TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 2 ]LÊ MẠNH THÁT |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
VỀ TÁC GIẢ VÀ NIÊN
ĐẠI CỦA
|
|
STT |
TÊN SÁCH |
TÁC GIẢ |
NĂM VIẾT |
|
1. a.
b. |
Tối Trừng mục lục Truyền giáo đại sư tương lai Thai châu lục ĐTK 2159 Truyền giáo đại sư tương lai Việt châu lục ĐTK 2160 |
Tối Trừng (767-822) |
805 |
|
2. |
Ngự thỉnh lai mục lục ĐTK 2161 |
Không Hải (774-835) |
806 |
|
3. a. b. |
Huệ Vận thiền sư tương lai giáo pháp mục lục ĐTK 2168a Huệ Vận luật sư thứ mục lục ĐTK 2168b |
Huệ Vận (789-869) |
847 |
|
4. |
Nhật Bản quốc thừa hòa ngũ niên nhập Đường cầu pháp mục lục ĐTK 2165 |
Viên Nhân (794-864) |
838 |
|
5. |
Nhập Đường tân cầu kinh giáo mục lục ĐTK 2167 |
Viên Nhân |
847 |
|
6. |
Từ Giác đại sư tại Đường Tống Tấn lục ĐTK 2166 |
Viên Nhân |
|
|
7. |
Linh Nham tự Hòa thượng thỉnh lai pháp môn đạo cụ đăng mục lục ĐTK 2164 |
Viên Hành (799-852) |
|
|
8. |
Thường Hiểu Hòa thượng thỉnh lai mục lục ĐTK 2173 |
Thường Hiểu (?-865) |
|
|
9. a.
b. |
Tân thơ tả thỉnh lai pháp môn đẳng mục lục ĐTK 2174a Thiền Lâm tự Tôn Duệ tăng chính mục lục ĐTK 2174b |
Tôn Duệ (809-884) |
|
|
10. |
Trí Chứng đại sư thỉnh lai mục lục ĐTK 2173[5] |
Viên Trân (814-891) |
|
|
11. |
Phúc châu Ôn châu Thai châu cầu đắc kinh luật luận sớ ký ngoại thư đẳng mục lục ĐTK 2170 |
Viên Trân |
891 |
|
12. |
Nhật Bản Tỷ kheo Viên Trân nhập Đường cầu pháp mục lục ĐTK 2172 |
Viên Trân |
|
|
13. |
Thanh Long tự cầu pháp mục lục ĐTK 2171 |
Viên Trân |
|
|
14. |
Khai Nguyên tự cầu đắc kinh sở ký đẳng mục lục ĐTK 2169 |
Viên Trân |
|
|
15. |
Căn Bản đại Hòa thượng chân tích sách tử đẳng mục lục ĐTK 2162 |
|
|
|
16. |
Thông Hiển nhập đạo tạng thư mục lục[6] |
|
|
Trong số 16 bản mục lục vừa liệt, chỉ trừ bản của Hòa thượng Căn Bản và một số bản của Viên Trân, còn lại chúng đều được viết và xuất hiện trước thời của Đằng Nguyên Tá Thế và Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục, như người đọc có thể thấy và ghi lại những sách vở Trung Quốc do người Nhật mang về Nhật Bản. Dẫu vậy, chúng đã không ghi một tác phẩm nào mang tên Tá âm hay Đạo Cao pháp sư tập, cũng như không một tác giả nào mang tên Thích Đạo Cao hay Đạo Cao pháp sư. Do thế, câu hỏi nêu trên, ta không thể nào trả lời được. Nói cách khác, ta không biết Tá âm và Đạo Cao pháp sư tập đã tới Nhật Bản hồi nào. Điều chắc chắn là, chúng phải tới trước năm 889, để cho Đằng Nguyên ghi vào trong bản thư mục của ông.
Về khía cạnh Trung Quốc, như đã nói, không một tư liệu Phật giáo cũng như không Phật giáo, dĩ nhiên trừ bộ Hoằng minh tập và những tài liệu lấy từ nó ra như Toàn thượng cổ Tam đại Tần Hán Tam quốc lục triều văn của Nghiêm Khả Quân, đã đề cập hay kể ra cái tên Thích Đạo Cao. Chúng tôi đã kiểm soát lại bảng tên những Cao tăng trong Danh tăng truyện do Bảo Xướng viết năm 515, mà bản mục lục mệnh danh Danh tăng truyện mục lục đã được Tôn Tánh sao y nguyên lại vào năm 1235 trong Danh tăng truyện sao TcT 134 tờ 5a1-6a2 của ông[7], nhưng đã thất vọng như trong những lần kiểm soát Cao tăng truyện của Huệ Hạo (?-549) và những kinh lục khác. Chúng tôi cũng đã kiểm soát lại những bản thư tịch liệt kê những tư liệu tìm được tại Đôn Hoàng hiện tàng trữ ở các nước Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản[8], và đã không tìm thấy một tư liệu nào mang tên Đạo Cao cả. Dẫu việc điều tra tỉ mỉ ấy đã đưa tới cho ta những thất vọng vừa thấy, hai tác phẩm Tá âm và Đạo Cao pháp sư tập, tuy sẽ không được xác định với một mức độ chính xác nào, cũng gợi lên nhiều bàn cãi đáng chú ý.
Trước hết, về Tá âm, Đằng Nguyên liệt nó vào loại Tiểu học gia. Nó như vậy, căn cứ định nghĩa của Tùy thư kinh tịch chí 32 tờ 18b1-20b4, tất phải là một tác phẩm về ngôn ngữ. Trong bản chú giải đầu tiên về Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục nhan đề Nhật Bản kiến tại thư mục chứng chú cảo, Địch Cốc Dịch Trai, dưới mục “Tá âm nhất quyển, Thích Đạo Cao soạn”, đã ghi thêm: “Tùy chí Tá âm tự nhất quyển, bất trước tánh danh”- Kinh tịch chí của Tùy thư có ghi Tá âm tự một quyển, nhưng không ghi họ tên người viết[9]. Sau Địch Cốc, những nhà chú giải nghiên cứu khác của Nhật Bản như Tiểu Trường Cốc và Trỉ Đảo cũng không thêm được một chú thích gì mới lạ. Tiểu Trường Cốc thực sự đã không có một chú thích nào hết dưới mục Tá âm của Thích Đạo Cao, còn Trỉ Đảo thì đem ngay cả cái ghi chú vừa dẫn trên của Địch Cốc, để chú thích mục Tá âm ba quyển và hoàn toàn để trống mục Tá âm một quyển của Thích Đạo Cao[10]. Về mặt những người chú thích Trung Quốc, thì như ghi chú trên của Địch Cốc cho thấy, Kinh tịch chí của Tùy thư 32 tờ 19a4 là quyển sách đầu tiên ghi lại một tác phẩm nhan đề Tá âm tự nhất quyển, nhưng không cho biết tên họ người soạn. Những bản thư tịch tiếp theo Tùy thư như Cựu Đường thư và Tân Đường thư không còn nói đến tác phẩm ấy nữa[11] v.v... Nó cũng không được những cuốn tự điển bách khoa kiểu Bắc Đường thư sao của Ngô Thế Nam (558-638), Nghệ văn loại tụ của Âu Dương Tuân (557-641), Sơ học ký của Từ Kiên (659-729), Thái bình ngự lãm của Lý Phưởng (925-996) v.v.. đề cập tới[12]. Rồi, những cuốn tự điển nổi danh như Ngọc Thiên của Cố Dã Vương (519-581), Nhất thiết kinh âm nghĩa do Huyền Ứng viết năm 664 v.v.. lại không dẫn ra một tác phẩm nào mang tên Tá âm hay Tá âm tự hết[13]. Cho nên, với một bộ sách gần tới 50 quyển chuyên khảo về những loại sách được các bản thư tịch liệt vào loại Tiểu học gia mang tên Tiểu học khảo, Tạ Khải Côn (1737-1802) chỉ biết viết ở quyển 29 tờ 8a5-7 về cuốn Tá âm tự như sau: “Vô danh thị Tá âm tự, Tùy chí, nhất quyển, dật”- Không tên họ Tá âm tự, Kinh tịch chí của Tùy thư ghi 1 quyển, (nay) đã mất[14]. Mãi đến Diêu Chấn Tôn (1842-1906), nó mới được bàn cãi rộng ra một chút. Trong Tùy thư kinh tịch chí khảo chứng 2 tờ 5216b27-c4, lợi dụng được những tư liệu Nhật Bản, đặc biệt là cuốn Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục, Tôn đã viết như sau về Tá âm tự: “Tá âm tự, 1 quyển, không ghi tên người soạn. Tiểu học khảo nói: không tên họ Tá âm tự, Tùy chí ghi 1 quyển, mất. Nay xét Nhật Bản thư mục nói Tá âm ba quyển, không ghi người soạn; lại nói Tá âm một quyển, Thích Đạo Cao soạn. Một quyển (Tá âm tự) đây hoặc tức cũng là sách của Đạo Cao. Nhưng Đạo Cao lại không biết người thời nào”- Tá âm tự nhất quyển, bất trước soạn nhân. Tiểu học khảo viết: Vô danh thị Tá âm tự, Tùy chí nhất quyển, dật. Án Nhật Bản thư mục, Tá âm tam quyển, bất trước soạn nhân, hựu viết: Tá âm nhất quyển, Thích Đạo Cao soạn. Thử nhất quyển hoặc tức Đạo Cao chi thơ; Đạo Cao diệc bất tri hà thời nhân dã[15].
Căn cứ chú thích này, Tôn như vậy muốn coi Tá âm tự do Tùy thư liệt ra là một tác phẩm khác của Thích Đạo Cao do Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục nói tới, dẫu ông thú nhận “Không biết Đạo Cao là người thời nào”. Chúng ta ngày nay nhờ khám phá ra được Sáu lá thư, đã biết không những một cách chắc chắn là, “Đạo Cao người thời đại nào”, mà còn biết thêm một phần nào cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp của ô