TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 2 ]

LÊ MẠNH THÁT

[ 1 ]   [ 3 ]

VỀ TÁC GIẢ VÀ NIÊN ĐẠI CỦA
SÁU LÁ THƯ
 

 

Như đã nói ngay từ đầu, tung tích của những người mang tên Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu ngày nay chúng ta không biết một tí gì hết. Kiểm soát toàn bộ những tư liệu lịch sử Trung Quốc và Phật giáo Trung Quốc cũng như tư liệu lịch sử Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, chúng ta không tìm thấy một thông tin nào về những người có các tên ấy. Kiểm soát Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương thư, Ngụy thư, Bắc sử Tư trị thông giám cũng như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chúng ta đã không gặp một “sứ quân” nào với cái tên Lý Miễu. Kiểm soát Cao tăng truyệnTục Cao tăng truyện cũng như Thiền uyển tập anh, chúng ta cũng không tìm thấy một pháp sư nào có tên Đạo Cao hay Pháp Minh.

VỀ ĐẠO CAO

Trong Toàn Tấn văn 157 tờ 15a12-12, Nghiêm Khả Quân có liệt ra tên một Thích Đạo Cao. Nhưng kiểm tra bản mục lục của Toàn Tấn văn 157 tờ 17a5 cũng như xuất xứ của tên ấy, tức Cao tăng truyện 5 tờ 355b15-17, thì chúng ta có Thích Đạo Tung chứ không phải Thích Đạo Cao. Cố nhiên, chữ ·C  mà cách phát âm tiêu chuẩn luôn luôn là tung đôi khi có thể đọc thành cao, như trường hợp chữ cao trong cái tên Trần Cao của lịch sử nước ta chẳng hạn. Như thế, chữ cao ·C  ở quyển 157 tờ 15a12, dựa vào kiểm tra vừa thấy, chắc chắn là một khắc lầm.

Ngoài ra, Toàn Tống văn 63 tờ 11a3-13a1 có một đoạn nói về tung tích Thích Đạo Cao, tác giả những lá thư của chúng ta. Nghiêm Khả Quân đã chú thích là “Đạo Cao Giao Châu pháp sư”, trong khi Thích Đạo Tung mà người khắc bản Toàn Tấn văn đã đổi thành Thích Đạo Cao, được Quân cũng như Cao tăng truyện bảo là “ở chùa Ngõa Quan”. Điều này chứng tỏ, theo Quân, Thích Đạo Tung của Toàn Tấn văn không thể là Thích Đạo Cao của Toàn Tống văn.

Cần thêm rằng Cao tăng truyện 12 tờ 408b5-12 có ghi lại tiểu sử của một vị sư tên Thích Đạo Tung khác. Vị sư này chắc chắn không thể là Thích Đạo Tung, mà Toàn Tấn văn đã dẫn ra, cũng như Cao tăng truyện 5 tờ 355b 15-17 nói tới. Bởi vì Đạo Tung sau là người đồng thời với Thích Đạo An (314-386) và Trúc Pháp Thải (320-388) và sống tại chùa Ngõa Quan, trong khi Đạo Tung trước đã đến Kinh sư vào năm 473-476 và mất năm ông 49 tuổi tại chùa Định Lâm núi Chung. Cái tên Đạo Cao của chúng ta do thế không thể tìm thấy trong các sách sử hiện còn của Trung Quốc hay nước ta.

Việc bản in Quảng Nhã thư cục của Toàn Tấn văn có tên Thích Đạo Cao, từ đó, không thay đổi tình trạng sử liệu về vấn đề Đạo Cao. Chúng ta phải tìm cách mở rộng giới hạn truy tầm tư liệu mới hy vọng giải quyết một phần nào những bí ẩn vây quanh Sáu bức thư ấy.

Trong khi điều tra những tư liệu Nhật Bản viết giữa những thế kỷ thứ VIII và thứ X cho việc nghiên cứu Định pháp sư và Duy Giám pháp sư, chúng tôi đọc kỹ lại Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục[1] do chính ngũ vị hành Lục việt thủ kiêm Thượng dã quyền giới Đằng Nguyên Tá Thế soạn và đã tìm thấy những dữ kiện rất lôi cuốn sau về một người mang tên Đạo Cao pháp sư hay Thích Đạo Cao. Trước hết, dưới mục thứ mười mang tên Tiểu học gia, liệt ra ở tờ 34b4-5 một bộ sách nhan đề “Tá âm, một quyển, Thích Đạo Cao soạn”- Tá âm nhất quyển, Thích Đạo Cao soạn - Rồi dưới mục Biệt tập ở tờ 48a14 lại ghi: “Đạo Cao pháp sư tập, một quyển”- Đạo Cao pháp sư tập, nhất quyển - Như vậy, theo Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục, một tăng sĩ được biết dưới tên Thích Đạo Cao hay Đạo Cao pháp sư đã là tác giả hai tác phẩm nhan đề Tá âmĐạo Cao pháp sư tập. Câu hỏi bây giờ đương nhiên là Thích Đạo Cao đây có phải là pháp sư Đạo Cao của Sáu lá thư chúng ta không?

Trả lời câu hỏi này, chúng ta biết, Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục đã được Vũ Điền thiên hoàng sắc cho Đằng Nguyên Tá Thế viết năm 889-890, nhằm ghi lại hết những bộ sách Trung Quốc còn sót trong thư viện hoàng gia sau vụ cháy năm 887[2]. Kể từ ngày Địch Cốc Dịch Trai lần đầu tiên chú giải nó cho tới những nghiên cứu gần đây nhất của Tiểu Trường Cốc Huệ Cát và Trỉ Đảo Huyền Lượng[3] thì giữa 1586 bộ 17.106 quyển sách của nó quả thực nó là một bản thư tịch những tác phẩm do người Nhật mang từ Trung Quốc về Nhật Bản. Chỉ trừ bảy bộ sách sau, mà Tiểu Trường Cốc và Trỉ Đảo đã chứng minh là do người Nhật sáng tác và Đằng Nguyên ghi lầm vào, đấy là: 1. Hoàng đế phạm 3 quyển, 2. Nhiếp dưỡng yếu quyết 22 quyển, 3. Tần tu nhạn kinh 3 quyển, 4. Luật phụ thích 10 quyển, 5. Đại luật 6 quyển, 6. Tân luật 10 quyển và Tân lịnh 10 quyển và 7. Biên sắc lập thành 1 quyển. Hai tác phẩm Tá âm Đạo Cao pháp sư tập do đó chắc chắn không phải do người Nhật soạn thảo và phải được họ mang về Nhật Bản từ Trung Quốc, sau khi đã in, thỉnh, sao hay mua được chúng tại Trung Quốc. Thật vậy, một kiểm soát toàn thể tài liệu Phật giáo Nhật Bản, không một tăng sĩ Nhật Bản nào đã có tên Đạo Cao[4]. Nếu vậy, thì Tá âmĐạo Cao pháp sư tập được mang về Nhật Bản lúc nào?

Một kiểm soát toàn bộ những thư tịch Nhật Bản viết trước và sau Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục không lâu đã không cho biết một tí gì cả, và chúng gồm những bản sau:

 

STT

TÊN SÁCH

TÁC GIẢ

NĂM VIẾT

1.

a. 

 

b.

Tối Trừng mục lục

Truyền giáo đại sư tương lai Thai châu lục ĐTK 2159

Truyền giáo đại sư tương lai Việt châu lục ĐTK 2160

 

Tối Trừng

(767-822)

 

805

2.

Ngự thỉnh lai mục lục ĐTK 2161

Không Hải

(774-835)

806

3.

a. 

b.

Huệ Vận thiền sư tương lai giáo pháp mục lục ĐTK 2168a          

Huệ Vận luật sư thứ mục lục ĐTK 2168b

Huệ Vận

(789-869)

847

4.

Nhật Bản quốc thừa hòa ngũ niên nhập Đường cầu pháp mục lục ĐTK 2165

Viên Nhân

(794-864)

838

5.

Nhập Đường tân cầu kinh giáo mục lục ĐTK 2167

Viên Nhân 

847

6.

Từ Giác đại sư tại Đường Tống Tấn lục ĐTK 2166

Viên Nhân

 

7.

 Linh Nham tự Hòa thượng  thỉnh lai pháp môn đạo cụ đăng mục lục ĐTK 2164

Viên Hành

(799-852)

 

8.

 Thường Hiểu Hòa thượng thỉnh lai mục lục ĐTK 2173 

Thường Hiểu

(?-865)

 

9.

a.

 

b.

Tân thơ tả thỉnh lai pháp môn đẳng mục lục ĐTK 2174a

 Thiền Lâm tự Tôn Duệ tăng chính mục lục ĐTK 2174b

Tôn Duệ

(809-884)

 

10.

Trí Chứng đại sư thỉnh lai mục lục ĐTK 2173[5]

Viên Trân

(814-891)

 

11.

Phúc châu Ôn châu Thai châu cầu đắc kinh luật luận sớ ký ngoại thư đẳng mục lục ĐTK 2170

Viên Trân

891

12.

Nhật Bản Tỷ kheo Viên Trân nhập Đường cầu pháp mục lục ĐTK 2172

Viên Trân

 

13.

Thanh Long tự cầu pháp mục lục  ĐTK 2171

Viên Trân

 

14.

Khai Nguyên tự cầu đắc kinh sở ký đẳng mục lục ĐTK 2169

Viên Trân

 

15.

Căn Bản đại Hòa thượng chân tích sách tử đẳng mục lục ĐTK 2162

 

 

16.

Thông Hiển nhập đạo tạng thư mục lục[6]

 

 

 

Trong số 16 bản mục lục vừa liệt, chỉ trừ bản của Hòa thượng Căn Bản và một số bản của Viên Trân, còn lại chúng đều được viết và xuất hiện trước thời của Đằng Nguyên Tá Thế và Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục, như người đọc có thể thấy và ghi lại những sách vở Trung Quốc do người Nhật mang về Nhật Bản. Dẫu vậy, chúng đã không ghi một tác phẩm nào mang tên âm hay Đạo Cao pháp sư tập, cũng như không một tác giả nào mang tên Thích Đạo Cao hay Đạo Cao pháp sư. Do thế, câu hỏi nêu trên, ta không thể nào trả lời được. Nói cách khác, ta không biết âmĐạo Cao pháp sư tập đã tới Nhật Bản hồi nào. Điều chắc chắn là, chúng phải tới trước năm 889, để cho Đằng Nguyên ghi vào trong bản thư mục của ông.

Về khía cạnh Trung Quốc, như đã nói, không một tư liệu Phật giáo cũng như không Phật giáo, dĩ nhiên trừ bộ Hoằng minh tập và những tài liệu lấy từ nó ra như Toàn thượng cổ Tam đại Tần Hán Tam quốc lục triều văn của Nghiêm Khả Quân, đã đề cập hay kể ra cái tên Thích Đạo Cao. Chúng tôi đã kiểm soát lại bảng tên những Cao tăng trong Danh tăng truyện do Bảo Xướng viết năm 515, mà bản mục lục mệnh danh Danh tăng truyện mục lục đã được Tôn Tánh sao y nguyên lại vào năm 1235 trong Danh tăng truyện sao TcT 134 tờ 5a1-6a2 của ông[7], nhưng đã thất vọng như trong những lần kiểm soát Cao tăng truyện của Huệ Hạo (?-549) và những kinh lục khác. Chúng tôi cũng đã kiểm soát lại những bản thư tịch liệt kê những tư liệu tìm được tại Đôn Hoàng hiện tàng trữ ở các nước Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản[8], và đã không tìm thấy một tư liệu nào mang tên Đạo Cao cả. Dẫu việc điều tra tỉ mỉ ấy đã đưa tới cho ta những thất vọng vừa thấy, hai tác phẩm Tá âmĐạo Cao pháp sư tập, tuy sẽ không được xác định với một mức độ chính xác nào, cũng gợi lên nhiều bàn cãi đáng chú ý.

Trước hết, về Tá âm, Đằng Nguyên liệt nó vào loại Tiểu học gia. Nó như vậy, căn cứ định nghĩa của Tùy thư kinh tịch chí 32 tờ 18b1-20b4, tất phải là một tác phẩm về ngôn ngữ. Trong bản chú giải đầu tiên về Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục nhan đề Nhật Bản kiến tại thư mục chứng chú cảo, Địch Cốc Dịch Trai, dưới mục “Tá âm nhất quyển, Thích Đạo Cao soạn”, đã ghi thêm: “Tùy chí Tá âm tự nhất quyển, bất trước tánh danh”- Kinh tịch chí của Tùy thư có ghi Tá âm tự một quyển, nhưng không ghi họ tên người viết[9]. Sau Địch Cốc, những nhà chú giải nghiên cứu khác của Nhật Bản như Tiểu Trường Cốc và Trỉ Đảo cũng không thêm được một chú thích gì mới lạ. Tiểu Trường Cốc thực sự đã không có một chú thích nào hết dưới mục Tá âm của Thích Đạo Cao, còn Trỉ Đảo thì đem ngay cả cái ghi chú vừa dẫn trên của Địch Cốc, để chú thích mục Tá âm ba quyển và hoàn toàn để trống mục Tá âm một quyển của Thích Đạo Cao[10]. Về mặt những người chú thích Trung Quốc, thì như ghi chú trên của Địch Cốc cho thấy, Kinh tịch chí của Tùy thư 32 tờ 19a4 là quyển sách đầu tiên ghi lại một tác phẩm nhan đề Tá âm tự nhất quyển, nhưng không cho biết tên họ người soạn. Những bản thư tịch tiếp theo Tùy thư như Cựu Đường thư Tân Đường thư không còn nói đến tác phẩm ấy nữa[11] v.v... Nó cũng không được những cuốn tự điển bách khoa kiểu Bắc Đường thư sao của Ngô Thế Nam (558-638), Nghệ văn loại tụ của Âu Dương Tuân (557-641), Sơ học ký của Từ Kiên (659-729), Thái bình ngự lãm của Lý Phưởng (925-996) v.v.. đề cập tới[12]. Rồi, những cuốn tự điển nổi danh như Ngọc Thiên của Cố Dã Vương (519-581), Nhất thiết kinh âm nghĩa do Huyền Ứng viết năm 664 v.v.. lại không dẫn ra một tác phẩm nào mang tên Tá âm hay Tá âm tự hết[13]. Cho nên, với một bộ sách gần tới 50 quyển chuyên khảo về những loại sách được các bản thư tịch liệt vào loại Tiểu học gia mang tên Tiểu học khảo, Tạ Khải Côn (1737-1802) chỉ biết viết ở quyển 29 tờ 8a5-7 về cuốn âm tự như sau: “Vô danh thị Tá âm tự, Tùy chí, nhất quyển, dật”- Không tên họ Tá âm tự, Kinh tịch chí của Tùy thư ghi 1 quyển, (nay) đã mất[14]. Mãi đến Diêu Chấn Tôn (1842-1906), nó mới được bàn cãi rộng ra một chút. Trong Tùy thư kinh tịch chí khảo chứng 2 tờ 5216b27-c4, lợi dụng được những tư liệu Nhật Bản, đặc biệt là cuốn Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục, Tôn đã viết như sau về Tá âm tự: “Tá âm tự, 1 quyển, không ghi tên người soạn. Tiểu học khảo nói: không tên họ Tá âm tự, Tùy chí ghi 1 quyển, mất. Nay xét Nhật Bản thư mục nói Tá âm ba quyển, không ghi người soạn; lại nói Tá âm một quyển, Thích Đạo Cao soạn. Một quyển (Tá âm tự) đây hoặc tức cũng là sách của Đạo Cao. Nhưng Đạo Cao lại không biết người thời nào”- Tá âm tự nhất quyển, bất trước soạn nhân. Tiểu học khảo viết: Vô danh thị Tá âm tự, Tùy chí nhất quyển, dật. Án Nhật Bản thư mục, Tá âm tam quyển, bất trước soạn nhân, hựu viết: Tá âm nhất quyển, Thích Đạo Cao soạn. Thử nhất quyển hoặc tức Đạo Cao chi thơ; Đạo Cao diệc bất tri hà thời nhân dã[15].

Căn cứ chú thích này, Tôn như vậy muốn coi Tá âm tự do Tùy thư liệt ra là một tác phẩm khác của Thích Đạo Cao do Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục nói tới, dẫu ông thú nhận “Không biết Đạo Cao là người thời nào”. Chúng ta ngày nay nhờ khám phá ra được Sáu lá thư, đã biết không những một cách chắc chắn là, “Đạo Cao người thời đại nào”, mà còn biết thêm một phần nào cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp của ô