làm lễ: “Con nếu biết Phật thần thông lực như vậy thì không dám kiêu ngạo cho đến nay. Xin được tha thứ để giảm vạ nặng”. Đức Phật nhận lời, vì y thuyết pháp sâu sắc, bèn phát lòng đạo vô thượng chánh chân, liền chứng được bất thối chuyển. Đạo quyền biến độ người của Phật là như vậy.

14 

Xưa nước La Duyệt Kỳ có đứa con Bà la môn một mình ở với mẹ. Tuổi nhỏ, lớn lên, tự hỏi mẹ nó: “Cha con phụng thờ đạo gì? Con muốn đi theo dấu cha con”. Bà mẹ bảo con: “Cha con lúc sống, một ngày ba lần xuống sông tắm rửa”. Con hỏi: “Cha con làm thế hy vọng chuyện gì?” Bà mẹ nói: “Nước sông Hằng rửa sạch bụi dơ thì có thể được thần thông”. Con nói: “Không phải”. Mẹ bảo con: “Con há có thuyết khác ư?” Con nói: “Nếu như vậy thì cư dân ở phía bắc mỗi ngày xua bò vượt sông thả ở phía nam, mỗi ngày hai lần tắm rửa, sao không đắc đạo? Vả trong sông có loài cá rùa sống trong nước, sao lại không đắc đạo?” Mẹ nói: “Ý con thế nào?” Người con nói: “Chỉ có hồ tắm giải thoát của Như Lai và nước tam muội. Tắm nước ấy mới vô vi”. Nhân bảo mẹ: “Nên đến chỗ Phật, xin tắm gội sự thần hóa”. Rồi mẹ con đến chỗ Phật. Đức Phật vì họ thuyết pháp. Người con làm sa môn chứng được quả A la hán, trở về thuyết pháp cho mẹ lại được quả Tu đà hoàn.                 

15

Xưa trong nước Kế Tân có một Tỳ kheo rộng dạy môn đồ hơn vài trăm người. Trong đó có người chứng tứ thiền, có người chứng ngũ thông, chứng Tu đà