TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO [ 3 ]LÊ MẠNH THÁT |
|
PHẦN II
BẢN DỊCHTHIỀN UYỂN TẬP ANH
(1a1) BÀI TỰA IN LẠITHIỀN UYỂN TẬP ANH
Thiền uyển tập anh, sao dùng nghĩa đó? Xin thưa, dùng sự anh tú của nó làm nghĩa vậy. Sao thế ? Người theo thiền tông cố nhiên là nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền thật ra lại hiếm; Chính như một con phụng giữa bầy gà, một cây lan trong đám cỏ. Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị, tri kiến siêu quần, làm sao thấu được ý chỉ huyền vi, để có thể làm lãnh tụ cho kẻ hậu học và mô thức cho người đời sau? Đáng tin thay! Trong vườn Thiền, người anh kỳ là hiếm, nhân đấy trích lấy những bậc danh công, thạc đức để làm tỏ sự tổ thuật của thiền học. Nên cái nghĩa của Tập anh chính do đó mà có tên. Kể từ hỗn độn bắt đầu, bấy giờ có Phật Uy Âm xuất thế (1), sáng làm tị tổ của thiền tông. Nhưng thời ấy, tục còn thuần hậu, người nhiều chất phác, kinh giáo ở tại hư không (1b1), không cần nói ra để làm máy hóa độ. Kẻ nào lấy ma làm Phật kẻ đó trá ngụy ngày càng sinh, gian dâm ngày càng dấy, nghiệp nợ kết đầy, chướng tội thêm thẳm. Nếu chẳng dùng đến thuyền từ cứu vớt, thì chẳng thể được. Cho nên cha cả Thích Ca xuất hiện ở Ta bà (2), vì họ mà nói ra kinh kệ, dạy dỗ chúng sanh, chín kiếp vượt tu (3), công thành quả mãn. Do thế, Phật giáo đại hành, thiền tông tiếp nối, như gió thổi qua sáu nẻo (4), để đem mát lành, tuyết rơi trên ba đường (5) để dẹp nóng dữ. Bí quyết thành Phật làm Tổ, từ đó mới mở được mối manh. Nước Đại Việt ta, lời Phật thấm nhuần khắp cả, mưa pháp sóng gội nhiều nơi, cắt tóc xuất gia, chứng ấn ngộ không thì cũng có người. Về hành tích, lòng thiền họ sáng như mặt trời, gương đạo trong như băng giá. Có người ra đời để giúp nước an dân, có kẻ nhập thế để đỡ ngã, vớt chìm. Có người sớm ngộ ấn tâm, chống gậy làm thần diệu cơ mầu của Đạt Mạï (6) (2a1). Có kẻ muộn vào cửa thiền, chú sen (7) khiến hiển hiện bí quyết của Đồ Trừng. Còn những kẻ, chim rừng chuộng niềm đức, nghe kinh trong cửa, dã thú mến lòng nhân, cửa bếp dâng cơm. Đó là lòng thành cảm cách đã hiệp, chỗ học thần hóa được xong, há chẳng là sự mầu nhiệm của bốn mắt nhìn nhau ư! Thật đã đủ để làm bậc anh tú trong vườn thiền vậy. Ôi! Phật đạo chí huyền, mà lòng lại huyền ở trong huyền. (8) Phật đạo rất lớn mà lòng lại lớn ở trong lớn. Lòng ư! Lòng ư! Nó là cái chủ tể của sự tu đạo ư! Một sách Thiền uyển này, bắt đầu từ việc thiền sư Vô Ngôn Thông truyền đạo, đèn đèn nối nhau, ánh ánh huy hoàng, song rút gọn lời dài, làm ngắn chuyện rộng thì cũng đều cái lòng ấy là Chánh giác vô thượng vậy. Xét nguyên do nó, nếu chẳng phải gột rửa sáu trần, rời bỏ bốn tướng (9) mà có thể được như thế sao ? Tôi ròng học sách Nho, xem (2b1) thêm kinh Phật, xét về lý hữu vô của chúng, tuy nói là hai đường, nhưng khảo về chỗ quy kỉnh thì tợ cùng một lẽ. Nhân khi rảnh rỗi giảng dạy ở trường (10), gặp một bạn thiền đến bàn lời Phật, đối thoại hồi lâu, là những vấn đề lông rùa sừng thỏ. Y nhân đó lấy ra từ trong tay áo, có Tập anh một tập nhờ tôi chỉnh cú, để tiện in lại, nhằm khỏi sai lầm. Tôi xem trong sách ấy có nhiều cao thiền, danh tổ, học tu hết sức, chứng ngộ rất thiêng, bất giác trong lòng vừa kính vừa phục. Họ bàn không, nói giác, đấy đương nhiên không phải nằm trong phần việc của tôi. Nhưng kinh Dịch có nói: “Trẻ nhỏ cầu ta” (11). Cho nên, tôi không thể không theo lời xin của Y để sửa lại những chữ thiếu và mất, thêm vào những chỗ sót và thoát lạc. Trong khoảng tuần nhật, lời văn nghĩa lý của sách này rõ ràng trở lại như xưa, không kém gì ánh trăng thêm sáng. Y nhân đó xin tôi một bài tựa dùng để khắc vào đầu sách, nhằm hiển dương Phật giáo (3a1). Tôi không tiếc công, cho gọi đứa ở đến trước mặt, bảo lấy bút giấy, chuẩn bị viết lách, rồi thảo một thiên lời quê. Y nhân đó vái chào mà nhận. Cẩn tự. In lại vào ngày tốt tháng tư năm Lê Vĩnh Thạnh thứ 11 (1715). (3b1) Thác tích của thiền tông: Thích tử Như Trí Môn đồ: Sa di Tính Nhu Thiện nam tử Tính Phận Tính Xuyến Tính Thành Tính Trung Tính Từ Tính Huy Tính Hưng Tính Kiến Tính Minh Tính Bổn Tính Băng Tính Phụng Thiện nữ nhân: hiệu Diệu Tặng hiệu Diệu Đạo Tính Phụng
(4a1) THIỀN UYỂN TẬP ANH NGỮ LỤCQUYỂN THƯỢNG
1. THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (1)(759? - 826)
Chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du (2). Sư vốn người Quảng Châu, họ Trịnh, nhỏ đã mộ đạo, không màng gia sản, đến thọ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu (3). Tính tình trầm hậu, ít nói, im lặng mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách tổng quát. Cho nên, người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông*. Một hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi: “Tọa chủ lễ cái gì đó?” Sư đáp: “Lễ Phật”. Thiền khách chỉ tượng Phật hỏi: “Cái này là cái gì?” Sư không đáp được. Đêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh đến lạy thiền khách, thưa rằng: “Điều ngài hỏi khi nãy tôi chưa biết ý chỉ như thế nào?” Thiền khách hỏi: “Tọa chủ xuất gia đến nay trải được mấy hạ?” Sư thưa: “Mười hạ” Thiền khách hỏi: “Lại từng xuất gia chưa?” Sư trở thành hoang mang. Thiền khách bảo: “Nếu không hiểu điều đó, thì dù có trăm hạ cũng chẳng ích gì!” Rồi ban đêm Sư cùng đến tham vấn Mã Tổ (5). Đi đến Giang Tây (6), thì Tổ đã tịch (4b1), bèn đến yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (7). Bấy giờ có vị tăng hỏi: “Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?” Bách Trượng đáp: “Đất lòng nếu không, trời tuệ tự chiếu (8)” Nghe xong Sư tỉnh ngộ. Trở về Quảng Châu, trụ trì chùa Hòa An. Có người hỏi: “Thầy phải là thiền sư chăng?” Sư đáp: “Bần đạo không từng học thiền”. Chặp lâu, Sư gọi. Người đó đáp: “Dạ”. Sư chỉ cây soan. Người đó không trả lời. Thiền sư Ngưỡng Sơn (9), khi còn là Sa di. Có lần Sư gọi: “Tịch con, đem cái giường lại đây cho ta”. Ngưỡng Sơn đem giường đến. Sư bảo: “Trả lại chỗ cũ”. Ngưỡng Sơn vâng theo. Sư lại hỏi: “Tịch, bên này có cái gì?”. Đáp: “Không có vật”. Hỏi: “Còn bên kia?” Đáp: “Không có vật”. Sư lại hỏi: “Tịch con!”. Ngưỡng Sơn thưa: “Dạ”. Sư bảo: “Đi đi”. Tháng chín, mùa thu năm Canh Tý Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820), Sư đến trác tích chùa đấy (10). Ngoài việc cơm cháo, vui cái vui thiền, thường ngồi quay mặt vào vách, chưa từng nói năng, nhiều năm mà không ai biết. Chỉ có thầy Cảm Thành chùa đó (5a1) càng tôn kính, hầu hạ hai bên, thầm nấu huyền cơ, được hết yếu chỉ. Một hôm Sư không bệnh, tắm rửa, thay y phục, gọi Cảm Thành đến bảo: “Xưa, Tổ ta là Nam Nhạc Nhượng thiền sư (11), khi quy tịch, có dạy: “Tất cả các pháp Đều từ tâm sinh Tâm không chỗ sinh Pháp không chỗ trụ Nếu đạt tâm địa Chỗ làm không ngại Chẳng gặp thượng căn Cẩn thận chớ nói” (12). Dạy xong, Sư chắp tay mà mất. Cảm Thành làm lễ trà tì thu xá lợi (13), dựng tháp tại núi Tiên Du. Bấy giờ là nhằm ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ Đường Bảo Lịch thứ 2 (826), thọ sáu mươi tám tuổi (14). Đến năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) phàm có 512 năm (15). Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ Sư vậy (16). Pháp tự của thiền sư (Vô Ngôn) Thông ở Kiến Sơ.
THẾ HỆ THỨ NHẤT( MỘT NGƯỜI)
2. THIỀN SƯ CẢM THÀNH(?- 860)
Chùa Kiến Sơ, đời thứ 2, Người Tiên Du, họ Thị (1). Ban đầu Sư (5b1) xuất gia, tên đạo là Lập Đức, ở tại núi Tiên Du (2) của quận mình. Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp. Có hương hào họ Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn đổi nhà làm chùa mời Sư tới ở, bèn đến lấy tình mời Sư, Sư chẳng chịu nhận. Ban đêm mộng thấy thần nhân mách: “Nếu theo ý của Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được điều lành lớn”, bèn đáp lại lời mời.* Chẳng bao lâu thì thiền sư Vô Ngôn Thông đến. Sư biết Thông là người phi thường, sớm hôm phục dịch, chưa từng biếng nhác. Thông cảm động trước lòng thành của Sư, bèn đặt tên là Cảm Thành. Một hôm, Thông gọi Sư đến dạy: “Xưa, Đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn, mà xuất hiện ở đời (3), hóa duyên xong xuôi, ngài vào niết bàn. Chân tâm vi diệu như thế gọi là chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam muội pháp môn, chính ngài tự thân trao cho đệ tử là tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ (4), đời đời truyền nhau, đến đại sư Đạt Mạ từ Ấn độ sang, lặn lội hiểm nguy, để truyền pháp này cho đến Lục Tổ Tào Khê, đắc pháp với Ngũ Tổ. Khi Đạt Mạ (6a1) mới đến, vì người đời chưa biết tin, nên lấy sự truyền y để làm rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi, thì y bát là đầu mối của tranh chấp, phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa (5). Từ đó, lấy tâm truyền tâm, không nhận y bát. Bấy giờ Nam Nhạc Nhượng đầu tiên được tâm truyền, rồi Nhượng trao cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho Bách Trượng Hải (6). Ta nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó. Lâu nghe phương này, nhiều người hâm mộ Đại thừa, nên ta xuôi Nam để tìm thiện tri thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa, nghe ta nói kệ: Các phương đồn đãi Dối tự rao truyền Rằng thủy tổ ta Chính tự Tây Thiên Truyền Pháp nhãn tạng Gọi đấy là Thiền Một hoa năm cánh (7) Hạt giống liên miên Ngầm hợp mật ngữ Muôn vàn có duyên (8) Tâm tông đều gọi Thanh tịnh bản nhiên Tây Thiên đất này Đất này Tây Thiên Xưa nay nhật nguyệt Xưa nay sơn xuyên Đụng đâu cũng vướng (9) Phật tổ thành oan Sai một mảy may Đi mất trăm ngàn Ngươi khéo xem xét Chớ lừa cháu con Dẫu có hỏi ta Ta vốn Vô Ngôn (10) (6b1) Nghe xong lời đó, Sư liền lĩnh ngộ. Một lần có vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư đáp: “Khắp hết mọi nơi”. Lại hỏi: “Thế nào là tâm Phật?” Sư đáp : “Chẳng từng che dấu”. Lại thưa: “Người học không hiểu”. Sư bảo: “Đi quá xa rồi”. Về sau, Sư không bệnh mà mất. Bấy giờ là năm Canh Thìn Đường Hàm Thông thứ nhất (860).
THẾ HỆ THỨ HAI(MỘT NGƯỜI)3. THIỀN SƯ THIỆN HỘI(?- 901)
Chùa Định Thiền (1) làng Siêu Loại (2). Người Điển Lãnh (3). Lúc nhỏ xuất gia với sư Tiệm Nguyên chùa Đông Lâm (4) cùng làng, tự gọi là Tổ Phong. Sư rảo khắp cõi ngoài, cầu học Thiền chỉ. Sau gặp Cảm Thành chùa Kiến Sơ, bèn xin ở lại hầu hạ hơn mười năm, không chút vẻ mệt. Một hôm Sư vào thất hỏi: “Trong kinh (5) nói:” Đức Thích Ca Như Lai, nhân địa tu hành trải qua ba a tăng kỳ kiếp mới được thành Phật” (6). Nay Đại đức lại luôn luôn bảo: “Tức tâm tức Phật”. Tôi thật chưa hiểu, xin một phen khai thị cho”. (7a1) Thành hỏi: “Trong kinh đó là người nào nói?” Sư thưa: “Há chẳng phải Phật nói sao?”. (7a1) Thành hỏi: “Nếu là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thù bảo: “Ta ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ cho ai”. (7) Vả lại cổ đức nói: “Người tìm văn lấyng thì thêm vướng mắt. Người khổ hạnh cầu Phật thì đều lầm mê. Lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo. Chấp tâm tức Phật là ma”. (8) Sư hỏi: “Như vậy tâm nầy là cái gì? Cái chẳng phải Phật là gì?”. Sư tiếp: “Như vậy tâm nầy là Phật gì?” Thành đáp: “Xưa có người ở Mã Tổ hỏi: “Tâm tức là Phật, cái nào là Phật?” Mã Tổ dạy: “Ông nghi cái nào không phải là Phật hãy chỉ ra xem?”. Người ấy không trả lời. Tổ dạy: “Hiểu được khắp nơi có, không ngộ mãi xa sai” (9). Chỉ một câu thoại đầu nầy, ngươi lại hiểu chưa?”. Nghe lời đó xong, Sư thưa: “Con đã hiểu rồi”. Thành hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. Sư thưa: “Khắp cả mọi nơi, không chỗ nào là chẳng phải tâm Phật”. Sư liền sụp xuống lạy. Thành bảo: “Cần (7b1) phải làm thế a?” Nhân đó đặt tên là Thiện Hội. Về sau, Sư mất tại chùa mình, tức năm Canh Thân Đường Quang Hóa thứ 3 (900).
THẾ HỆ THỨ BA(MỘT NGƯỜI)
4. THIỀN SƯ VÂN PHONG(? - 957)[1]
Chùa Khai Quốc (1), kinh đô Thăng Long, người Từ Liêm, quận Vĩnh Khương (2), họ Nguyễn. Khi mẹ mang thai, bà ăn chay, tụng kinh, lúc sinh có ánh sáng lạ chiếu khắp nhà. Cha mẹ thấy điềm lạ, nên hứa cho xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu Thiện Hội ở Siêu Loại làm đệ tử nhập thất (3), lặng nắm huyền chỉ, thiền học ngày thêm. Hội có lần bảo Sư: “Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay”. Sư hỏi: “Khi sống chết đến, làm sao tránh khỏi?” Hội đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh”. Sư hỏi: “Thế nào là chỗ không sống chết?”. Hội đáp: “Ngay trong sống chết biết nắm lấy nó mới được”. Sư hỏi: “Làm sao mà biết?”. Hội đáp: “Ngươi hãy đi, chiều muộn sẽ đến”. Sư bèn (8a1) quả đến, như đã hẹn, Hội bảo: “Đợi đến sáng mai mọi người sẽ chứng minh cho ngươi”. Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp lạy. Hội hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?” Sư thưa: “Con đã lĩnh hội”. Hội hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. Sư đưa nắm tay lên, thưa: “Bất tiếu là cái này đây”. Hội liền bảo thôi. Về sau, Sư mất vào năm Bính Thìn Hậu Chu Hiển Đức thứ 3 (950).
THẾ HỆ THỨ TƯ(HAI NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT)5. ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT [2](930 - 1011)
Chùa Phật Đà, hương Cát Lợi, Thường Lạc (1). Người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Tướng mạo khôi ngô, chí chuộng phóng khoáng, nhỏ theo học Nho, lớn lên quy y Phật. Sư cùng bạn học Trụ Trì đến Vân Phong chùa Khai Quốc, thọ giới Cụ túc (2). Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền. Năm bốn mươi tuổi, tiếng vang tới triều, vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối đáp hiệp ý vua, bèn phong làm Tăng thống (3). Năm Thái Bình thứ hai (971), vua ban hiệu Khuông Việt đại sư (4). Hoàng đế Lê Đại Hành càng kính trọng Sư hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào. Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh (5) ở quận Bình Lỗ, (6) thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở. Đêm tới nằm mộng thấy một vị thần, mình mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương vàng, tay phải đỡ bảo tháp, hơn mười người theo hầu, tướng mạo dễ sợ, đến nói rằng: “Ta là Tỳ Sa Môn thiên vương (7), những người theo ta là Dạ xoa (7). Thiên đế (7) có sắc sai ta đến nước này để giữẵ gìn biên giới, khiến cho Phật pháp thịnh hành. Ta có duyên với ông, nên đến đây báo cho biết”. Sư kinh ngạc thức dậy, nghe trong núi có tiếng kêu la ầm ĩ, lòng rất lấy làm lạ. Đến sáng Sư vào núi, thấy một cây to, cao khoảng mười trượng, cành lá sum sê, bên trên lại có mây lành bao phủ, nhân đó sai thợ đến chặt. Đem về, khắc tượng như đã thấy trong mộng, để thờ. Năm Thiên Phúc thứ 1 (980), binh Tống đến cướp. Vua vốn biết việc đó, liền sai Sư đến đền cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh (8), lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn (9a1) tan vỡ (9). Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), người Tống là Nguyễn Giác sang sứ. Bấy giờ Pháp sư Đỗ Thuận cũng nổi danh. Vua sai Pháp sư đổi áo làm giang lệnh, đ |