NIÊN ĐẠI CỦA ĐẠO CAO,
PHÁP MINH VÀ LÝ
MIỄU
Qua
những bàn luận trên, bây giờ nó có thể trở nên rõ ràng là, trong tình trạng tư
liệu và dữ kiện hiện tại, chúng tôi không thể xác định được một cách chắc chắn
như mong muốn những tác giả của Sáu lá thư trên là những người ra sao,
sống vào những năm tháng nào và viết những lá thư tại những thời điểm nhất định
nào. Điểm chắc chắn là, họ phải viết chúng sau năm 435, năm Quân thiện luận
lưu hành, và trước năm 455, năm Đàm Hoằng tự thiêu tại chùa Tiên Sơn. Từ những
dữ kiện chắc chắn ấy, chúng tôi đã dựa vào một số những bằng cớ trường tại và
rút ra niên đại 454-455 như là khoảng thời gian ra đời của Sáu lá thư.
Nếu chấp nhận
khoảng thời gian đó, niên đại của Lý Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh có thể giả thiết
như thế này. Miễu có lẽ sống vào khoảng 400-470 và rất có thể đồng nhất với Lý
Trường Nhân. Lý Đam Chi, trước khi làm thứ sử Giao Châu vào năm 435 đến 437, đã
làm thứ sử Giao Chỉ. Ông do đó, căn cứ vào nguyên lai của những thái thú, tất có
thể là người nước ta. Ông cùng với Lý Miễu và Lý Trường Nhân có những liên lạc
gì, ngày nay chúng ta không thể bàn cãi được. Nếu Lý Đam Chi là Lý Miễu, thì cố
nhiên niên đại của Lý Miễu phải mở rộng ra và thành khoảng 390-470. Nói cách
khác, niên đại của Lý Miễu có lẽ nên đặt trong khoảng 390-470, ngay cả khi ông
chỉ sống giữa những năm 420-470.
Niên đại của
Pháp Minh, nếu lá thư thứ sáu của ông viết vào khoảng 434-455, thì chúng ta có
thể đặt ông giữa khoảng 370-460, bởi vì khi viết nó, ông đã “đầu bạc”. Về niên
đại của Đạo Cao, tuy Cao không cho biết tóc tai của ông thế nào, nhưng với cách
xưng danh “đại hòa thượng” của Lý Miễu, ta có thể giả thiết ông sống cùng thời
với Pháp Minh, và chắc già hơn Pháp Minh. Hơn nữa, hai lá thư đầu trả lời cho Lý
Miễu thì do Đạo Cao viết, nhưng đến lá thư thứ ba, Pháp Minh phải viết. Tại sao?
Có thể Cao vì đau yếu hay không muốn trả lời, nên đã giao cho Pháp Minh viết hộ.
Hay cũng có thể Đạo Cao đã chết, nên không thể viết được. Dù với trường hợp nào
chăng nữa, thì rõ ràng Đạo Cao với chức vị “đại hòa thượng” của mình cũng phải
già hơn Pháp Minh. Vì vậy, chắc Đạo Cao phải sống giữa những năm 365-455.
Bây giờ, phối
hợp niên đại này với những phê bình và dữ kiện nêu trên, ta có thể vẽ sơ lại
cuộc đời của Đạo Cao thế này. Sinh khoảng năm 365. Ông viết Tá âm và
Tá âm
tự khoảng những năm 390-450. Khoảng những năm 435-455 ông viết những lá
thư cho Lý Miễu. Ông mất khoảng năm 455 hay trước đó, khi đang có những trao đổi
thư tín giữa ông và Miễu. Cuộc đời ông chắc viết nhiều, nên đã có Đạo Cao
pháp sư tập lưu truyền ở Trung Quốc cho đến khi nó lưu lạc đến Nhật Bản và
được ghi vào Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục vào thế kỷ thứ IX.
Một lần nữa,
những niên đại ấy là những niên đại giả thiết. Nếu nay mai những dữ kiện mới tìm
thấy, như việc khai quật gặp ngôi mộ hay bia văn của một trong những người vừa
kể chẳng hạn, chúng ta đương nhiên phải tái kiểm và tái cải định chúng. Ở giai
đoạn này, nếu chúng có thể được chấp nhận, thì ít nhất trước Huệ Thắng và Đạo
Thiền, Phật giáo nước ta còn có hai vị sư khác, đó là Đạo Cao (365-455) và Pháp
Minh (370-460).
Trong khi Đạo
Cao và Pháp Minh đối diện với cuộc khủng hoảng niềm tin do Quân thiện luận
gây ra dưới ngòi bút của Lý Miễu, thời một vị sư khác vẫn tiếp tục lối tín
ngưỡng thực tiễn của nền Phật giáo truyền thống. Vị sư ấy ngày nay được biết
dưới tên Hiền pháp sư. Để thấy rõ những xu hướng cũng như những thái độ phản ứng
chung của Phật giáo thời bấy giờ đối với vấn đề tín ngưỡng, ta nên tìm hiểu về
vị sư này.
VỀ HIỀN PHÁP SƯ
Hiền pháp sư
lần đầu tiên được Maspéro nêu ra trong bài nghiên cứu về giấc mộng người vàng
của Hán Minh đế trong liên hệ với câu chuyện giấc mộng người vàng do Vương Diệm
ghi lại ở Minh tường ký. Có lẽ là Maspéro, đã Trung hóa cách đọc tên của
pháp sư thành Kiên, nên cả Trần Văn Giáp lẫn thầy Mật Thể, mặc dù có kể đến bản
nghiên cứu vừa nói của Maspéro, đã không liệt ra cái tên Hiền pháp sư, và không
tra khảo nó, trong những luận văn của họ.
Thêm vào đó, vì chú trọng đến giấc mộng người vàng Maspéro không bao giờ thử
nghiên cứu vị sư tên Hiền pháp sư ấy, trừ chuyện kể tới tên, như đã nói.
Ngày nay,
chúng ta có cả thảy ba tư liệu cho việc nghiên cứu vị sư này, đó là một tóm tắt
của Đạo Tuyên trong Tập Thần châu tam bảo cảm thông lục quyển trung ĐTK
2106 tờ 419a15-b6 viết năm 664, mà hai năm sau Đạo Thế cho chép lại trong
Pháp uyển châu lâm 14 tờ 388c10-29 và tạo nên tư liệu thứ hai. Cuối cùng là
lời tự của chính Vương Diệm cho tác phẩm Minh tường ký của ông, mà may
mắn là Đạo Thế đã cho trích một cách hoàn toàn cũng trong Pháp uyển châu lâm
17 tờ 411a8b13.
Căn cứ vào
tóm tắt của Đạo Tuyên thì: “Vào khoảng đầu Tề Kiến Nguyên, Vương Diệm xưa khi
tuổi còn nhỏ dại, ở Giao Chỉ thọ ngũ giới với Hiền pháp sư. Sư cho một tượng
Quan Âm bằng vàng bảo cúng dường, Diệm bèn đem về Dương Đô, gửi ở chùa Nam Giản.
Diệm ban ngày ngủ, mộng thấy tượng đứng ở một góc nhà, bèn cho là thật lạ, liền
đến chùa thỉnh về nhà. Chiều đó, Nam Giản mất hơn 10 tượng, người ta ăn trộm, để
hủy mà đúc tiền. Đến mùa thu Tống Đại Minh năm thứ 7, nó liền phóng quang, rọi
tới 3 thước, ánh vàng rọi lóa mắt, cả nhà đều thấy. Sau đem tượng gửi ở chùa Đa
Bảo, vì Diệm đi lên đất Sở châu kinh. Trải gần 10 năm, không biết tượng ở đâu.
Đến khi về lại Dương Đô, bèn mộng thấy tượng rõ ràng ở giữa những tiểu tượng tại
phía đông của điện chùa. Sáng mai bèn đến chùa thì tìm được như trong mộng, ấy
là ngày 13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ nhất. Cho nên lời tự của Diệm trong Minh
tường ký nói rằng...”.
Đấy là lời
tóm tắt của Đạo Tuyên, mà Đạo Thế đã trích dẫn. Chúng tôi cho dịch hết, trừ đoạn
dẫn lời tự tựa của Vương Diệm. Chúng tôi không cho dịch đoạn dẫn ấy, bởi vì nó
chỉ là một trích dẫn ngắn không đầy đủ và vì chúng tôi có ý dịch cả lời tự tựa
dưới đây.
Với tóm tắt
vừa nêu, thì Vương Diệm là người Thái Nguyên, lúc nhỏ đến ở nước ta và thọ năm
giới với một vị sư, mà ký ức bé nhỏ của Diệm chỉ cho biết là tên Hiền pháp sư.
Vị sư cho Diệm một tượng Quan Âm và sau đó những thần dị đã xảy ra giữa khoảng
Tống Đại Minh và Tề Kiến Nguyên, tức giữa khoảng năm 457- 483. Lời tóm tắt này
như vậy quá đại lược. Vì nó quá đại lược và vì tầm quan trọng của việc xác định
niên đại của vị sư, toàn lời tự tựa của Diệm đáng được dịch ra đây.
Lời tự tựa ấy
như đã nói, may mắn được Đạo Thế cho dẫn một cách đầy đủ trong bộ Pháp uyển
châu lâm của ông. Nó như thế này:
“Diệm dưới
thời Tống lúc nhỏ ở tại Giao Chỉ. Xứ ấy có Hiền pháp sư là một vị sư chùa Đạo
Đức - hay một vị sư Đạo Đức - bèn thấy trao cho Diệm ngũ giới, rồi lấy một cái
tượng vàng Quán Thế Âm đem cho, bảo cúng dường. Hình của tượng làm khác với ngày
nay, nhưng không phải là loại rất xưa. Nó được đúc trong khoảng Nguyên Gia, thêm
công trau chuốt nên tợ như có sự chân hảo. Diệm thỉnh về Dương Đô, thì lúc đó
tuổi mới lên tám, cùng với hai người em, thường hết lòng siêng năng chuyên tinh
cúng dường không mệt. Sau nhà hư phải sửa, nên không có chỗ an thiết, phải đem
gửi trong chùa Nam Giản ở Kinh sư. Bấy giờ, trăm họ đua nhau đúc tiền, cũng có
kẻ ăn trộm vàng về phá ra mà đúc. Khi ấy, tượng ở tại chùa đã trải vài tháng.
Diệm ban ngày nằm ngủ thì mộng thấy tượng đứng ở một góc nhà, ý cho là rất lạ.
Lúc ấy ngày đã chiều, Diệm lập tức chạy đến chùa xin nghênh về. Tối hôm đó, hơn
mười cái tượng tại Nam Giản bị ăn trộm mất. Sau đấy khá lâu vào lúc hoàng hôn,
tượng phóng ánh sáng, chiếu dọi hơn ba thước, ánh vàng đẹp dậy, sáng chóa cả
mắt. Anh em của Diệm và nô bộc trong nhà đều thấy, cả thảy hơn mười người. Bấy
giờ vì Diệm đang còn bé nhỏ, không thể lập tức ghi chép, sau đó viết ra thì đã
quên ngày tháng; chỉ nhớ là ở vào mùa thu năm Tống Đại Minh thứ 7 thôi. Đến cuối
đời Thái Thỉ, Diệm dời đến ở chùa Chu Toàn phố Ô Y. Nhà sư chùa ấy đem tấm tượng
ấy quyền ngụ chùa Đa Bảo. Diệm lúc đó tạm lên ở Giang Đô, vị sư ấy đồng thời
cũng đi lên Kinh sở, nên không biết tượng ở nơi đây, trải gần mười năm, thường
sợ thần tượng nhân đó mất tuyệt. Đến cuối đời Tống Thăng Minh, lại lướt gót tới
Giáp Biểu, trong khi đi ngang qua Giang Lăng, thì gặp vị sa môn ấy, mới biết cái
tượng ở đâu. Năm ấy Diệm trở về kinh sư, liền đến chùa Đa Bảo hỏi. Vị chủ chùa
là Ái Công nói 'không có cái tượng ấy'. Diệm trở về nhà, nghĩ vị sư đó đi đứng
đó đây nên làm mất cái tượng ấy, lòng buồn vô hạn. Đêm ấy nằm mộng thấy một
người hiện ra nói rằng: 'Tượng ở tại Đa Bảo, Ái Công quên đó thôi, đáng nên được
đó'. Rồi hiện đem Diệm tới chùa, người ấy tự tay mở điện, thì thấy tượng rõ ràng
rành rành giữa những tượng nhỏ tại phía đông của điện. Đến sáng mai Diệm liền
đến chùa nói cho Ái Công biết hết thảy những gì mình mộng thấy. Ái Công liền vì
thế mở điện, thì quả nhiên thấy tượng tại phía đông của điện, như ở trong mộng,
liền đem tượng về. Lúc bấy giờ là ngày 13 tháng 7 năm Kiến Nguyên thứ nhất.
Tượng ấy, Diệm ngày ngày thường tự cúng dường, gần như là rường cột cho suốt đời
mình. Chép lại việc này, lòng tôi vẫn xúc động sâu xa, nhân đó đem những gì mình
đã thấy, dệt thành cuốn ký này. Rằng soi nhận tình gần, không gì hơn là nghi
tượng; thụy nghiệm phát ra, phần lớn từ đấy mà nổi lên. Kinh nói rằng: 'Những
loại hình tượng đúc, đẽo, vẽ, dệt đều có hành động và phát ra ánh sáng'. Nay hai
bức tượng Thích Ca và Di Lặc ở Tây Vức đã phát ra ánh sáng như ánh bình minh, ấy
bởi thuộc loại hình tướng đấy ư? Nay Hoa Hạ đã rộng noi theo, nên thần ứng rất
hiển trước, ấy cũng vì qua năm, quần sinh nhạn gặp mà cảm, thì thánh linh liền
mượn nhờ ở gỗ đá mà hiện ra sự u dị, mà không cần phải hình dung cho đẹp đẽ mới
có thể được vậy. Cho nên, đá chìm nổi đáy, thật làm rõ sự giáo hóa của Mân Ngô;
bụi vàng dờn dụa, dùng chỉ ra cái họa của Hành Tống. Số còn lại giải bày cũng có
liên hệ, tuy khó cắt nghĩa một cách khúc chiết, nên đem hết chỗ hay của chúng
cùng họp lại thành từng mục. Rằng, nếu kinh tháp có hiển hiệu thì sự chỉ chứng
của chúng cũng giống thế. Về những chuyện không được nhất quán cho lắm, tôi xếp
chúng tiếp theo ở cuối sách”.
Đấy là toàn
bộ lời tự tựa của Vương Diệm viết cho cuốn Minh tường ký của ông
vào khoảng những năm 479-502. Chúng tôi cho dịch hết, không những vì nó sẽ giúp
xác định niên đại của vị sư tên Hiền pháp sư mà còn vì Vương Diệm là một người
đã sống tại nước ta và tiên phong khai sáng ra nền văn học tiểu thuyết của Trung
Quốc.
Nguyên bản
Minh tường ký ngày nay đã tán thất, nhưng được nhiều tác phẩm Phật giáo
trích dẫn, mà với một kiểm điểm sơ sài, chúng tôi đã đếm tới hơn một trăm câu
chuyện của nó đã xuất hiện chỉ trong Pháp uyển châu lâm thôi. Nó chắc
chắn phải viết thời Nam Tề, tức khoảng năm 479-502, bởi vì Huệ Hạo đã dẫn nó như
một nguồn tài liệu trong lời tựa ông viết vào năm 519 cho Cao tăng truyện
14 tờ 418b29-c1.
Căn cứ vào
lời tự tựa trên thì trong khoảng Nguyên Gia, Diệm đang ở tại nước ta và thọ giới
với một Hiền pháp sư. Pháp sư cho ông một cái tượng đức Quán Thế Âm bằng vàng.
Đến tám tuổi, ông trở về Dương Đô, đem theo cái tượng vàng ấy. Số tuổi này,
chúng tôi dịch sát nghĩa đen của chữ “điêu sấn” trong câu “thời niên đại điêu
sấn”, dựa trên định nghĩa của Hàn thi ngoại truyện, theo đó “con trai
tám tháng thì sinh răng, tám tuổi thì điêu răng; con gái bảy tháng thì sinh
răng, bảy tuổi thì sấn răng”. Thuyết văn giải tự cho biết “sấn” có
nghĩa “rụng”.
Đến năm Tống
Đại Minh thứ bảy, tức năm 463, Diệm đang còn than vãn là “ấu tiểu” nên không thể
làm chuyện “đề ký tỷ gia soạn lục”, đến nỗi sau khi lớn lên, quên cả ngày tháng
xảy ra cái biến cố thần dị, ở đó cái tượng Quán Thế Âm do Hiền pháp sư cho phóng
quang, và chỉ nhớ năm Đại Minh thứ 7 vừa nêu.
Bằng hai chi
tiết này, chúng ta có thể giả thiết là, Diệm ở tại nước ta vào khoảng năm
445-450. Hiền pháp sư của chú bé Diệm như vậy chắc phải sống giữa những năm
360-450. Vì Hiền pháp sư truyền giới cho Diệm, lúc Diệm còn quá nhỏ, nên trong
lúc viết về nhà sư này, ông không có một ký ức rõ ràng nào cho việc mô tả, mà
chỉ có thể viết một cách ngắn ngủi: “Hiền pháp sư giả, đạo đức tăng dã”.
Bốn chữ “đạo
đức tăng dã” này, ở trên chúng tôi cho dịch thành hoặc như “là một nhà sư chùa
Đạo Đức” hoặc như “là một nhà sư đạo đức”. Hai trường hợp này đều có thể. Nếu là
trường hợp đầu, chúng ta biết thêm một ngôi chùa xưa nhất của nước ta, đấy là
chùa Đạo Đức. Nếu là trường hợp sau, giá trị tin tức của nó không gì là nhiều,
đấy là cách hiểu thông thường về bốn chữ ấy. Dù với trường hợp nào đi nữa, Hiền
pháp sư đã phải sống vào khoảng 360-450 và đã có một ảnh hưởng sâu đậm trên nhà
văn nổi tiếng Trung Quốc với cái tượng Quan Âm của người.
Về Vương
Diệm, một số người viết văn học sử Trung Quốc đã coi ông như một nhà sư xuất gia
tại nước ta,
và như vậy là một đệ tử của Hiền pháp sư. Nhưng căn cứ vào lời tự tựa trên, thì
điểm này không rõ ràng gì hết, ít nhất là trước lúc Diệm tới ở chùa Ô Y khoảng
những năm 470-472, bởi vì ông không những nói tới căn nhà tranh của ông, mà còn
nói tới những nô bộc trong nhà. Trước năm 470-472, Diệm chắc hẳn đang còn tại
gia, và Hiền pháp sư không gì hơn là một bổn sư qui y, chứ không phải là một bổn
sư thọ giới.
Với sự có mặt
mới này của Hiền pháp sư, lịch sử Phật giáo nước ta trước năm 440 bây giờ có
thêm một người nữa. Điều đáng tiếc là, trong tình trạng nghiên cứu và tư liệu
hiện tại, chúng ta không thể biết gì hơn ngoài cái tên của nhà sư. Và ngay cả
cái tên ấy, nó cũng không phải là một cái tên tiêu chuẩn đầy đủ ý nghĩa như đa
số những tên Phật giáo tiêu chuẩn khác.
Cố nhiên,
việc Diệm nhớ cái tên ấy như Hiền pháp sư, chứng tỏ, vị sư ấy chắc hẳn được gia
đình cha mẹ Diệm kính trọng và tin tưởng một cách đặc biệt. Ông rất có thể có
một liên lạc mật thiết với gia đình Diệm, điển hình là cái tượng ông cho Diệm và
bảo Diệm hãy cúng dường.
Trong lời tự
tựa trên, Diệm không cho ta biết nguyên quán ở đâu. Theo Huệ Hạo, từ đấy Đạo
Tuyên, thì Diệm đến từ quận Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Một lần nữa, đó là tất cả
những gì chúng ta biết về nhà văn, và rất có thể nhà sư này, vì thế không thể
bàn cãi gì thêm. Tuy thế, chúng tôi nghĩ, dù phát tích từ Trung Quốc, Diệm rất
có thể đã sinh ở nước ta, căn cứ vào sự thọ giới sớm kể trước.
Điều đáng
ngạc nhiên là, trừ cái tượng Quan Âm thần dị ấy, những trích dẫn còn lại hiện
nay trong những bộ sách Phật giáo Trung Quốc như Tập Thần châu tam bảo
cảm thông lục hay Pháp uyển châu lâm v.v... không một câu chuyện nào
đã liên hệ với tình trạng Phật giáo nước ta. Trong khi đó, nước ta chắc chắn
không phải là thiếu những chuyện thần dị kiểu của Minh tường ký.
Sự vắng mặt
này không biết đã đến chính từ Diệm hay từ những người trích dẫn Trung Quốc, vì
nguyên bản của Minh tường ký ngày nay đã tán thất, như đã nói.
Dù không có một bằng cớ hiển nhiên nào, chúng tôi nghĩ, sự vắng mặt xảy ra vì
những người trích dẫn. Bởi vì về một mặt Diệm nói tới chuyện ông “tu phục kỳ sự,
hữu cảm thân hoài, diên thử trưng dịch”, để “chuyết thành” cái cuốn Ký của ông.
Về mặt khác, nước ta có những chuyện thần dị xuất hiện vào thời Diệm làm chuyện
chuyết thành đó, kiểu câu chuyện Lý Thúc Hiến và Huệ Đào, mà chúng ta đã có dịp
thưởng thức ở trên.
Dẫu với những
thiếu thốn và bất xác đáng tiếc ấy, việc có một pháp sư tên Hiền sống vào khoảng
những năm 360-450, là một điều chắc chắn. Qua những phân tích trên, ta thấy dù
có những luận điểm do những lá thư của Lý Miễu nêu lên, niềm tin vào sự thần dị
linh ứng vẫn tiếp tục được ngợi ca và cổ xúy. Dĩ nhiên, xu hướng chung hẳn phải
là chống một niềm tin như vậy, nên sau này Vương Diệm, vị học trò của Hiền pháp
sư, đã phải viết Minh tường ký để xác định và tuyên truyền niềm tin tưởng
vào u minh, vào những điềm lành, điềm gở. Điều này, ta sẽ thấy rõ, khi phân tích
nội dung của cuộc khủng hoảng.
NỘI DUNG CUỘC KHỦNG HOẢNG
Qua những
phân tích lịch sử trên ta thấy Sáu lá thư ra đời biểu hiện những mâu
thuẫn nội bộ của tình trạng lý luận và tín ngưỡng Phật giáo nước ta, mà vào lúc
ấy đã đạt đến một mức độ gay gắt khó giải quyết. Nó gay gắt đến nỗi không có một
cách thức giải quyết nào hơn là chính Đàm Hoằng phải tự thiêu mình nhằm chứng
minh luận điểm “quên mình mà đem hết lòng thành thì tất có cảm, có cảm tất có
thấy” được Phật của Đạo Cao là đúng, và khẳng định “nay học đòi theo ánh thần mà
chẳng có một tấc sáng” của Huệ Lâm là sai lầm. Dĩ nhiên, những mâu thuẫn ấy đã
hiện diện trong quá trình hình thành lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà đến thời Đạo
Cao đã chín mùi, để chỉ cần một kích thích bên ngoài cũng đủ làm cho chúng tạo
nên một tình trạng khủng hoảng. Xét nội dung sáu lá thư, vấn đề xoay xung quanh
câu hỏi, tại sao không thấy chân hình Phật ở đời?
Lý Miễu,
người đầu tiên nêu lên vấn đề, đã phát biểu trong lá thư thứ nhất: “Nếu giáo
pháp là khéo hay lợi vật độ thoát nhiều người, thì tại sao lại không thấy chân
hình nó ở đời? Ấy phải chăng chẳng qua là lời nói suông không thật? Nay chính là
lúc phải cần tìm nguồn gốc phương Tây của nó”. Trong lời đáp, Đạo Cao trả
lời là, nếu chúng ta chưa thấy chân hình Phật ở đời, ấy vì chưa phải là lúc. Cho
nên, trong lá thư tiếp theo, Miễu nói: “Đại nghĩa đã bị khó khăn, bọn Nho Mặc
đang tranh nhau nổi lên, thì há để cho chính tín bị lu mờ, làm cho sự hủy báng
hiểu lầm càng thêm tăng hấn sao? Có thể nào không lấy sự thị hiện và ấn ký để
làm chứng, nhằm giữ lấy mình ư? Đấng Đại Thánh ban cái trí vô ngại, duỗi lòng
thương không cầu, sao lại hà tiện cái ánh sáng rực rỡ của mình để làm tối tăm
những tài năng đi tìm hiểu...”. Nói cách khác, Lý Miễu muốn hỏi tại sao là
chưa phải lúc? Nếu đức Phật sẵn lòng từ bi vô hạn, sao lại không hiện ra cho mọi
người thấy, để dứt hết mọi nỗi nghi ngờ? Để trả lời, Cao đưa ra thuyết cảm ứng,
nói rằng: “Quên mình mà đem hết lòng thành thì tất có cảm, có cảm tất có
thấy, không có cảm thì không thấy, người có thấy đem nói với người không thấy
thì người không thấy rốt cuộc cũng không tin có thấy, (nên) thánh nhân đâu phải
là không thường ở với quần sanh, đâu phải là không thường thấy”. Trong lá
thư thứ sáu, Pháp Minh đã cho thấy cụ thể thuyết cảm ứng vừa nói là gì.
Giải quyết
vấn đề Lý Miễu nêu ra bằng thuyết cảm ứng, Đạo Cao đã tự đặt mình vào truyền
thống tín ngưỡng nhân gian của dân ta, mà từ thời Tăng Hội trở đi đã trở thành
một bộ phận không thể thiếu được trong toàn bộ tín ngưỡng Phật giáo. Sự thực,
Tăng Hội là người đầu tiên xướng thuyết cảm ứng. Cao tăng truyện 1 tờ
325b9 trong khi mô tả việc cầu xá lỵ của Hội, đã ghi câu nói của Hội rằng: “Phép
thiêng ứng xuống, nhưng chúng ta không cảm thấy”- pháp linh ứng giáng nhi
ngô đẳng vô cảm.
Như vậy, vấn
đề không phải là không có Phật hay không có những thị hiện của Ngài ở đời, bởi
vì “Ngài đâu phải là không thường ở với chúng sinh, đâu phải là không thường
thấy”. Ta không thấy là vì không cảm thấy đó thôi. Trong lá thư thứ sáu Pháp
Minh đã đưa ra làm chứng cớ cho sự đúng đắn của luận điểm ấy, mà chúng ta đã
phân tích ở trên.
Ngoài chúng
ra, không phải là chúng ta không có những chứng cớ khác. Tập thần châu tam
bảo cảm thông lục quyển thượng tờ 411a7-14 và 414b11-15 do Đạo Tuyên viết
khoảng năm 664 đã ghi lại ít nhất hai trường hợp. Về trường hợp đầu, nó viết: “Tấn
Nghĩa Hưng năm thứ nhất (405), có người Lâm Ấp thường có một viên Xá lỵ, mỗi khi
đến ngày chay thì phóng tỏa sáng. Sa môn Huệ Thúy theo thứ sử Quảng Châu là Nhẫn
Quỳ sống tại miền nam, vì kính mộ ánh sáng đó, ý muốn thỉnh, nhưng chưa kịp nói
ra thì viên Xá-lỵ đã phân làm hai. Quỳ nghe nói, lòng vui vẻ, lại xin lưu để
kính thờ, thì nó lại phân làm ba. Quỳ muốn phỏng tượng chùa Trường Can, chủ chùa
cố chấp không cho, thì đêm ngủ mộng thấy một người cao vài trượng, nói: 'Tượng
cốt để tuyên truyền hướng dẫn thì sao lại bỏn sẻn đến thế'. Hôm sau, bèn báo,
đồng ý cho Qùy mô phỏng tượng. Khi phỏng tượng xong, Quỳ đem Xá lỵ gắn trên nhục
kế của tượng. Các tượng từ Tây Trúc tới có phóng ánh sáng, ấy vì phần lớn đều có
gắn Xá lỵ”.
Trường hợp
thứ hai kể lại chuyện một người đi mò ngọc trai thấy được ánh sáng nổi trên mặt
biển. Nó viết: “Đến năm Hàm An thứ nhất (371) người đi mò ngọc trai ở Hợp Phố
của Giao Châu ở biển nam tên Đổng Tôn Chi, thường thấy đáy biển có ánh sáng nổi
lên tới trên mặt nước, tìm kiếm thì được ánh sáng từ một tượng Phật bèn đem báo
cáo lên trên. Vua Giản Văn cho kéo tượng lên, lỗ huyệt đều giống, sắc sáng không
khác...”
Ngoài hai
trường hợp đây, ta còn có trường hợp của Huệ Đào và Đàm Hoằng, mà chúng tôi đã
có dịp bàn sơ.
Ta còn có cái
báo cáo của Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu ký và bản tiểu sử của Đạo Thiền
trong
Tục Cao tăng truyện. Viết Giao Châu ký vào khoảng cuối thế kỷ thứ
III đầu thế kỷ thứ IV, Kỳ nói: “Mẹ đá chín con, ngồi cao 7 thước, nay ở trong
chùa của châu, chín con đều bám vào hình đá, tương truyền là trôi từ biển vào,
sĩ phu thứ dân cầu đảo xin có con trai, phần lớn đều hiệu nghiệm, đến nay chưa
dứt”. Nhạc Sử đã dẫn truyện này vào dưới mục huyện Long Biên trong Thái
bình hoàn vũ ký 170 tờ 7b10-8a2, xác nhận ngôi chùa đó thuộc vào vùng Long
Biên. Cũng chính trong vùng Long Biên ấy, khoảng một thế kỷ sau, Đạo Thiền
(457-527) đã đến trú ngụ trong chùa núi Tiên Châu, một nơi thường có “hổ hại”,
và Thiền đã làm “tai ách ấy đi xa”, như Tục Cao tăng truyện 21 tờ
607b117 đã ghi. Như vậy, nêu lên thuyết cảm ứng nhằm giải đáp vấn đề tại sao
không thấy Phật do Lý Miễu đề ra, Đạo Cao đã xuất phát từ xu thế tin tưởng chung
của thời đại mình. Nhưng với sự xuất hiện của câu hỏi tại sao không thấy Phật
ấy, cơ sở lý luận của xu thế tin tưởng vừa nói đã bị lay động mạnh mẽ trước sự
chuyển mình của một xu thế tư duy mang một màu sắc ít nhiều duy lý hơn, trước sự
trỗi dậy của một khả năng tự ý thức sâu xa. Thế thì, cơ sở lý luận của xu thế
tin tưởng đó là gì?
Khi nêu lên
câu hỏi tại sao không thấy chân hình của Phật ở đời, Lý Miễu đương nhiên phải có
một quan niệm nào đó về Phật, nghĩa là Phật là gì, mà có thể hiện ra đời cho ta
thấy. Cũng thế, khi Đạo Cao trả lời câu hỏi ấy với thuyết cảm ứng của mình, thì
ông tất phải có một số ý niệm về khả năng ứng của Phật cũng như cách thức cảm
của những người trần. Ấy vậy mà trong Sáu lá thư, không một lần ta tìm
thấy một định nghĩa rõ ràng về Phật. Điều này giả thiết rằng cả Lý Miễu và Đạo
Cao chắc chắn phải có một quan niệm chung về Phật. Vào thế kỷ thứ V, khi kinh
điển Phật giáo đã truyền tới Trung Quốc một cách tương đối đầy đủ, thì từ những
dịch phẩm cũng như những gì do các tác gia Trung Quốc viết ra, Phật đã được quan
niệm như sau.
Trong Giáo
hóa bệnh kinh của Trung A hàm kinh 6 tờ 459c24-27 do Sanghadeva dịch
giữa những năm 397-398, Phật được định nghĩa thế này: “Có dòng giống Thích mà
bỏ họ hàng Thích, cạo bỏ râu tóc, mặc áo Cà sa, rất mực tin tưởng đến xuất gia
cửa, mà trở thành không nhà cửa để học đạo, đạt được sự giác ngộ đúng đắn chính
xác không gì hơn, thì gọi là Phật”. Nguyên bản Phạn văn của Giáo hóa bệnh
kinh ngày nay hiện chưa tìm thấy. Bản tương đương trong tạng Pàli là
Anathapindikavada-sutam của Trung bộ kinh lại không có một nghĩa như vậy.
Do đó, định nghĩa vừa dẫn có thể là một thêm thắt của Sanghadeva, hay những vị
đã truyền đạt văn bản Phạn văn của Trung A hàm kinh. Dù với trường hợp
nào đi nữa, nó rõ ràng thể hiện một cách khá trọn vẹn và tương đối khá chính xác
một quan niệm lịch sử cụ thể về Phật, trong khi định nghĩa. Thực vậy, định nghĩa
Phật là người: có giòng giống Thích mà bỏ họ hàng Thích để cạo hết râu tóc, xuất
gia ra đi học đạo và thành vị giác ngộ đúng đắn chính xác không gì hơn, thì quả
đã tóm tắt một cách khá đầy đủ và đại cương chính lai lịch của vị đã khai sáng
đạo Phật.
Xuất phát từ
một quan niệm cụ thể lịch sử về Phật như thế, các dịch phẩm Phật giáo ở Trung
Quốc cho đến giữa thế kỷ thứ V đã coi Phật như một vị đã giác ngộ về sự thật của
mọi vật, như một vị “nhận thức tất cả”. Kinh 299 của Tạp A hàm kinh 12 tờ
85b24-27 do Gunabhadra dịch giữa những năm 436-443 đã viết: “Phật bảo một
Tỷ-kheo: Pháp duyên khởi không phải do ta tạo ra, cũng không phải người khác tạo
ra. Nhưng các Như Lai ra đời hay chưa ra đời, pháp giới vẫn thường trú, vị Như
Lai kia tự giác ngộ được pháp đó thì trở thành giác ngộ một cách đúng đắn chính
xác”. Quan niệm Phật như một người hiểu biết trọn vẹn về thực tại khách quan
này là một quan niệm hầu như phổ biến khắp các kinh điển truyền dịch ở Trung
Quốc.
Phẩm Thích
tướng của Đại trí độ luận 90 tờ 549a24-25 nhân viết về hiện tượng không,
hiện tượng bát nhã v.v... cũng nói: “Có Phật hay không Phật, các hiện tượng
đó đều thường trú, Phật có thể biết tướng đó, nên gọi là Phật”. Nó xác định
Phật như vậy thuần túy trên phương diện tri thức. Điều này phản ảnh xu thế chung
của những quan niệm về Phật trong các dịch phẩm thực hiện ở Trung Quốc thời Đạo
Cao và Pháp Minh. Phẩm Đạo hạnh của Ma Ha Bát nhã Ba la mật đa kinh 22 tờ
379a14-17 do Kumàrajiva dịch khoảng năm 408, trả lời câu hỏi Phật là gì, đã
viết: “Biết thật nghĩa của các pháp cho nên gọi là Phật; lại nữa, hiểu được
thật tướng của các pháp, cho nên gọi là Phật; lại nữa, thông đạt được thật
nghĩa, cho nên gọi là Phật”. Rồi Trì phẩm của Đại minh độ kinh quyển
2 tờ 403c3-4 do Chi Khiêm dịch khoảng năm 222-257 cũng viết: “Thiên trung
thiên có giữ được trí tuệ vĩ đại, vì nhận được sự nhận thức tất cả” Thiên
trung thiên hữu trì đại minh giả, vị thọ nhất thiết trí hỉ.
Và những dịch
phẩm đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc, mà quan trọng nhất trong chúng là của
Chi Lâu Ca Sấm (Lokaksema) đã mở đầu cho cái xu thế chung vừa thấy về quan niệm
Phật. Dịch Đạo hành Bát nhã kinh 1 tờ 426a23-24 khoảng năm 179, Lokaksema
đã nêu lên quan điểm là, vị Bồ tát “nếu không thực hành bát nhã Ba la mật thì
không được tát vân nhã”. Tát vân nhã, dĩ nhiên, là một phiên âm xưa của chữ
sarvajnà, mà những nhà cựu dịch và tân dịch đã nhất trí phiên thành
nhất thiết trí “sự nhận thức tất cả”. Như thế, trung thành với truyền
thống tri thức bát nhã, Lokaksema đã truyền đạt cho độc giả Phật giáo Trung Quốc
một khái niệm thuần túy tri thức về Phật. Phật thể quan này dần dà chiếm ưu thế
trong giới tư tưởng Phật giáo với sự du nhập và phiên dịch ngày càng nhiều những
kinh điển thuộc văn hệ Bát nhã,
và hoàn toàn phù hợp với tư trào chung của thời đại là huyền học thanh đàm, chú
trọng khía cạnh tìm hiểu về lý lẽ xa vời huyền diệu của trời đất, về bản chất
thực sự của con người và sự sống một cách triết lý.
Đương nhiên,
song song với truyền thống Phật thể quan chiếm ưu thế này, một số Phật thể quan
khác đã xuất hiện, nhưng tựu trung vẫn qui về Phật thể quan ấy. Chẳng hạn, Tôn
Xước trong Dụ đạo luận do Tăng Hựu chép ở Hoằng minh tập 3 tờ
17a7-10 dù chủ trương quan điểm “Chu Khổng tức Phật, Phật tức Chu Khổng”,
vẫn tiếp tục định nghĩa Phật thế này: “Phật là tiếng Phạn, Tấn dịch là giác,
nghĩa của giác tức nói hiểu sự vật như Mạnh Kha cho thánh nhân là bậc tiên giác,
ý chỉ nó là một vậy.”- Phật giả Phạn ngữ, Tấn huấn giác giả, giác chi vi
nghĩa, ngộ vật chi vị, do Mạnh Kha dĩ thánh nhân vi tiên giác kỳ chỉ nhất giả.
Rõ ràng đối
với Xước, dẫu Phật có được đồng nhất với Chu Khổng đi nữa thì vẫn còn là một vị
giác ngộ về sự thật của mọi vật. Nói cách khác, Xước vẫn nằm trong truyền thống
Phật thể quan của thời đại mình và trung thành với truyền thống đó để nhìn Phật
như một bậc “nhận thức tất cả”, một bậc nhất thiết trí. Cho nên, khi gặp phải
những yêu cầu của thực tế khách quan bắt buộc phải đồng hóa Phật với Chu Khổng
của nền văn hóa Trung Quốc, thì quan niệm Phật như một nhất thiết trí vẫn đóng
một vai trò chủ chốt và tức khắc được coi như đồng nhất với quan niệm tiên giác
của Nho gia. Xu thế định nghĩa Phật một cách cụ thể và lịch sử mang tính chất
tri thức luận này, như vậy, là một xu thế chủ yếu và nổi bật của những tác phẩm
Phật giáo viết và dịch ở Trung Quốc, đại biểu trung thực cho quan niệm Phật của
giới Phật giáo Trung Quốc thời ấy.
Với một quan
niệm Phật kiểu vừa dẫn, dĩ nhiên vấn đề thấy chân hình Phật ở đời tất không thể
nào được đặt ra. Bởi vì Phật vừa được quan niệm một cách lịch sử cụ thể như một
cá nhân thuộc một dòng họ nào đó, lại vừa mang một nội dung tri thức luận, nghĩa
là, Phật được hiểu như một người có khả năng nhận thức hiểu biết thực tại khách
quan một cách chân thật. Phật do thế không thể nào đòi hỏi phải hiện thân ở đời.
Sự kiện Lý Miễu viết thư hỏi Đạo Cao về vấn đề sao không thấy chân hình Phật ở
đời, từ đấy, phải xuất phát từ một quan niệm khác về Phật, từ một xu thế lý luận
Phật giáo khác với xu thế chung của nền Phật giáo Trung Quốc từ khởi nguyên cho
đến lúc bấy giờ.
Quan niệm
khác ấy đương nhiên phải bắt nguồn trong quá trình hình thành Phật giáo của dân
tộc ta, như nó đã phản ảnh trong những tác phẩm viết và dịch tại Việt Nam cho
đến thời của Lý Miễu và Đạo Cao. Trước hai người này, hai tác phẩm nổi bật nhất
đương nhiên là Mâu Tử Lý hoặc luận của Mâu Bác và Lục độ tập kinh
của Khương Tăng Hội. Những tác phẩm này đã bày tỏ một quan niệm gì về Phật? Mâu
Tử, trong khi trả lời câu hỏi sao gọi là Phật và Phật có ý nghĩa gì, đã viết
trong
Mâu Tử Lý hoặc luận do Tăng Hựu chép lại ở Hoằng minh tập 1 tờ
2a7-13: “Phật là thụy hiệu giống như gọi Thần Tam Hoàng, Thánh Ngũ Đế vậy.
Phật là nguyên tố của đạo đức, là mối giềng của thần minh. Phật có nghĩa là giác
ngộ, hoảng hốt biến hóa, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, hay nhỏ hay lớn,
hay tròn hay vuông, hay già hay trẻ, hay ẩn hay hiện, đạp lửa không cháy, đi dao
không đứt, ở nhớp không dơ, trong rủi không xui, muốn đi thì bay, ngồi thì phóng
quang, nên gọi là Phật”.
Đọc qua định
nghĩa vừa dẫn, hiển nhiên Phật không còn được quan niệm như một nhân vật lịch sử
thuộc một giòng giống cụ thể nhất định, mang một số khả năng tri thức đáng muốn.
Phật không còn “có giòng giống Thích”, mà đã trở thành “nguyên tố của đạo đức và
giềng mối của thần minh”. Phật không còn là một vị nhất thiết trí, một vị nhận
thức tất cả trong giới hạn của thực tại khách quan, một thực tại luôn luôn có
mặt, dù có Phật hay không có Phật. Trái lại, Phật là một vị có thể hoảng hốt
biến hóa, phân thân tán thể của mình, có thể lớn có thể nhỏ, có thể già có thể
trẻ, thậm chí có thể tròn hay có thể vuông, có thể còn hay có thể mất, đi trên
lửa thì không sợ cháy, đạp lên lưỡi dao thì không sợ đứt. Định nghĩa Phật như
vậy tức đã đưa Phật ra khỏi thế giới loài người và khoát lên Ngài bộ áo của một
vị thần linh, tước bỏ hết bản chất con người của Ngài với tất cả những giới hạn
của cuộc sống con người, để trở thành một bậc có những khả năng siêu nhân, nếu
không nói là một bậc vạn năng.
Với định
nghĩa ấy, quan niệm Phật của Mâu Tử dứt khoát không thể xuất phát từ xu thế
chung quan niệm Phật của nền Phật giáo Trung Quốc, bởi vì chúng không có những
điểm gì tương đồng với nhau cả.
Thang Dụng Đồng
trước đây đã đồng hóa quan niệm Phật của Mâu Tử với quan niệm Phật của Chi
Khiêm, rồi dẫn đến câu sau đây từ bản dịch Đại minh độ kinh 1 tờ 478a8-17
của Khiêm làm bằng: “Thiện Nghiệp ngôn: Như Thế Tôn giáo, lạc thuyết Bồ tát
minh độ vô cực, dục hành đại đạo đương tự thử thí. Phù thế đạo vi Bồ tát, thị hư
không dã, tư đạo vi Bồ tát, diệc không hư dã (...) Ngô ư tư đạo, vô kiến vô đắc,
kỳ như Bồ tát bất khả kiến, minh độ vô cực diệc bất khả kiến. Bỉ bất khả kiến,
hà hữu Bồ tát đương thuyết minh độ vô cực. Nhược như thị thuyết, Bồ tát ý chí,
bất di bất xả, bất kinh bất đản, bất dĩ khủng thọ, bất bì bất tức, bất ác nạn.
Thử vi diệu minh độ, dự chi tương ưng, nhi dĩ phát hành, tắc thị khả vị tùy giáo
giả dã”.
Đọc qua đoạn
văn vừa dẫn, mà chúng tôi để nguyên không dịch nhằm cho người đọc có thể trực
tiếp tiếp xúc với nguyên bản và tự mình nhận ra những hàm ý của nó, ta không thể
nào tìm thấy một dấu vết gì cho phép khẳng định “giải thích” của Mâu Tử về Phật
giáo là có thể “tìm thấy” trong Đại minh độ kinh của Chi Khiêm. Điều này
tất không có gì đáng ngạc nhiên lắm, bởi vì như đã thấy, quan niệm Phật của
Khiêm cũng nằm trong xu thế chung về quan niệm Phật của nền Phật giáo Trung Quốc
thời đó. Chỉ có điểm đáng ngạc nhiên là, Thang Dụng Đồng lại đi đồng nhất quan
niệm Phật của Mâu Tử với quan niệm của Khiêm, khi chúng không có một liên hệ
thực sự nào.
Không những
liên kết đối với Khiêm, Thang Dụng Đồng
còn móc nối quan niệm Phật của Mâu Tử với quan niệm “đại nhân” của Nguyễn Tịch
(210-263) trong Đại nhân tiên sanh truyện và cho chúng là “phù hợp với
nhau”. Theo Tịch thì “đại nhân là kẻ cùng tạo hóa đồng thể, cùng sinh với
trời đất, tiêu diêu thoát đời, cùng đạo đều thành, biến hóa tụ tán, hình nó
không thường, trời đất hạn chế mình vào trong, nhưng thần minh mở vượt tới bên
ngoài”. Dẫn định nghĩa đó của Tịch, dưới những chữ “biến hóa tụ tán hình nó
không thường”, Đồng chua vào những từ Mâu Tử dùng để định nghĩa Phật: “Hoảng
hốt biến hóa, phân thân tán thể, năng tiểu năng đại”, nhằm cho thấy những gì
Mâu Tử nói về Phật và những gì Tịch viết là đại nhân, “lý thú chúng là hợp với
nhau”.
Trong một
giới hạn nhất định nào đó, sự phù hợp không phải không có. Điểm quan trọng là,
sự phù hợp có mang một liên hệ tất yếu lịch sử và luận lý không, hay chỉ là một
sự phù hợp ngẫu nhiên, biểu hiện cho tính nhân loại và quốc tế của một số tư
tưởng loài người. Về điểm ấy, như chính Đồng đã mặc nhiên nhận ra, sự phù hợp
vừa nói chỉ là ngẫu nhiên, bởi vì một số phát biểu của Tịch đã có những tương tự
với quan niệm logos của Thiên Chúa giáo nguyên thủy, và đương nhiên không ai lại
bảo giữa Tịch và Thiên Chúa giáo nguyên thủy đã có những ảnh hưởng hỗ tương. Do
thế, một số chữ của Tịch có thể cắt nghĩa theo những từ mô tả Phật của Mâu Tử,
sự kiện ấy không nhất thiết điểm chỉ Mâu Tử đã chịu một truyền thống học thuật
cùng với Tịch, chứ khoan nói chi tới việc chịu cùng một quan niệm về Phật hay
đại nhân. Rất có thể đã xảy ra một quá trình “sao tập thiết thủ”, và quan hệ
giữa Tịch và Mâu Tử là thứ quan hệ đó, không hơn không kém. Nói thẳng ra, có thể
Tịch đã “sao tập”, nếu không là “thiết thủ” quan niệm Phật của Mâu Tử để viết
nên định nghĩa đại nhân của mình.
Như vậy,
trong khi ta rất khó mà tìm được một tư liệu Phật giáo Trung Quốc nào có một
định nghĩa về Phật mang những nét giống với định nghĩa Phật của Mâu Tử, thì
những kinh điển dịch và viết xuất phát từ nước ta đã bàng bạc một quan niệm kiểu
Mâu Tử về Phật. Kinh 79 và kinh 81 trong Lục độ tập kinh 7 của Khương
Tăng Hội là những thí dụ điển hình. Kinh 79 Hội viết: “Đạt được sự không lạnh
không nóng, không đói không khát, công nghiệp và phước đức hội tụ, mọi thứ độc
không thể gia hại, ở đời làm Phật, ba cõi đặc biệt tôn trọng”.
Ở kinh 81, Hội càng nói rõ hơn: “Tôi sinh phải thời đáng oán, không gặp đời
Phật, không nghe kinh Phật, bậc Thế Tôn chí chân hiện tại ở mười phương thấy
khắp nghe hết, đều biết tất cả, hoảng hốt phảng phất, hào quang không đâu không
tới, nguyện hiện tôn linh, khiến ta thấy Phật”.
Qua hai mô tả
vừa nêu, rõ ràng quan niệm Phật của Khương Tăng Hội hầu như đồng nhất với quan
niệm của Mâu Tử, chỉ ngay trên phương diện ngôn từ thôi, chứ khoan nói tới ý tứ.
Phật đối với Hội cũng “hoảng hốt phảng phất”, cũng có hào quang “không đâu không
tới”, cũng “hiện tôn linh”, “mọi thứ độc không thể gia hại”, “đạt được sự không
lạnh không nóng, không đói không khát”. Đúng là Phật nếu không là “nguyên tố của
đạo đức”, thì ít nhất với những đặc tính vừa liệt, cũng phải là “tông tự của
thần minh”, phải là một vị có quyền năng biến hoá ẩn hiện, một khả năng vượt ra
ngoài những giới hạn sinh vật lý của thế giới loài người để thực hiện những
trạng thái sống và hoạt động không thể thực hiện được đối với những con người
thông thường.
Quan niệm
Phật một cách tổng quát với những khả năng như thế, cho nên mới dẫn đến vấn đề
sao chân hình Phật không hiện ra ở đời, sao ta lại không thấy Phật, mà Lý Miễu
đã nêu ra đối với Đạo Cao và Pháp Minh. Cần chú ý là, cả Mâu Tử và Khương Tăng
Hội lẫn Lý Miễu cùng Đạo Cao và Pháp Minh đều nói Phật một cách tổng quát, chứ
không nhắm đến một đức Phật nhất định nào. Đối với họ, nếu đã là Phật thì phải
hội tụ đủ một số những đặc tính và khả năng như họ quan niệm, mà không cần phải
phân biệt sự khác nhau giữa các đức Phật. Điểm này ta cần chú ý, bởi vì vấn đề
thấy Phật không phải là không đặt ra trong xu thế quan niệm Phật một cách lịch
sử cụ thể và mang tính chất tri thức luận của nền Phật giáo Trung Quốc. Nhưng nó
đã đặt ra trong khung cảnh của một phân biệt giữa quan niệm lịch sử cụ thể về
Phật Thích Ca, và quan niệm có vẻ siêu hình đối với các đức Phật khác như Phật A
Di Đà hay Di Lặc mà các truyền thống chưa bao giờ minh nhiên xác định là hiện
hữu một cách lịch sử cụ thể kiểu Phật Thích Ca.
Kể từ ngày
tín ngưỡng các đức Phật Di Đà và Di Lặc truyền vào Trung Quốc, vấn đề thấy các
đức Phật ấy đã trở thành một chủ đề bàn cãi khá sôi nổi. Về tín ngưỡng Phật Di
Đà chẳng hạn, kinh Ban chu tam muội ĐTK 417 tờ 899a10-14 mà các kinh luật
và các ấn bản nhất trí cho là do Lokaksema dịch tại Lạc Dương vào năm 179, đã
viết: “Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu ba tắc, ưu bà di, như phép đó hành
trì..., qua bảy ngày rồi, sau đó thấy Phật A Di Đà, giống như chỗ thấy của người
trong mộng...”. Viết thế, kinh Ban chu tam muội tự nó gây nên nhiều
thắc mắc rất khó giải quyết, đến nỗi cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ V Huệ
Viễn (334-417) đã phải viết thư hỏi Kumarajìva (Cưu Ma La Thập). Trong Đại
thừa đại nghĩa chương quyển trung tờ 134b4-135a11, Viễn đã viết: “Niệm
Phật tam muội, trong chương niệm Phật của kinh Ban chu nói, phần nhiều dẫn mộng
làm thí dụ. Mộng là cảnh của phàm phu... Nếu Phật là giống với chỗ thấy mộng,
thì đó là cái tướng được chiêm tưởng của tướng ta chuyên chú thì thành định,
định thì thấy Phật, đức Phật được thấy không từ ngoài đến, ta cũng không đi, chỉ
là chuyên chú tưởng tượng mà lý hội... Phải chăng là đức Phật ở trong định? Phải
chăng là đức Phật từ ngoài đến? Nếu là đức Phật ở trong định, ấy là do ta tưởng
tượng mà dựng nên, rốt cục lại trở về ta. Nếu là đức Phật từ ngoài đến, ấy là vị
thánh nhân ngoài giấc mộng, thì không được đem mộng ra để chứng minh. Niệm Phật
tam muội; pháp pháp lại như vậy ư?”.
Trước những
câu hỏi đó Cưu Ma La Thập phải phân loại và đánh giá phương pháp niệm Phật: “Tam
muội thấy Phật có ba thứ. Một là, vị Bồ tát hoặc có được mắt trời, tai trời,
hoặc hay đến chỗ Phật mười phương, thấy Phật gặng hỏi, cắt hết mọi lưới ngờ. Hai
là, tuy không có thần thông, thường tu niệm các đức Phật hiện tại như Phật A Di
Đà v.v..., lòng ở một nơi thì được thấy Phật xin hỏi chỗ ngờ. Ba là, học tập
niệm Phật, hoặc đã ly dục, hoặc chưa ly dục, hoặc thấy tượng Phật, hoặc thấy
sanh thân, hoặc thấy các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Đó là ba thứ định,
đều gọi là niệm Phật tam muội, nhưng sự thật chúng không giống nhau. Thứ cao là
có được thần thông thấy Phật ở mười phương, số còn lại đều là thấp”. Sau khi
phân loại đánh giá như vậy. Cưu Ma La Thập tiếp theo xác định phương pháp niệm
Phật tam muội là có thể giúp người ta thấy Phật, và đức Phật ấy hiện hữu một
cách khách quan “tại phương tây trải qua mười vạn cõi Phật”. Do vậy, vì
sợ “người không tin, mà không thực hành phương pháp thiền định ấy, nghĩa rằng
chưa được thần thông thì làm sao ở xa mà thấy Phật được, nên Phật mới đem mộng
làm thí dụ”.
Cốt tủy câu
trả lời của Cưu Ma La Thập là thế đối với câu hỏi thấy Phật có phải như nằm mộng
không của Huệ Viễn. Rõ ràng, vấn đề thấy Phật ở đây đặt ra và giải quyết đúng
theo xu thế quan niệm của nền Phật giáo Trung Quốc, mà ta đã mô tả ở trên. Nó
không liên hệ với đức Phật cụ thể lịch sử Thích Ca Mâu Ni, trái lại có một liên
hệ mật thiết với các đức Phật huyền sử kiểu Di Đà và Di Lặc. Và những Phật tử
Trung Quốc chủ yếu chỉ đòi thấy các đức Phật này mà thôi. Đồng thời với Huệ
Viễn, Vương Mật (360-407) cũng đã viết thư hỏi Cưu Ma La Thập về việc “sao không
thấy Di Lặc và các nghìn đức Phật”, Toàn văn lá thư ngày nay đã mất, nhưng cái
đầu đề “Vấn bất kiến Di Lặc bất kiến thiên Phật” được Trừng ghi
lại trong Pháp luận và Tăng Hựu sao vào Xuất tam tạng ký tập
12 tờ 83c29, bày tỏ một phần nào nội dung vấn đề Vương Mật muốn nêu ra. Từ những
dữ kiện ấy, yêu cầu thấy các đức Phật huyền sử là một xu thế chung của Phật giáo
Trung Quốc thời đại ấy.
Đối với đức
Phật lịch sử cụ thể Thích Ca Mâu Ni, vấn đề ấy ta chưa thấy đề ra. Ngay cả những
khả năng biến hóa, những “oai thần”, cũng chỉ được quan niệm trong liên hệ với
chân pháp thân của Phật thôi. Trong lá thư gửi cho Cưu Ma La Thập ở Đại thừa
đại nghĩa chương quyển thượng tờ 125b22-c4, Huệ Viễn nêu lên câu hỏi các
hình tượng do các nhà sư đúc vẽ đẽo gọt có tả hết được thân tướng của Phật
không. Trong lời đáp cũng ở quyển thượng tờ 125c5-126b2 Cưu Ma La Thập nói: “Thân
Phật Thích Ca Mâu Ni có thể cùng một lúc ở một vạn quốc độ, đều làm việc Phật,
có đủ thứ tên gọi, có đủ thứ xác thân, để giáo hóa chúng sinh”. Cho nên, như
kinh Mật tích nói: “Thân Phật ứng hiện không phân biệt địa phương,
chúng sinh trong một hội, có người thấy thân Phật màu vàng, có người thấy màu
bạc, hoặc các loại màu xa cừ, mã não v.v..., hoặc có chúng sinh thấy thân Phật
không khác con người, hoặc có người thấy thân Ngài một trượng sáu, hoặc thấy ba
trượng, hoặc thấy hình ngàn vạn trượng, hoặc thấy như núi Tu Di v.v... hoặc thấy
vô lượng vô số biến thân. Đó là thần lực của pháp thân không gì là không có thể”.
Vì thế, thân Phật không phải là không thể quan niệm theo hình ảnh con người và
biểu tượng theo quan niệm ấy. Và chúng sinh “không có thể thấy đủ thân Phật, vì
công đức chưa đầy đủ”, như Cưu Ma La Thập đã viết ở một lá thư khác cũng trong
Đại thừa đại nghĩa chương quyển thượng tờ 129b26-28. Nói tóm lại,
đối với đức Phật lịch sử cụ thể thì không có vấn đề thấy, càng không có vấn đề
hiện ra. Có thấy và có hiện ra chăng, ấy là Phật thân hay pháp thân của Phật,
nghĩa là, giảm trừ đức Phật cụ thể lịch sử thành một đức Phật huyền sử. Cho nên,
ngay khi đề cập tới vấn đề thấy Phật hay vấn đề Phật hiện ra, những người Phật
tử Trung Quốc vẫn bị giới hạn trong xu thế chung của quan niệm Phật một cách
lịch sử cụ thể mang tính chất tri thức luận. Thực ra, không phải họ không có một
số ý niệm nào đó về một đức Phật thần thông biến hóa. Nhưng số ý niệm ấy không
chiếm một ưu thế lý luận tư tưởng và tín ngưỡng để trở thành chi phối toàn bộ tư
tưởng Phật giáo Trung Quốc.
Trong lá thư
thứ bảy viết cho Cưu Ma La Thập ở Đại thừa đại nghĩa chương quyển
trung tờ 129c18-130a6 Huệ Viễn đã nêu lên vấn đề “pháp thân cảm ứng”, xác định
rõ là có thần thông mới có cảm ứng, bởi vì “thần thông đã rộng thì tùy cảm ứng”.
Nhưng tiếp theo, Viễn đã không nói thẳng ra là đức Phật có thần thông không.
Trái lại, ông vẫn rơi vào quĩ đạo của quan niệm Phật mang tính chất tri thức
luận. Ông viết: “Cho nên kinh nói đức Như Lai có các thông huệ. Thông huệ tức
là biến nhất thiết trí. Ấy là mỗi nhóm của muôn dòng, là chỗ ra của mây lành
pháp thân”. Có lẽ thấy Viễn mắc kẹt vào xu thế quan niệm Phật chung của Phật
giáo Trung Quốc, Cưu Ma La Thập có khơi ra ý niệm một đức Phật thần thông. Ông
viết trong lá thư đáp cũng ở Đại thừa đại nghĩa chương quyển trung tờ
130b2-3: “Thiền định là cội gốc của thần thông, Phật biến hóa các thứ thân ở
khắp các nước mười phương để làm các việc Phật”. Ý niệm đức Phật thần thông
này, đến giữa thế kỷ V, chưa trở thành một ý niệm chủ đạo của nền tín ngưỡng
Phật giáo Trung Quốc, như cái định nghĩa thông huệ vừa nêu của Huệ Viễn là một
điểm chỉ.