PHẦN II
SÁU LÁ THƯ
LÝ MIỄU, ĐẠO CAO VÀ PHÁP MINH
Nền
Phật giáo do Mâu Tử và Khương Tăng Hội gầy dựng nên, đến thế kỷ thứ IV sdl. vẫn
đang còn có những ảnh hưởng mạnh mẽ. Chí Hàm viết Triệt tâm ký mà chúng
tôi đã có dịp giới thiệu, đã nhắc đến Khương Tăng Hội với lòng ngưỡng mộ đặc
biệt. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ thứ V, một số phạm trù cơ bản của nền Phật
giáo Mâu Tử, Khương Tăng Hội đã biến thành đề tài tranh cãi. Trong đó, vấn đề
then chốt nhất đối với những người Phật giáo là tại sao thực hành theo Phật giáo
mà lại không thấy chân hình của đức Phật ở đời. Đây là đề tài bàn cãi của Sáu
lá thư trao đổi giữa hai pháp sư tên Đạo Cao, Pháp Minh và một “sứ
quân” tên Lý Miễu. Mấy lá thư này là những áng văn xưa nhất của lịch sử văn học
và Phật giáo nước ta, quan trọng không những đối với tự thân lịch sử văn học và
Phật giáo, mà còn đối với lịch sử chính trị, tư tưởng và văn hóa Việt Nam một
cách tổng quát.
Sáu lá thư
bày tỏ cho thấy Phật giáo đã được dân tộc ta tiếp thu như thế nào, những vấn đề
gì mà họ quan tâm nhiều nhất, từ đó giúp ta xác định được sinh hoạt trí thức và
văn hóa chung của một thời đại. Thực sự mà nói, chúng đã phơi trần một cuộc
khủng hoảng có tính chất căn để đối với toàn bộ tư tưởng và tín ngưỡng Phật giáo
vào thời ấy, vì chúng chỉa mũi dùi tra hỏi đến vấn đề người theo Phật giáo thực
sự có thể thấy Phật được không? Đặt vấn đề như thế là nhắm đến trọng tâm của
toàn bộ sinh hoạt Phật giáo, vì sinh hoạt Phật giáo đâu có ý nghĩa gì khác ngoài
mục đích làm cho những người thực hành nó giác ngộ, nghĩa là tìm lại bản thân
đức Phật của mình, tìm lại bản chất Phật của mình. Do vậy, hỏi sao không thấy
chân hình của Phật ở đời đối với người Phật giáo là nêu lên những nghi vấn về
chính cái mục đích mình đang theo đuổi, là tự hỏi về sự hiện hữu của chính mục
đích đó. Có thể nào ta thấy đức Phật chăng? Có thể nào ta giác ngộ chăng?
Nghi vấn và
tự hỏi về mục đích như vậy bao gồm luôn một nghi vấn và tự hỏi về giá trị của
những phương pháp nhằm đạt đến mục đích. Một mặt, ta hỏi mục đích có hiện hữu
không. Mặt khác, giá như mục đích có hiện hữu, mà ta không đạt đến được, phải
chăng vì phương pháp của ta đã sai lầm? Sáu lá thư này sẽ giúp cho thấy
những câu hỏi như thế cần phải giải quyết ra sao trong bối cảnh lịch sử tư tưởng
và Phật giáo Việt Nam thời đó. Chúng sẽ phơi bày không những nghi vấn về giá trị
của những phương pháp thực hành Phật giáo đang lưu hành vào giai đoạn ấy, mà còn
biểu lộ cho thấy cái quan niệm về Phật do nền Phật giáo Mâu Tử và Khương Tăng
Hội thiết định đang mang trong mình một số những mâu thuẫn cần giải quyết.
Sáu lá thư
ngày nay xuất hiện trong Hoằng minh tập 11 ĐTK 2145 tờ 70a26-72a19 bản in
Đại Chính dưới nhan đề “Cao Minh nhị pháp sư đáp Lý Giao Châu Miễu nạn
Phật bất kiến hình sự”. Việc này có thể làm cho ta nghĩ rằng, chúng
đã được Hựu sưu tập sau năm 513, nếu không là sau năm 495-498,
bởi vì Hựu đã cho trích lời tựa của Hoằng minh tập trong Xuất tam tạng
ký tập 12 ĐTK 2145 tờ 93b12-94a23 viết xong khoảng những năm 495-498 và bảo
là Hoằng minh tập chỉ có 10 quyển, chứ không phải có 11 quyển như bản in
Đại Chính ngày nay điểm chỉ.
Tuy nhiên,
nếu ta đọc hết lời tựa cùng bảng liệt kê nội dung của nó, thì Sáu lá thư
ấy lại được xếp vào quyển thứ bảy cùng với những đối đáp giữa Hà Thượng Chi và
Tống Văn đế và một số những văn bản khác của Tiêu Tử Lang v.v... Thế cũng có
nghĩa Sáu lá thư tự nguyên ủy nằm trong bản Hoằng minh tập 10
quyển do Tăng Hựu hoàn thành trước năm 495. Cũng trong lời tựa ấy, Hựu cho ta
biết tại sao và bằng cách nào cuốn Hoằng minh tập ra đời. Ông viết ở tờ
93b26-c3: “Hựu dĩ mạt học, chí thâm hoằng hộ, tĩnh ngôn phù tục, phẩn khái vu
tâm, toại dĩ dược tật vi gian, sơn thê dư hà, soạn cổ kim chi minh thiên, sao
đạo tục chi nhã luận, kỳ hữu khắc ý tiển tà vệ pháp, chế vô đại tiểu, mạc bất
tất thám. Hựu tiền đại thắng sĩ thơ ký văn thuật, hữu ích tam bảo giả, diệc giai
biên lục, loại tụ khu quân, liệt vi thập quyển. Phù đạo dĩ nhân hoằng, giáo dĩ
văn minh, hoằng đạo minh giáo, cố vị chi Hoằng minh tập”. Sáu lá thư
do “Cao Minh nhị pháp sư đáp Lý Giao Châu Miễu nạn Phật bất kiến hình
sự” như vậy chắc chắn phải thuộc loại “tiền đại thắng sĩ thơ ký văn thuật”
và chắc chắn là được sưu tập trước những năm 495-498 để đến năm 513, năm Hựu
hoàn thành bộ Xuất tam tạng ký tập, chúng được ghi tên vào trong bộ
Xuất tam tạng ký tập
ấy.
Tăng Hựu sinh
năm 445 và mất lúc ông 74 tuổi vào năm 519. Hai vị pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh
cũng như người đệ tử của họ tên Lý Miễu, ngày nay chúng ta không biết một tí gì
hết. Những tư liệu lịch sử Trung Quốc và Phật giáo Trung Quốc từ Cao tăng
truyện
cho đến Tống thư đã không có một người nào với những tên ấy. Những tư
liệu lịch sử nước ta và Phật giáo nước ta cũng không có. Dẫu thế, vì Tăng Hựu
sinh và mất giữa những năm 445-519, niên đại của những vị “tiền đại thắng sĩ”
này phải rơi vào khoảng thế kỷ thứ V. Điều này bản in đời Minh đã xác nhận với
những tiêu đề cho những lá thư ấy như “Đáp Lý Giao Châu thơ Tống Thích
Đạo Cao” hay “Dự Đạo Cao pháp sư thơ Lý Miễu” v.v..., định tự một
cách rõ ràng, những người liên hệ quả đã sống vào thời Lưu Tống, tức giữa những
năm 420-478. Nghiêm Khả Quân (1762-1843), khi hoàn thành bộ Toàn thượng cổ
tam đại Tần Hán tam quốc lục triều văn cũng đã xếp hai vị pháp
sư Đạo Cao, Pháp Minh và vị sứ quân Lý Miễu vào trong tập Toàn Tống
văn dành cho văn chương nhà Lưu Tống.
Và những niên đại ấy có thể đẩy về một vài chục năm sớm hơn, như chúng tôi sẽ có
dịp chứng tỏ dưới đây, trong đoạn thử truy tìm căn cước những pháp sư và người
đệ tử của họ cùng hành trạng có thể của những người này trong lịch sử nước ta.
Những lá thư
này viết bằng Hán văn và xuất hiện trong Hoằng minh tập ĐTK 2102 quyển 11
tờ 70a26-72a19 của bản in Đại Chính.
Những truyền bản của Sáu lá thư ấy đã được những người đứng in bản in Đại
Chính thực hiện khảo dị. Vì thế, khi dịch những văn bản này ra tiếng Việt, chúng
tôi sẽ không thực hiện công tác khảo dị văn bản ở đây, vì nó sẽ tương đối khá
dài, mà lại không cần thiết. Chúng tôi do thế chỉ cho in bản dịch tiếng Việt và
xin người đọc tham khảo bản chữ Hán ở cuối sách. Chúng tôi cũng không đề cập tới
các bản in hậu kỳ của Tứ bộ bị yếu và Nghiêm Khả Quân, vì chúng không có
giá trị văn bản học cao. Một số điển cố trong Sáu lá thư, chúng tôi xin
để nguyên trong khi dịch và sẽ bàn tới trong những chương tiếp theo.
Những lá thư
ấy, theo chúng tôi biết, thì chưa một cuốn văn học sử nào của ta, ngay cả những
cuốn mệnh danh viết về “Việt Nam cổ văn học sử” hay “Lịch sử văn học
Việt Nam thời Bắc thuộc”
kể tới. Vì vậy chúng nên được công bố toàn vẹn ở đây để làm tư liệu cho việc
viết một cuốn lịch sử văn học Việt Nam hoàn chỉnh hơn và giúp sửa soạn việc
nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam một cách đầy đủ hơn sau này.
NGUỒN
GỐC VIỆT NAM VỀ MẶT ĐIỂN CỐ LỊCH SỬ
Sáu lá thư
là những
gì còn lại của những trao đổi giữa Lý Miễu của Giao Châu và hai pháp sư Đạo Cao
và Pháp Minh. Thực tế cuộc trao đổi này chỉ bao gồm sáu lá thư mà thôi hay còn
nhiều nữa, ta hiện nay không thể xác định được. Có khả năng có thể Tăng Hựu đã
sao lược bớt và chỉ giữ lại cho ta sáu lá thư mà thôi. Điểm lôi cuốn là sau lá
thư thứ sáu, có một đoạn văn mà chúng tôi gọi là “Hậu bút”, và nó không gì hơn
là một trích dẫn từ Minh Phật luận của Tôn Bính (374-443) do Tăng Hựu sưu
tập lại trong Hoằng minh tập ĐTK 2102 tờ 12c12-18. Bính viết Minh Phật
luận nhằm trả lời những vấn đề do Quân thiện luận của Huệ Lâm nêu
lên. Trong đoạn trích trên, chủ ý của Bính là nhằm chứng minh rằng, Phật giáo đã
được biết tới và xuất hiện rất lâu trong lịch sử Trung Quốc ngay cả vào thời Tam
hoàng Ngũ đế. Bính chẳng hạn nhắc tới câu “Đông hải chi nội, bắc hải chi
ngung, hữu quốc viết Triều tiên Thiên độc, kỳ nhân thủy cư, ôi nhân ái nhân”
của Sơn hải kinh trong Sơn hải kinh tiển sớ 18 tờ 1a.
Sơn hải kinh thường được bảo là do Bá Ích, người con thứ hai của vua Thuấn,
viết có lẽ vào thế kỷ thứ XXII tdl. (!). Tuy nhiên, căn cứ vào những bằng cớ nội
tại, thì nó phải được viết vào khoảng thế kỷ thứ I tdl. hay sdl., mà Quách Phác
(276-324 tdl) hơn ba trăm năm sau đã viết một chú thích.
Về quyển
Liệt tiên truyện của Lưu Hướng, Chí Ban cho biết trong Phật tổ thống ký
35 ĐTK 2035 tờ 329a 17-21 viết năm 1269 là: “Hồng Hy năm thứ hai (19
tdl.)
Quang lục đại phu Lưu Hướng kiểm sách ở các Thiên bộc, thỉnh thoảng có thấy kinh
Phật. Hướng viết Liệt tiên truyện, nói rằng: Tôi tìm xem
trong thư viện, lục truy Liệt đồ do Thái sử soạn thì thấy, từ Hoàng Đế trở xuống
cho đến nay 700 người đã đắc đạo tiên. Xét sự thật giả của số đấy thì còn lại
được 148 người, trong đấy 74 người đã tìm thấy trong kinh Phật”. Hồng Hy năm
thứ hai nhà Tây Hán tức là năm 19 tdl.
Về chuyện
Thạch Hổ và người chú của Diêu Lược, thì tuy chuyện chú Diêu Lược ngày nay ta
không biết một tí gì rõ ràng, chuyện Thạch Hổ ta có thể tìm thấy trong bản tiểu
sử của Phật Đồ Trừng ở Cao tăng truyện 9 ĐTK 2060 tờ 38b13-387a29. Thạch
Lặc và Thạch Hổ lập nên nhà Hậu Triệu và trị vì giữa những năm 329-350, trong
khi Phật Đồ Trừng mất vào năm 348 lúc ông 117 tuổi.
Viện dẫn
những chứng cớ vừa nêu, Tôn Bính nhằm trả lời câu hỏi, nếu Phật giáo có mặt ở
Trung Quốc từ xưa thì tại sao lại không thấy nói đến ở thời Tam đại, tức thời
nhà Hạ, Thương và Chu? Bính bảo là ngay cả những cuốn sử của Can Bảo và Tôn
Thạnh, mà tiểu sử ta tìm thấy trong Tấn thư quyển 82 tờ 8al-9a3 và
6b10-7b7 kiểu
Tấn ký hay Ngụy thế xuân thu cũng không nói gì hết đến chuyện “Phật
diệu hóa thật chương hữu tiên nhi thạnh ư Giang tả”, nghĩa là, những cuốn sử
viết cách Bính và những người thời ông không bao xa. Tôn Thạnh sinh năm 302 và
mất vào năm 373, một năm trước khi Tôn Bính ra đời. Vạch ra những điểm này,
chúng tôi có ý nhằm cho thấy những truyền thống lịch sử Phật giáo và văn hóa
khác nhau giữa những người viết Sáu lá thư và tác giả Minh Phật luận.
Để rõ hơn, chúng ta phải phân tích những chứng cớ, mà Pháp Minh đã dẫn ra trong
lá thư thứ sáu cho việc chứng minh sự cảm ứng linh biến của đức Phật “hoặc
qua sự chứng kiến rõ ràng của tai mắt, hoặc qua sự mơ thấy trong một giấc mộng”,
và chúng gồm 7 thứ sau:
Thứ nhất là
chuyện Hán Minh đế mộng thấy Người Vàng và Phật giáo đến Trung Quốc. Từ ngày
Tôkiwa vội vàng giả thiết Mâu Tử Lý hoặc luận là một ngụy tạo của Huệ
Thông và từ đó kết luận chuyện “Hán Minh đế mộng thấy Người Vàng” cũng thế, hầu
hết những người nghiên cứu, dù có bất đồng ý kiến và chỉ trích Tôkiwa đi nữa, ít
khi thử vạch ra sự sai lầm dữ kiện của người này.
Theo Cao
tăng truyện 7 ĐTK 2059 tờ 374c28-375a6 thì Huệ Thông “đến dừng lại ở chùa
Trị Thành... Từ Trạm Chi từ Đông Hải, Viên Xán từ Trần quận kính trọng, dùng lễ
thầy bạn. Hoàng đế Kiến Vũ gia hậu sủng ái, sai làm bạn với hai vương Hải Lăng
và Tiểu Kiến Bình. Viên Xán viết Cừ nhan luận đem đưa cho Thông coi... Thông
viết nghĩa sớ cho những kinh Đại phẩm và Thắng man, những luận Tạp tâm và Tỳ
đàm, cùng Bác di hạ luận, Hiển chứng luận v.v... đều có truyền ở đời, đến Tống
Thăng Minh ông mất, thọ 63 tuổi”.
Thăng Minh là
niên hiệu của Tống Thuận đế kéo dài từ năm 477 đến 478. Nếu Thông mất khoảng
Thăng Minh, thế có nghĩa niên đại của Thông phải rơi vào khoảng 415-478. Xác
định kiểu này thì ngay cả khi Mâu Tử Lý hoặc luận là một ngụy tạo của
Thông, một luận đề hoàn toàn sai lầm, mà chúng tôi có dịp chứng tỏ,
ta cũng không thể khẳng định là, thuyết “Minh đế mộng kim nhân” đã ra đời với
Huệ Thông, bởi vì pháp sư Pháp Minh đã nhắc tới nó và pháp sư này phải sống vào
khoảng những năm 370-456.
Nói thế,
chúng ta dĩ nhiên chưa kể đến chú thích của Lục Trừng về Mâu Tử Lý hoặc luận
trong cuốn Pháp luận của ông, mà Tăng Hựu đã cho thu thập lại trong
Xuất tam tạng ký tập 12 ĐTK 2145 tờ 82c29-83al, theo đấy “Mâu Tử
bất nhập giáo môn, nhi nhập duyên tự, dĩ đặc tải Hán Minh chi tượng pháp sơ
truyền cổ giả”. (Mâu Tử không xếp vào loại sách dạy, mà vào loại sách
nhập đề, bởi vì nó đã đặc biệt ghi lại lúc tượng pháp mới truyền vào thời Hán
Minh đế). Những dòng này, Trừng phải viết trước năm 470, bởi vì khi Tống Minh đế
ra lệnh soạn cuốn
Pháp luận ấy thì ông đang còn ở tại chức Trung thư thị lang, như Tăng Hựu đã
ghi, trong khi vào năm 470 ông đã bị đổi qua chức Ngự sử trung thừa vì mắc tội.
Và đó cũng
chưa kể đến thuyết của Viên Hoằng (328-376) trong Hậu Hán ký. Dẫu sao đi
nữa, với những củ soát vừa thấy, ta có ít nhất là hai truyền thuyết khác về giấc
mộng Người Vàng của Hán Minh đế, ngoài truyền thuyết của Huệ Thông, vào thế kỷ
thứ V. Những truyền thuyết này, tất cả chúng đều phải rút ra từ Mâu Tử Lý
hoặc luận.
Giữa những truyền thuyết ấy, thì thuyết của Pháp Minh có lẽ là xưa nhất, một
điều không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm nhưng rất lôi cuốn bởi Lý hoặc luận
đã viết tại nước ta và là một sản phẩm văn hiến đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
Ý nghĩa của nó sẽ trở nên rõ ràng hơn với những bàn cãi về những chứng cớ tiếp
theo.
Chứng cớ thứ
hai Pháp Minh dùng là chuyện Tôn Quyền tin Phật vì những viên ngọc Xálỵ. Như
Zurcher đã nhận thấy,
lá thư của Pháp Minh là văn kiện đầu tiên kể đến chuyện thần dị này, mà sau đó
ta thấy xuất hiện trong hầu hết những bản tiểu sử của Khương Tăng Hội, bắt đầu
với Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a17 của Tăng Hựu và
Cao tăng truyện 1 ĐTK 2060 tờ 325a13-326b13 của Huệ Hạo.
Khương Tăng
Hội từ thời Đàm Thiên (542-607) và Thông Biện (?-1134) trở đi thường được coi
như một người truyền đạo đầu tiên ở nước ta cùng với Mâu Bác, Chi Cương Lương và
Ma Ha Kỳ Vực. Quan niệm lịch sử này về vai trò của Hội ngày nay đã chứng tỏ là
không chính đáng, nếu không nói là hoàn toàn sai, như chúng tôi đã vạch ra ở
chương trước.
Trong An
ban thủ ý kinh tự mà Tăng Hựu sưu tập lại trong Xuất tam tạng ký tập
tờ 43b24-c1 và Thang Dụng Đồng
coi như viết vào khoảng năm 229, Hội đã cho ta biết về tình trạng Phật giáo nước
ta qua lời tự bạch sau: “Tôi sinh muộn màng, nên tuổi mới vào thời vác củi
thì hai thân đều mất, ba thầy đã táng, ngước trông mây trời, buồn rầu không biết
hỏi ai, nghẹn lời nhìn quanh, lệ tuôn lã chã. Song phúc xưa chưa hết, nên gặp
được bạn Hàn Lâm từ Nam Dương”...
Rồi, trong
Pháp kính kinh tựï ở Xuất tam tạng ký tập tờ 46c2-11, Hội cũng
đã lặp lại những cảm hoài đầy nước mắt ấy về những vị thầy của ông tại nước ta:
“Kỵ đô úy An Huyền và Nghiêm Phù Điều từ Lâm An, hai vị hiền đây... đã đem
hết trí óc mình, dịch lấy cuốn kinh này... Lời nó đã đúng theo văn xưa, mà ý lại
vi diệu... nhưng nghĩa nó đã bị chận đứng không thông, nên tôi mạo muội đem hết
chỗ ngu của mình làm lấy chú nghĩa này. Tang thầy đã nhiều năm, nên không do đâu
mà hỏi lại được. Lòng buồn rười rượi, miệng tấm tức, dừng bút xót thương những
ai theo dõi dấu xưa, quyến luyến thánh giáo, nước mắt bỗng tự nhiên chảy ròng.
Nay xin ghi lại những điều mình biết, giúp giải quyết những chỗ nghi ngờ, đợi
chờ những bậc cao minh về sau. Giả như có sự xướng thành, ấy là nhằm làm rõ Tam
bảo vậy”.
Chứng cớ thứ
ba của Pháp Minh là tượng thờ ở chùa Ngô quận Bắc. Một lần nữa, Pháp Minh là
người đầu tiên ghi lại sự thần dị của tượng Phật này cũng như sự thành công của
Chu Trương trong việc vớt nó lên, trong khi những bọn đồng cốt thầy pháp đều
thất bại, và sau đó Huệ Hạo đã ghi lại trong Cao tăng truyện 13 ĐTK 2060
tờ 409b6-410a7 tại bản tiểu sử của Thích Huệ Đạt, tuy đã đổi tên Chu Trương
thành Chu Ứng.
Hạo kể lại
chứng cớ này một cách chi tiết như sau: “Đạt... lại đông du tới Ngô huyện bái
thạch tượng, vì bức tượng ấy vào năm Quí Dần niên hiệu Kiến Hưng thứ nhất (313)
thời cuối nhà Tây Tấn nổi lên tại cửa Hồ Thục của sông Ngô Tùng. Những người
đánh cá cho đó là vị thần biển, tìm đến để nghênh thì sóng gió nổi lớn; họ khiếp
sợ trở về. Lúc ấy có những kẻ thờ phụng Hoàng Lão cho đó là hiển thần của vị
Thiên sư của họ, lại cùng nhau đến nghênh, sóng gió vẫn như xưa. Sau đấy có một
cư sĩ thờ Phật là dân Ngô huyện tên Chu Ứng nghe, bèn than rằng: 'Ấy nếu không
phải là đấng Đại Giác thì ai mà ứng hiện ra đó?' Rồi trai giới cùng với Bạch Ni
chùa Đồng Vân và vài tín giả đến cửa Hồ Thục, cúi đầu chí thành, ca tụng lời
nguyện rất khẩn, thì sóng gió đều dứt, xa thấy hai người nổi trên sông mà đi. Ấy
là những tượng đá, sau lưng một có tên Ca Diếp, một có tên Duy Vệ. Họ liền
nghênh về an trí ở chùa Huyền Thê”.
Trước khi kể
câu chuyện này, Hạo cũng cho biết thêm là, Đạt đã xuống miền Nam Trung Quốc, đặc
biệt là Hợp Phố, để chiêm bái một tượng Phật bằng châu do một người tìm châu ở
Hợp Phố tìm thấy và trao lại cho thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ là Đào Khản vào
năm 318. Cuối đời Đạt, Hạo bảo là ông không biết Đạt đi đâu và mất vào năm nào
hay thọ bao nhiêu tuổi, dù vào khoảng niên hiệu Ninh Khương, nghĩa là khoảng
giữa năm 373-375, Đạt đã tới Kiến Nghiệp trên đường xuống chiêm bái ở Hợp Phố và
Ngô quận. Huệ Đạt do thế rất có thể đã đến nước ta, nhất là vào khoảng thế kỷ
thứ IV và V, Giao Chỉ đã là một nơi nổi tiếng với những danh địa của nó, như ta
sẽ có dịp thấy khi bàn tới Quách Văn Cử.
Chứng cớ thứ
tư là chuyện Quách Văn Cử thò tay vào họng cọp mà không sợ. Văn Cử là tự của một
dật dân tên Quách Văn mà tiểu sử đã được ghi lại trong Tấn thư 94 tờ
9a5-10a8, do Đường Thái Tông (597-649) ra lệnh viết. Căn cứ vào tiểu sử ấy, thì
Văn là một người tu tiên, làm nhà trong núi và không dính líu gì đến Phật
giáo hết, tuy Cao tăng truyện 7 ĐTK 2059 tờ 369c26 có dẫn tên ông. Về
chuyện thò tay vào họng cọp, thì truyện thuật rằng, một hôm Văn đang ở trong
rừng, gặp một con cọp há miệng ra, ông liền thò tay vào và lấy một thanh xương
đang chận họng ra cho cọp. Cọp biết ơn nên thường bắt nai đem đến trả ơn. Người
ta hỏi, ông không sợ cọp sao, ông đáp: “Nếu mình không có lòng sát hại nó thì
nó không làm gì mình”. Khi ông mất, có lẽ vào khoảng năm 320-330, Cát Hồng
(284-363) và Dữu Xiển đã viết tiểu sử lưu lại, ca ngợi sự đẹp đẽ của cuộc đời
ông.
Hoạt động của
Văn Cử như vậy hầu như hoàn toàn giới hạn ở rừng núi Trung Quốc. Việc tiếng ông
vang đến cả nước ta chắc chắn phải qua trung gian của Cát Hồng. Tiểu sử của Hồng
nằm ở Tấn thư 72 tờ 7b11-9a9, theo đó thì Hồng khi về già muốn luyện đơn
để cầu sống lâu, đã xin Tấn Thành đế, vào khoảng những năm 326-336, ra làm quan
lệnh tại huyện Cú Lậu của quận Giao Chỉ nước ta. Thành đế không cho, vì nghĩ
rằng Hồng là một bậc đại thần của triều đình thì sao lại nhận một chức nhỏ bé
như quan lệnh. Hồng trả lời là vì ông nghe Giao Chỉ sản xuất linh đơn, nên muốn
ra đó mà luyện đơn. Vua bằng lòng. Nhưng khi tới Quảng Châu, viên thứ sử ở đó
tên Đặng Nhạc không cho phép ông đi, nên ông phải dừng lại và luyện đơn tại núi
La Phù.
Một lần nữa,
bản tiểu sử của Hồng ở Tấn thư không nói gì về những liên lạc của ông đối
với Phật giáo. Tuy nhiên, căn cứ vào Phật tổ thống ký 36 ĐTK 2035 tờ
339c5-8, thì Cát Hồng đã viết một tấm biển cho chùa Linh Ấn do một nhà sư Ấn Độ
dựng ở núi Vũ Lâm tại tiền đường vào năm 326. Và cái chú thích ở quyển 37 tờ
348a7-15 cũng ghi lại chuyện Hồng muốn làm quan lệnh tại huyện Cú Lậu ở nước ta
để luyện đơn. Hồng viết để lại nhiều sách và mất vào lúc tuổi 81, khoảng năm
363.
Chứng cớ thứ
năm là chuyện Lan công phủi tuyết buốt cho thú dữ. Lan công đây dĩ nhiên là Vu
Pháp Lan, vị sư đã đến nước ta khoảng những năm 320 trên đường đi tham bái Phật
tích ở Ấn Độ, nhưng không may đã mắc bệnh và mất tại vùng Nghệ Tĩnh ngày nay.
Việc phủi tuyết buốt cho thú dữ, Cao tăng truyện 4 tờ 349c29-350a3 viết:
“Tính Lan ưa núi sông hang động. Thường vào những mùa đông tuyết lạnh buốt
xương, có cọp vào phòng mình. Thần sắc Lan không đe dọa, nên cọp cũng rất thuần,
đến sáng hôm sau tuyết hết rơi, cọp ra đi”. Nói như vậy không rõ Lan trực
tiếp phủi tuyết cho cọp. Dẫu vậy, vào cuối thế kỷ thứ IV, người ta đang còn
truyền tụng về khả năng “lành nhiếp cọp dữ” của Lan, từ đó giả thiết Lan đã có
những giao tiếp như thế nào đó với cọp. Chi Tuần (314-366) đã vẽ tượng Lan để
thờ, viết bài tán ca ngợi cuộc đời Lan thế này:
“Họ Vu vượt đời
Nắm cả huyền chỉ
Ưa lánh rừng đồi
Lành nhiếp cọp dữ.”
Việc Lan phủi
tuyết cho cọp do thế đang còn phổ biến nhiều trong nhân gian.
Chứng cớ thứ
sáu là chuyện Trúc Pháp Hộ làm cho suối khô trở thành có nước. Theo Cao tăng
truyện 1 ĐTK 2059 tờ 326c2-327a12 và Xuất tam tạng ký tập 13
ĐTK 2146 tờ 97c19-98b2 thì câu chuyện này được mô tả như sau:
“Đến cuối
đời Tấn Vũ đế, Hộ vào ở ẩn rừng sâu, rừng có một suối nước trong, mà ông thường
đến tắm giặt. Sau có một người hái củi tới phóng uế bên bờ, nó bỗng nhiên khô
cạn đi. Hộ bèn ngồi than: 'Người chi mà thất đức, đến nỗi khiến cho giòng nước
hết chảy, nước nếu khô mãi, thì mình thực không tự cung cấp được, chính là lúc
nên dời đi'. Than xong thì suối bỗng trở thành một dòng nước chảy mạnh. Ấy chính
là lòng thành của Hộ đã làm cho có sự cảm như vậy”. Cho nên, khi Chi Tuần
làm tượng ông, đã ca ngợi rằng:
“Hộ công trong vắng
Đạo đức đẹp sâu
Hang cùng nhẹ vãn
Tuôn nước suối khô
Cao thay ông Hộ
Tư chất tuyệt cao
Chân ruổi cát dồn
Học lấy huyền đạo.”
Hộ, tuy có
chữ Trúc như họ của ông, thực sự là người sinh ở Đôn Hoàng, và cha mẹ gốc người
Nguyệt Chi. Như đã nói ở trên, ông mất lúc 78 tuổi khoảng năm 308 và đã quen
thân với Vu Đạo Thúy. Thúy cũng là người Đôn Hoàng giống Hộ. Vì vậy, mặc dù Hộ
không bao giờ xuống miền Nam Trung Quốc và nước ta, tiếng tăm và sự nghiệp dịch
thuật vĩ đại của ông chắc chắn đã được người nước ta biết một cách khá tường tận
qua những trung gian đắc lực như Đạo Thúy.
Hơn thế nữa,
như Huệ Hạo đã ghi ở trên, thì Biệt truyện về Vu Pháp Lan cũng đã kể câu
chuyện “cảm cô tuyền nhi hồng lưu” của Lan, dẫu có lẽ không chính đáng cho mấy,
bởi vì không những lời ngợi ca Lan của Chi Tuần chỉ nói đến chuyện phủi tuyết
cho cọp mà không nói gì tới chuyện “cảm cô tuyền”, trong khi lời tán Hộ lại nói
đến sự cảm ấy, mà còn vì Pháp Minh đã xác định một cách rõ ràng là, “Hộ công cảm
cô tuyền nhi hồng lưu”. Như vậy theo tài liệu xưa nhất của Chi Tuần và Pháp Minh
thì chuyện “cảm suối khô” phải là của Hộ, và nó được người nước ta biết đến chắc
chắn phải qua trung gian Vu Đạo Thúy, mà họ đã đặt nhiều tin tưởng, khi Thúy đến
nước ta.
Chứng cớ thứ
bảy là chuyện nằm mộng thấy một nhà sư của Tống Vũ đế và Vũ đế hỏi Huệ Nghiêm.
Chuyện này ghi lại trong bản tiểu sử của Huệ Nghiêm ở Cao tăng truyện 7
ĐTK 2059 tờ 367b18-368b7. Huệ Nghiêm mất vào năm Nguyên Gia thứ 20, tức năm 443,
lúc ông 81 tuổi. Niên đại của ông do thế rơi vào khoảng 362-443. Năm 420, Lưu Dụ
lật đổ vị vua cuối cùng của nhà Đông Tấn và lên ngôi lấy hiệu là Tống Vũ đế. Dù
có sự huyền khải của nhà sư về việc bố thí một bát cơm cho Phật Di Vệ nên mới có
được ngôi thiên tử, Tống Vũ đế trị vì không quá hai năm. Đến năm 423 thì Vinh
Dương vương lên thay để rồi năm sau bị Tống Văn đế lật đổ.
Chứng cớ cuối
cùng này, về phương diện lịch sử Phật giáo Việt Nam, không có gì đáng lôi cuốn
sự chú ý của chúng ta hết. Tuy nhiên, trên khía cạnh xác định niên đại có thể
của những bức thư cùng các tác giả của chúng ở đây, nó tỏ ra có một giá trị vô
cùng quí báu bởi vì ít nhất là tính thời sự của nó cho biết những lá thư ấy phải
được viết sau khoảng Lưu Dụ lên ngôi, nghĩa là sau năm 420, nếu không là sau khi
Huệ Nghiêm chết vào năm 433. Niên đại sớm nhất của chúng do đó phải là khoảng
những năm 420-443. Về niên đại muộn nhất, chúng tôi sẽ có dịp bàn tới dưới đây,
khi nói về hai lai lịch của những bức thư cũng như niên đại có thể của những tác
giả chúng.
Trên đây là
bảy chứng cớ do Pháp Minh dẫn trong lá thư trả lời Lý Miễu. Chúng tôi đã dài
dòng truy nhận căn cứ và bàn cãi giá trị của từng chứng cớ một với mục đích
trước hết là trả lời câu hỏi, phải chăng đoạn văn, mà chúng tôi gọi là Hậu bút,
là một thêm thắt của những người sau, đặc biệt là của người Trung Quốc, và tiếp
đến nhằm cho thấy, những chứng cớ ấy thuộc về một truyền thống lịch sử và văn
hóa khác với những chứng cớ của Hậu bút.
Về mục đích
đầu, câu trả lời là một khẳng định. Hậu bút là một thêm thắt của những người
sau, cụ thể là Tăng Hựu. Nói là khẳng định, bởi vì, như đã vạch ra, những chứng
cớ của Tôn Bính là nhằm chứng minh Phật giáo đã được người Trung Quốc biết từ
thời Tam đại, tức thời những nhà Hạ, Thương và Chu, với quyển Sơn hải kinh
của Bá Ích, người con thứ hai của vua Thuấn. Những chứng cớ về Phật Đồ Trừng và
ông chú của Diêu Hưng do Bính dẫn ra là để chứng minh rằng, thậm chí những người
này sống vào thời Tấn, cách Can Bảo và Tôn Thạnh không bao nhiêu năm, mà cũng
không bao giờ được họ nói tới trong những cuốn sách họ viết như Tấn kỷ
của Can Bảo hay Ngụy thế xuân thu của Tôn Thạnh. Do thế, tuy Bá Ích đã
biết đến nước “Thân độc ở đó đạo Phù đồ đang nổi lên”, nhưng Phật giáo đã không
được nói tới qua những đời nhà Hạ, Thương và Chu, ấy là lỗi “nhỏ nhen thiếu sót
của các học giả” sử gia, chứ đâu phải “Phật giáo chỉ bắt đầu với Hán Minh đế”.
Chứng minh
như thế, những bằng cớ của Tôn Bính đi ngược lại ngay cả một chứng cớ của Pháp
Minh ấy là chuyện Phật giáo đến Trung Quốc với giấc mộng Người Vàng của Hán Minh
đế. Từ đó tạo nên một mâu thuẫn nội tại trong chính ngay bức thư, một điều không
thể xảy ra được, nếu căn cứ vào tính sáng sủa mạch lạc của sự hành văn cũng như
cách lý luận diễn đạt chặt chẽ của Pháp Minh. Thế thì, trên phương diện chủ đích
cũng như trên phương diện lý luận, chúng ta phải loại đoạn Hậu bút ra và
coi nó không gì hơn là một thêm thắt của những người sau.
Những người
sau này là ai? Chúng tôi nghĩ, họ là người Trung Quốc, nếu không phải là Tăng
Hựu, tại vì, nếu ta so sánh những bằng cớ của đoạn Hậu bút với bảy chứng
cớ của Pháp Minh, thì điểm nổi bật nhất sau đây đã lộ ra. Đấy là, trong số bảy
chứng cớ ấy, trừ chứng cớ cuối cùng có tính chất thời sự về Tống Vũ đế, sáu
chứng cớ kia, dưới một dạng hình này hay một dạng hình khác, đều liên lạc với
lịch sử và Phật giáo nước ta. Từ thuyết “mộng kim nhân” của Mâu Tử cho đến
chuyện “cảm cô tuyền” của Trúc Pháp Hộ qua Chu Trương, Quách Văn Cử, Vu Pháp
Lan, Vu Đạo Thúy và Khương Tăng Hội, mỗi một chúng đã có những dấu tích đặc biệt
liên hệ với người Phật tử Việt Nam. Trái với đặc tính này, những bằng cớ của Tôn
Bính như Phật Đồ Trừng và người chú của Diêu Hưng hầu như không có một liên lạc
nào hết. Do thế, khi người Trung Quốc đọc thấy những lá thư trao đổi trên chắc
phải thấy điểm nổi bật vừa nói và phải ngạc nhiên là chúng không nói gì hết đến
những thần dị ngoài những thần dị liên lạc với Giao Châu. Lúc đã nhận thấy điều
đó, họ chắc không ngần ngại cho trích một số văn cú từ Minh Phật luận của
Tôn Bính và làm thành đoạn Hậu bút nói trước. Chúng tôi vì vậy đề nghị
loại bỏ đoạn Hậu bút và chỉ giữ lại sáu lá thư mà thôi.
Dĩ nhiên, kết
luận này không có gì mới mẻ cho lắm, bởi vì trước đây Nghiêm Khả Quân khi cho
trích
Sáu lá thư trong Toàn Tống văn đã loại bỏ phần mà chúng tôi gọi là
Hậu bút trên. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho dịch và bàn cãi, vì đoạn “Hậu
bút” ấy, một mặt chứng thực nguồn gốc Việt Nam của Sáu lá thư. Mặt khác,
vì “Hậu bút” là một trích dẫn từ Minh Phật luận do Tôn Bính viết để trả
lời lại Quân thiện luận, nó giúp ta kết nối sự ra đời của Sáu lá thư
với những vấn đề do Quân thiện luận đề ra. Do thế, dù loại bỏ, chúng
tôi vẫn cho dịch kèm theo với Sáu lá thư.
Về mục đích
thứ hai, qua những phân tích sáu chứng cớ của Pháp Minh ta thấy chúng vẽ nên
không ít một bức tranh khá linh động về lịch sử Phật giáo Việt Nam trước thế kỷ
thứ năm. Chúng ta có Mâu Tử vào thế kỷ thứ II, Khương Tăng Hội thế kỷ thứ III và
Vu Pháp Lan, Vu Đạo Thúy, Quách Văn Cử, Chu Trương và Cát Hồng của thế kỷ thứ
IV. Bức tranh ấy càng linh động hơn khi chúng ta phân tích hết toàn bộ Sáu lá
thư
với những dẫn chứng và điển cố của chúng.
Ngay lúc này,
ta chỉ cần nhận xét là, nếu đem những chứng cớ của Pháp Minh so sánh với những
chứng cớ của Tôn Bính trong Minh Phật luận cũng như của Tôn Xước trong
Dụ hiền luận, thì chúng ta phải giả thiết sự hiện diện của những truyền
thống văn hóa và lịch sử khác nhau giữa Pháp Minh và hai người ấy. Chính vì sự
khác nhau đó, mà khi những lá thư được chuyển lên Trung Quốc, có lẽ qua những
trung gian như Huệ Thắng và Đạo Thiền vào cuối thế kỷ thứ V, những người Trung
Quốc đã phải thêm vào đoạn Hậu bút, để tô điểm một sắc màu Trung Quốc cho
cái bối cảnh Việt Nam của chúng.
Sự khác biệt
truyền thống này không chỉ giới hạn vào lãnh vực tôn giáo. Nó còn lan ra nhiều
lãnh vực khác, mà quan trọng nhất là lãnh vực chính trị và độc lập chính trị.
Chẳng hạn, trong đoạn kết luận của lá thư thứ tư, Đạo Cao đã không ngần ngại bảo
người đệ tử Lý Miễu của mình là “đang ở vào địa vị thiên tử” (cư đại bảo chi
địa). Dĩ nhiên, người ta có thể hỏi, nếu Lý Miễu “cư đại bảo chi địa” thì sao
Đạo Cao lại cứ xưng Miễu bằng “sứ quân”, chứ không bằng những mỹ hiệu như “bệ
hạ” v.v...? Chữ “sứ quân” dùng để gọi những người ở vào địa vị thứ sử hay chư
hầu, kiểu hai câu nói sau đây do Tiêu Tử Hiến ghi lại trong Nam Tề thư 58
tờ 16a-9-b2, khi thứ sử Giao Châu Phòng Pháp Thừa xin sách xem từ trường sứ Phục
Đăng Chi: “Sứ quân ký bị tật, bất nghi lao” và “sứ quân tỉnh xứ, do
khủng động tật, khỉ khả khán thư?” mà Đại việt sử lược 1 tờ 8b3 đổi
thành “sứ quân an cư, do khủng động tật, khỉ khả khán thư”.
Vấn đề “sứ
quân” và “cư đại bảo chi địa” này, chúng tôi sẽ có dịp bàn rõ hơn dưới đây. Và
không chỉ vấn đề “cư đại bảo chi địa” của lá thư thứ tư, mà trong lá thư thứ
hai, Đạo Cao đã nói tới sứ quân Lý Miễu với những từ “thánh tư uyên viễn động
giám tam thế”. Rõ ràng, từ thánh tư dứt khoát không thể dùng để mô tả cho
một vị sứ quân được. Thánh tư là suy nghĩ của bậc thánh, và từ này thường
được dùng để chỉ cho các vị hoàng đế giống như khi gọi cái học của hoàng đế là
thánh học. Việc dùng thánh tư và cư đại bảo như thế bộc lộ cho
ta thấy những lá thư Đạo Cao viết là để dâng lên cho một vị hoàng đế Việt Nam
tên Lý Miễu, chứ không phải viết cho một vị sứ quân. Ai cũng biết khi sao tập
những tác phẩm của người xưa vào Hoằng minh tập, Tăng Hựu đã không thực
hiện việc sao tập này một cách trung thành, mà đã có thêm bớt, lược bỏ và thậm
chí cải biên. Chúng ta đã có trường hợp Lý hoặc luận của Mâu Tử đã bị
Tăng Hựu sao lược như thế nào.
Ở đây ta chỉ
cần vạch sơ ra như thế, để cho thấy rằng sự khác biệt truyền thống giữa những lá
thư và các tác giả Trung Quốc là một sự thực và là một điểm nổi bật cần chú ý.
Nó sẽ hướng dẫn ta khá nhiều trong việc nghiên cứu những lá thư ấy.
NGUỒN
GỐC VIỆT NAM VỀ MẶT ĐIỂN CỐ THƯ TỊCH
Nếu những
phân tích về bảy chứng cớ của Pháp Minh đã điểm chỉ cho ta một cách lôi cuốn
nguồn gốc Việt Nam của những người viết thư, thì những phân tích tiếp theo về
thư tịch và điển cố do họ dẫn sẽ soi sáng không ít cái nguồn gốc ấy, nhất là
những loại thuộc Phật giáo.
Về những loại
thư tịch, điển cố ngoài Phật giáo, chúng gồm hai thứ sau. Một thứ, chúng ta ngày
nay không thể truy ra nguồn gốc Trung Quốc của chúng và do thế rất có thể đã
phát xuất từ thư tịch điển cố xưa nhất của nước ta. Một thứ, chúng ta có thể
truy nguyên và tìm lại trong các sách vở Hán văn.
Về thứ đầu,
chúng ta có hai loại điển cố “Sương Dĩnh” và “Bào Sinh” trong câu “Bần đạo,
khí phi Sương Dĩnh, vận phi Bào Sinh” của đoạn mở đầu lá thư thứ sáu. Sương
Dĩnh và Bào Sinh là ai? Không một cuốn tự điển nào đã ghi lại. Phải chăng chỉ là
những từ chung? Chúng tôi ban đầu nghĩ vậy, nhất là khi những bộ tự điển lớn
tiếng Trung Quốc
có từ ngữ “bào sương”, mà chúng cắt nghĩa như “đao nhà bếp”- bào đao, và cho dẫn
hai thí dụ chứng minh. Một từ bài ngụ ngôn của Hoàng Đình Kiên, theo đó:
Bào sương đao lạc quải
Chấp ngọc tử minh thuyền
và một bài từ
Đường luật của Chu Tùng
Áp tào ngọc diện thiên nhai kiến
Trác tuyết bào sương chiếu nhãn minh
Chúng tôi ban
đầu nghĩ “sương dĩnh” và “bào sinh” có thể là một diễn ngữ của bào sương. Do thế
câu “khí phi sương dĩnh, vận phi bào sinh” có thể cắt nghĩa như “bần đạo không
có tài năng sắc bén”. Nhưng vì chưa thể tìm ra một dụng ngữ nào thuộc loại
sương dĩnh và bào sinh, nên chúng tôi, vì cẩn thận phải giả thiết
chúng như hai điển cố cần khảo tra thêm. Dĩ nhiên, người ta cũng có thể dịch
theo chữ câu ấy thành “bần đạo, tài năng không phải là bút sương, vận mệnh
thì không phải là sinh vật dùng cho nhà bếp”, rồi để nguyên như vậy cho ai
muốn hiểu sao thì hiểu.
Ngoài ra,
Tiền Hán thư 39 tờ 2b9-12 cũng có nói tới Bào Sinh; dù chữ Bào ở đây viết
bằng bộ “ngư”, như một cố vấn của Tiêu Hà. Nó viết: “Vua nhiều lần sai sứ đến
vấn lao thừa tướng. Bào Sinh gọi Hà nói: Nay vua áo chiều sương phủ, đã nhiều
lần đến vấn lao ông, ấy vì người có ý nghi ngờ lòng ông. Kế cho ông bây giờ
không gì hơn là ông hãy sai con cháu em út ông, đứa nào giỏi về việc binh đều
đến ở trong quận sở của vua thì vua càng tin ông'. Từ đó, Hà làm theo kế của
Bào. Hán Vương rất vui lòng”. Bào Sinh của Tiêu Hà này là ai? Câu hỏi này
cho đến thời Nhan Sư Cổ (581-645) thì đã hoàn toàn không thể trả lời được. Trong
các chú thích về chữ ấy, Cổ chỉ biết viết: “Sư Cổ nói: Bào Sinh là một bậc
hữu thức thời bấy giờ, họ Bào là người học trò vậy”. Do thế, ngày nay dù ta
có đồng nhất Bào Sinh ở đây với Bào Sinh trong những lá thư của chúng ta, một
điều rất có thể, chúng ta cũng không thể biết gì thêm hơn về ý nghĩa câu “Vận
phi Bào Sinh”, ngoài điều suy đoán rằng, Pháp Minh có thể ví mình không có cái
may mắn kiểu của Bào Sinh được phục vụ Tiêu Hà.
Dù với trường
hợp nào đi nữa, chúng tôi cũng không loại bỏ cái khả năng Sương Dĩnh và Bào Sinh
rất có thể là tên của hai người nổi tiếng nước ta vào một thời gian nào đó trước
khi những lá thư trên xuất hiện; vì họ là người nước ta, nên đã không bao giờ
được ghi lại trong sách vở Trung Quốc và trở thành mai một với thời gian. Cho
đến khi một trong những trường hợp trước được xác nhận, khả năng này đáng nên
chú ý.
Về các thư
tịch điển cố ngoài Phật giáo có thể truy về sách vở Trung Quốc, gồm có bốn nhóm
chính sau: Nhóm thứ nhất là chữ “võng tượng huyền châu” trong câu “chiếp
khánh ngu quản, võng tượng huyền châu”, mà chúng tôi dịch thành “thì xin
đem hết ống ngu của mình để làm chuyện võng tượng đi tìm huyền châu”, ở đoạn
mở đầu của lá thư thứ hai.
Bốn chữ này
dĩ nhiên là một mượn ý từ câu chuyện Hoàng đế sai võng tượng đi tìm huyền châu
trong thiên Thiên địa ở Nam hoa kinh 12 tờ 29 của Trang Tử: “Hoàng
đế du hồ Xích thủy chi bắc, đăng hồ Côn lôn chi khưu, nhi nam vọng, hoàn qui, di
kỳ huyền châu, sử tri sách chi nhi bất đắc, sử ly châu sách chi nhi bất đắc, sử
kiết cấu sách chi nhi bất đắc dã; nãi sử tượng võng, tượng võng (bk. Võng tượng)
đắc chi. Hoàng đế viết: Di tai, tượng võng nãi khả dĩ đắc chi hồ”.
Câu chuyện này người ta thường cắt nghĩa và dịch thành “Hoàng đế, trong khi
đi chơi ở miền Bắc sông Hồng, đã lên đồi Côn Lôn mà ngó về miền Nam, rồi trở về,
để viên huyền châu lại. Ông sai hiểu biết đi tìm, nó tìm không được. Sai cái có
hình dáng đi tìm, nó tìm không được. Sai ngôn từ đi tìm, nó tìm không được. Bèn
sai cái không dáng hình đi tìm, không dáng hình tìm được. Hoàng đế nói: Lạ thay,
không hình dáng mà có thể tìm được huyền châu ư?”.
Quách Tượng
đời Tấn chẳng hạn đã giải nghĩa chữ “ly châu” như “sắc hình”. Hay Thành Huyền
Anh đời Đường đã chú thích chữ võng tượng thành “ly thanh sắc tư lự”, như Lý
Thiện đã làm, khi ông bàn tới câu “bạc sách hiệp đạp, võng tượng tương cầu”
trong bài phú Động tiêu của Vương Bào ở Văn tuyển: “Thiện nói:
Hư vô là võng tượng ấy vậy”. Điều đáng chú ý là, chữ võng tượng hay
tượng võng ấy lại có dịp xuất hiện ở thiên Đạt sinh của Trang Tử,
tức thiên XIX tờ 49, theo đó Hoàn công đi chơi gặp quỉ, về quá sợ nên phát bệnh,
bèn hỏi Cáo Ngao có quỉ hay không, Ngao trả lời là có như “đầm có con Lý, bếp
có con Kết, rác rưới bên trong cửa là chỗ ở của Lôi đình, phía dưới phương đông
bắc có con Bội a và con Khúc long nhảy lượn, phía dưới phương tây bắc là chỗ của
con Dật dương, sông có con võng tượng, đồi có con Sân, đồng bằng có con Bàng
hoàng, núi có con Quỉ, vũng có con Rắn ủy”.
Cố nhiên,
việc kết nối Hoàn công với võng tượng của Trang Tử ở đây điểm chỉ cho ta không
ít cái kết nối giữa võng tượng, Khổng Tử và Hoàn công, mà Tư Mã Thiên đã ghi lại
trong
Khổng Tử thế gia của Sử ký 47 tờ 6a6-10. Một hôm, Hoàn Tử đào giếng
gặp được một vật trông giống con dê trong một bình đất. Để thử Khổng Tử, Hoàn
bảo mình gặp được một con chó. Khổng trả lời: “Theo chỗ Khưu biết thì nó là
con dê vậy, vì Khưu nghe rằng, quái vật của núi là con quì và con võng lạng,
quái vật của sông là con ám và con võng tượng, quái vật của đất là con dê chôn”.
Võng tượng
do thế tự
nguyên ủy rất có thể không chỉ gì hơn là tên một con vật, ngay cả trong trường
hợp câu “võng tượng đi tìm huyền châu”. Những chữ “tri”, “ly châu” và “kiết cấu”
ở đoạn ấy của thiên Đạt sinh cũng phải coi như tên những con vật, rất có thể là
ngoại lai, mà Trang Tử đã phiên âm ra tiếng Trung Quốc. Dù với trường hợp nào đi
nữa, điển cố “võng tượng huyền châu” của Đạo Cao nhằm nói rằng, nếu Đạo Cao đem
hết chỗ ngu của ông trình bày và người đọc nắm được ý tưởng, thì điều ấy thật là
không ngờ được, thật hy hữu như chuyện con võng tượng đã tìm được huyền châu, mà
người ta, ngay cả Hoàng đế, đã không ngờ là nó có thể làm được.
Nhóm thứ hai
gồm bốn chữ “thổ ác dư hà”- nhả thức ăn, búi lấy tóc, mà vẫn còn rỗi - ở đoạn
cuối cùng của lá thư thứ tư. Điển “nhả miếng ăn, búi lấy tóc” này, Đạo Cao phải
lấy từ Chu công thế gia của Sử ký 33 tờ 3a9-b2, theo đấy khi Chu
công nghe Bá Cầm được phong đất Lỗ, ông liền dặn Bá Cầm thế này: “Ta là con
của Văn vương, em của Vũ vương và chú của Thành vương; đối với thiên hạ, ta do
thế cũng không hèn hạ gì. Thế mà, ta một lần tắm thì ba lần búi tóc, một bữa ăn
thì ba lần nhả miếng, đứng dậy, để đợi kẻ sĩ, vậy mà ta còn sợ mất kẻ hiền trong
thiên hạ. Con khi đến Lỗ, nên cẩn thận, đừng đem thế nước ta ra mà kiêu ngạo với
người”.
Sự rút gọn
điển này thành hai chữ thổ ác ít nhất đã bắt đầu với Ban Cố trong tiểu sử của
Tiêu Vọng ở Tiền Hán thư 78 tờ 1b5-9, khi Vọng trách Hoắc Quang là “khủng
phi Chu công tướng Thành vương cũng thổ ác chi lễ, trí bạch ốc chi ý”, và
dùng trong Hậu Hán thư 66 tờ 18b3-5 ở tiểu sử của Trần Nguyên: “Cố
nhân quân hoạn tại tự kiêu, bất hoạn kiêu thần, ưng tại tự nhiệm, bất tại nhiệm
chân, thị dĩ Văn vương hữu nhật ngô chi lao, Chu công chấp thổ ác chi thuật”.
Nhóm thứ ba
là những dẫn chứng từ Kinh Dịch và Luận ngữ. Trong lá thư thứ năm,
Lý Miễu cho dẫn câu “Tích thiện dư khương, tích ác dư ương”, và bảo là từ
Kinh Dịch. Câu ấy quả đến từ phần văn ngôn của quẻ khôn, mà theo bản in Chu
Dịch của cụ Phan Bội Châu đọc như “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích
bất thiện chi gia tất hữu dư ương, thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất
triêu nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai tiệm hỷ”.
Trong lá thư
thứ sáu, Pháp Minh nói đến “sống chết có mạng, giàu sang tại trời” và “quỉ
thần không thể cản ngăn, thánh nhân không thể tiên đoán”. Câu “Tử sinh
hữu mạng, phú quí tại thiên” đây đương nhiên là một trích dẫn từ câu trả lời
của Tử Hạ cho Tư Mã Ngưu Ưu ở thiên Nhan Uyên của Luận ngữ, khi Ưu phàn
nàn là “nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vong”, theo đấy “thương giai
chi hỷ, sinh tử hữu mạng, phú quý tại thiên, quân tử cẩu cập nhi vô thát, dự
nhân hào nhi lễ, tứ hải chi nội giai huynh đệ dã, quân tử hà hoạn hồ vô huynh đệ
dã”.