NGHI CÚNG DƯỜNG
VIỄN
KỴ
CAO TỔ SƯ NGUYÊN THIỀU
Khai sơn: TỔ ĐÌNH SẮC TỨ THẬP THÁP DI ĐÀ
(Bình Định)
TỔ ĐÌNH SẮC TỨ QUỐC ÂN (Huế)
( 18, 19 - 10 ÂM LỊCH )
- Tiết thứ lâm diên:
- Chuông
trống Bát nhã
- Cử nhạc
khai đàn
- Chủ lễ lâm
diên
- Cử nhạc
tham lễ…
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
– Xướng:
Môn đồ pháp
phái,
Mời đến
trước đây,
Tất cả đều
quì,
Đốt hương
mặc niệm …
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
– Vịnh khai diên:
Nhớ lại ngày
nào cũng độ này
Bốn trăm năm
trước tại nơi đây,
Hoa đàm rơi
rụng trong sương tuyết
Đạo thọ điêu
tàn dưới gió mây.
Thế rồi:
Tôn giả mang
bình trông đất Bắc (?)
Tổ sư quảy
dép ngắm trời Tây,
Tôn phong,
Tổ ấn nghìn năm vững
Lịch đại
cháu con vẫn nhớ Thầy.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Dâng hương lên
án cúng dường, cúi lễ Tổ sư
Tất cả lại quì,
chí thành làm lễ.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Cử tán hương.
Hương xông đảnh
báu, giới định tuệ hương
Giải thoát tri
kiến quí khôn lường,
Ngào ngạt khắp
muôn phương
Thanh tịnh tâm
hương,
Đệ tử nguyện
cúng dường.
Nam Mô Hương Cúng Dường
Bồ Tát.
(3 lần)
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - QUỲ,
tuyên dương công đức:
Kính bạch giác linh đại sĩ Tổ sư !
Chúng con cung kính nghe rằng:
Trước đây
hơn bốn trăm năm,
Đất Bắc, một
đàm hoa đã nở.
Và, sau đó
hơn ba thế kỷ,
Trời Nam,
một đạo thọ lại sanh.
Vui mừng
thay một mộng đẹp điềm lành,
May mắn bấy
một tình thương ân huệ!
Nhớ Tổ sư xưa:
(vào
vần)
Đạo dòng Lâm
tế,
Pháp phổ
Thiên đồng,
Tú khí núi
sông
Tinh hoa
Phật pháp.
Người, chấn
tích qua miền Chân Lạp,
Khai sơn
Thập Tháp cạnh bắc Đồ Bàn.
Và, Phù bôi
vào cữa Thuận An,
Lập thạch
Quốc Ân phía nam thành Huế.
Rồi từ đó:
Bồ đề bén
rễ, Bát nhã trỗ hoa,
Tòng lâm
đánh trống thổi loa
Giảng kinh
thuyết pháp,
Thôn dã xây
chùa dựng tháp,
Phụng Phật
dưỡng Tăng.
Và như thế, không bao lâu…trong cữa Người có nhiều hàng:
Biển pháp:
côn bằng,
Rừng thiền:
sư tượng.
Và dưới sân, Tổ không thiếu bậc:
Cấp Cô khanh
tướng,
Tiêu Diễn đế
vương.
Một hiện tượng tự nhiên cơ hồ đã bộc lộ:
Phật pháp,
Vương chương,
Đồng điều
cọng quán.
Do đó:
Chùa Tổ: chữ
vàng đề bảng,
Quốc sư: gấm
tía ban y.
Trước điện:
tôn trí Long vì,
Dưới tọa:
cung duy Thánh thọ.
Phước nhuần
cây cỏ, mưa thuận gió hòa
Đức trải sơn
hà, non xanh nước biếc,
An dân cung
khuyết, hộ quốc lâm tuyền
Rạng rỡ nhà
Thiền, vẻ vang đất nước.
Kiếp kiếp
người sau kẻ trước,
Đời đời
hưởng phước, thừa ân.
Nên, khí tượng thường xuân, phong quang bất lão!
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Tỏ bày cảm nghĩ:
Kính bạch giác linh Tổ sư Hòa thượng!
Chúng con tự nghĩ rằng:
Công ơn
Thầy, môn sinh phải báo,
Sự nghiệp
Tổ, con cháu được thừa
Thoại đầu,
công án ngày xưa,
Bãng hát,
bóng vang thuở nọ.
Bốn câu kệ
di ngôn còn đó, (a)
Sáu vần thơ
minh ký còn đây. (b)
Đá vàng ghi
tạc công Thầy,
Son sắc lưu
truyền đức Tổ.
Tình quê
dưới đài bộc lộ,
Ý Tổ trên
tọa chứng minh.
- TẢ BẠCH HẠ THỦ XÍCH
- Thỉnh tổ lâm diên:
Kính bạch giác linh Cao Tăng đại lão Tổ sư !
Hôm nay:
Thiết lễ tôn
vinh, kiến đàn chúc tụng,
Trước đài
hoa, xuất gia bốn chúng,
Dưới chiếu
cỏ, tại tục mười phương
Cung kính
tác bạch cúng dường,
Chí thành
chuyên thân bái thỉnh.
Hương hoa
thỉnh, hương hoa phụng thỉnh.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - THƯỢNG
HƯƠNG - SƠ THỈNH
(Thượng sĩ Cao Tăng):
- Nam mô
nhứt tâm phụng thỉnh!
Xuất trần
thượng sĩ, phi tích Cao Tăng,
Thiên đồng pháp
phổ truyền đăng,
Lâm tế Tổ đình
tục diệm.
Hôm nay pháp tịch phụng vì: Bắc Nam hoằng pháp, sứ giả Như Lai,
nối dòng pháp Lâm tế đời thứ 33, Sắc tứ Thập tháp Di Đà đường thượng, khai sơn
Tổ sư, húy thượng Nguyên hạ Thiều, Cao Tăng lão tổ Hòa thượng giác
linh, liên đài tọa hạ.
- Duy
nguyện:
Hoa đài thanh
tịnh, pháp tịch trang nghiêm,
Bốn chúng cung
chiêm, một lòng bái thỉnh.
Hương hoa
thỉnh, hương hoa phụng thỉnh.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - THƯỢNG
HƯƠNG - TÁI THỈNH (Thần
tăng, phạm tướng:)
- Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh!
Thần tăng phạm
tướng, Thánh chủng phước điền,
Ra vào cữa
Thánh sân Hiền, (1)
Xuôi ngược sông
mê bể khổ.
Hôm nay pháp tịch phụng vì: Nghĩa Huyền viễn
duệ, Phước Huệ cao ông, nối dòng pháp Lâm tế đời thứ 33, Sắc tứ Quốc Ân đường
thượng khai sơn Tổ sư, húy thượng Siêu hạ Bạch, Trượng phu đại sĩ,
Hòa thượng giác linh, liên đài tọa hạ.
- Duy nguyện:
Đài vàng hoa
rải,
Đảnh báu hương
bay,
Thành kính tỏ
bày,
Cảm thông chứng
giám.
Hương hoa
thỉnh hương hoa phụng thỉnh
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - THƯỢNG
HƯƠNG - TAM THỈNH (Viên
đảnh phương bào:)
- Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh!
Thủy thanh thu
nguyệt, viên đảnh phương bào,
Niết bàn ngày
trước mặc tiêu dao,
Tu viện hôm nay
xin phó hội.
Giờ này pháp tịch phụng vì: Nguyên Thiều phương trượng, Hạnh Đoan
thiền sư, Thọ Tôn Lão tổ, Hòa thượng giác linh, liên đài tọa hạ.
- Duy Nguyện:
Thiền đường
giáng tích, linh tọa thùy quang,
Thỉnh giáng hoa
đàn, chứng minh công đức.
Hương hoa
thỉnh, hương hoa phụng thỉnh
Nam mô Đăng Bảo
Tọa Bồ tát. (3 lần)
- TẢ BẠCH HẠ PHỦ XÍCH
- Xướng:
Sơ
hiến
trà - lễ ba lạy - cùng quì.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - VỊNH 1:
Hồng luân tây trụy.
Từ thuở vừng
hồng gát mái tây,
Tưởng rằng bóng
tối ngập nơi nầy,
Dư quang sưởi
ấm đêm đông lạnh
Mừng thấy vừng
hồng lại đến đây!
- KỆ TRÀ:
Đến đây vừng
ánh sáng,
Sưởi ấm khắp
nhân gian
Vừng hồng chưa
tằng lạnh,
Vẫn còn phóng
hào quang.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Xướng Sớ:
Nguy nguy tăng
tướng,
Hạo hạo uy
quang,
Thiên thượng
nhơn gian
Tùy duyên ứng
cúng.
Nay có pháp
chúng,
Thiết lễ tôn
vinh,
Tỏ tấc đạo tình
Sớ văn bái
bạch.
Duy nguyện Tôn
sư cảm cách,
Từ bi tác đại
chứng minh.
- TUYÊN ĐỌC VĂN SỚ:
Kính bạch giác linh tôn giả Cao Tăng!
Chúng con cung kính nghe rằng:
Đức Tổ mở mang,
Muôn thuở vàng son Tổ ấn
Công ông bồi đắp,
Nghìn thu trong sáng Tôn
phong
Canh cánh cầu mong,
Đinh ninh hoài bão.
Sớ rằng:
Nay có trú xứ trụ trì Thích …, và Giáo phẩm chư phương, Đại đức
Tăng Ni, Thiện nam tín nữ, tập hợp tại Tu viện Nguyên Thiều, ở xã Phước Hiệp,
huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Giờ này, chí
thành quì trước Tổ đình,
Kính cẩn dâng
lên Sư tọa.
Bồ đề thánh
quả,
Bát nhã giác
hoa,
Với Triệu Châu
trà,
Cùng y bồ soạn.
Đôi ngọn đèn
thiền sáng lạn,
Một lò hương
giới ngạt ngào.
Cúng dường
ngôi: đức cả công cao,
Đền đáp nghĩa:
dắt dìu khai hóa,
Ngưỡng mong Tổ
sư bất xả,
Dũ ánh từ nhãn
chiếu lâm.
Kính bạch giác linh Tổ sư!
Chúng con tự nghĩ rằng:
Bơ vơ ba cõi thăng trầm,
Vất vả sáu đường thiệp
lạp, (2)
Sanh thời mạc pháp,
Sống kiếp hậu sanh
Đạo nghiệp khó thành,
Chướng duyên dễ ngại.
Nhưng cũng rất may, gặp thuở Tổ sư:
Thuyền xuôi Nam hải,
Cứu vớt quần sinh,
Sóng tạt Qui Ninh
Mở mang đạo giáo.
Và sau khi trác tích, Tổ sư đã:
Khai đàn dạy dân làm đạo,
Mở nước giúp chúa xây
thành,
Xanh tươi Đạo thọ mười
cành (3)
Thơm ngát Huệ hoa trăm
cánh (4)
Thập Tháp, Quốc Ân hai
cảnh,
Đạo sư, giáo thọ, một
thầy.
Nhưng tiếc thay! Chẳng bao lâu Tổ sư đã:
Mượn đường cánh hạc chân
mây,
Treo bình Đông độ.
Và, giả bến sông mê bể
khổ,
Quảy dép Tây thiên!
Ứng hóa thiêng liêng,
Tùy duyên diệu dụng.
Nay thời, pháp diên hiến
cúng,
Nghi trượng xưng dương,
Văn sớ một chương,
Tỏ bày tấc dạ,
Ngưỡng can sư tọa,
Phủ tứ quang minh.
Nam mô Sắc tứ Thập Tháp, Quốc Ân khai sơn Tổ sư, nối dòng pháp
Lâm tế đời thứ 33, Siêu Bạch, Hạnh Đoan - Nguyên Thiều phương trượng, Tôn ông sứ
giả, Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh.
- Phục nguyện:
Trên ao cửu
liên, sáng soi đưa xuống,
Trong nhà Tam
bảo, hoa rải rước về.
Độ sanh còn nhớ
lời thề,
Tế chúng chưa
quên ý nguyện.
Thần thông hiển
hiện,
Ơn đức cao
siêu.
Cẩn sớ!
Nay ngày...
tháng... năm..., PL...
Nhĩ tôn chúng
đẳng, Hòa nam thượng sớ.
- TẢ BẠCH HẠ PHỦ XÍCH
- Xướng:
Á
hiến
trà - lễ ba lạy - cùng quì.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - VỊNH 2:
Tổ sư diện mục
Sư ông diện mục
vẫn huy hoàng,
Mưa gió thời
gian khó phũ phàng,
Con cháu nhiều
đời còn diễm phúc,
Hôm nay thành
kính lễ Tôn nhan.
- KỆ TRÀ:
Tôn nhan ngôi
Lão Tổ,
Năm tháng chẳng
phôi pha
Cháu con còn
may mắn,
Lễ mừng mặt ông
cha.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Phụng thực!
- Tụng:
Cúng
dường
Nam mô tát phạ…
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Chung hiến trà - lễ ba
lạy
– cùng quì.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH VỊNH 3:
Cúng dường bồ soạn.
Sắc hương mỹ vị
trai bồ soạn,
Thành kính dâng
lên trước bảo đài,
Một bát hòa la
đầy đạo vị,
Cúng dường Hòa
thượng - Sứ Như lai.
- KỆ TRÀ:
Như Lai - Người
- Sứ giả,
Ứng cúng khắp
muôn phương,
Một bát trai bồ
soạn,
Xin thành kính
cúng dường
Nam mô Thiền
Duyệt Tạng Bồ tát. (3 lần)
- Tụng:
Ma Ha Bát Nhã….
- HỒI HƯỚNG - CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Xướng:
Vừa rồi, bao
nhiêu công đức,
Bấy nhiêu hương
hoa,
Thành kính
thiết tha
Nguyện xin cúng
dưỡng
Nguyên Thiều
phương trượng,
Linh giác tọa
tiền
Duy nguyện ai
liên,
Thùy từ nạp
thọ!
- Phục nguyện:
Lợi sanh nhơn
thiên đây đó,
Hoằng pháp sanh
tử ra vào
Nghìn thu đất
Bắc thanh cao,
Thiên đồng ghi
tên Pháp phả.
Muôn thuở ghi
ơn sứ giả,
Thập Tháp chép
sử Tổ đình
Pháp tánh linh
minh,
Chơn tâm trạm
tịch.
Bình bát chờ
xem linh tích,
Ca sa mong gặp
hoá thân.
Tấc dạ ân cần,
Một lòng thành
khẩn.
Cầu cho:
Yên Tử niêm hoa tái chấn,
Trúc Lâm kích tiết trùng
quang.
Xin phò hộ kẻ vô doan (5)
(duyên).
Mong linh thiêng - Người
hữu cảm.
- (Đồng
hòa): Nam mô A Di Đà Phật.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Tán đưa:
(Nhạc trạo)
Tu viện hôm nay,
Cờ phang bay phất phưởng,
Tăng tín chư phương,
Vân tập nơi phương trượng,
Thiết lễ cúng dường
Tôn vinh ngôi Sư trưởng,
Cổ nhạc khanh tương,
Tán tụng hàng Long tượng.
Đạo pháp hoằng dương,
Nam bắc đều qui ngưỡng.
Đạo đức tình thương,
Để lại bao âm hưởng,
Đế, chúa, hầu, vương
Trên dưới đều tin tưởng.
Vàng đá văn chương,
Ghi tạc ơn vô lượng
Pháp sự đạo trường,
Cầu nước nhà thịnh vượng.
Chuông trống hoa hương,
Tất cả đều hồi hướng
Tình đạo vấn vương
Xin tiễn chân Hòa thượng,
Cánh hạc cát tường,
Đưa Tổ về an dưỡng. (lặp
lại )
Nam mô Đăng Vân Lộ Bồ tát. (3
lần)
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Kết diên:
Đạo tràng viên
mãn,
Pháp sự châu
long,
Pháp chúng một
lòng,
Lễ thành ba
lạy.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Cử chuông trống Bát nhã.
Lễ thành, xin mời quí vị thứ tự lui
ra.
* GHI CHÚ:
1. Cữa thánh sân hiền: Tam hiền thập thánh.
2. Thiệp lạp: Bạt thiệp, Lạp tiễn: Qua lại, lặn
lội…
3. Đạo thọ mười cành: Mười vị Tổ sư, truyền xuống
đến chữ Như.
4. Huệ hoa trăm cánh: Quốc sư Phước Huệ giảng dạy
Phật pháp cho chư Tăng qua nhiều thế hệ.
5. Doan: xem Việt Nam tự điển trang: 344.
a. Bốn câu
kệ:
寂寂鏡無影
明明珠不容
堂堂物非物
寥寥空物空
Tịch tịch cảnh vô ảnh
Minh minh châu bất dung
Đường đường vật phi vật,
Liêu liêu không vật không.
Đại ý bài này Ngài muốn khai thị cho chúng biết:
thể Pháp thân thanh tịnh sáng suốt, như bức gương sáng sạch không bụi, như ngọc
minh châu trong sáng bóng ngời. Tuy hiện tiền sự sự vật vật sai khác, nhưng đều
là thể Pháp thân biểu hiện. Thể Pháp thân thường vắng lặng, mà không phải là
không, tức là lý Chơn không Diệu hữu.
b.
Sáu vần thơ:
優優般若堂堂梵室
水月優遊戒持戰栗
湛寂孤堅卓立可必
觀身本空弘法利物
遍覆慈雲普炤慧日
瞻之嚴之泰山屹屹
Ưu ưu bát nhã, đường đường phạm thất,
Thủy nguyệt ưu du, giới trì chiến lật
Trạm tịch cô kiện, trác lập khả tất,
Quán thân bổn không, hoằng pháp lợi vật
Biến phú Từ vân, phổ chiếu tuệ nhựt
Chiêm chi nghiêm chi, thái sơn ngật ngật.
Kệ thơ nầy sao lại ở VIỆT NAM PHẬT
GIÁO SỬ LƯỢC, soạn giả Thượng tọa Thích Mật Thể, do Phật Học Viện Trung Phần ấn
hành. Tựa do Hòa thượng Phước Huệ Tăng cang Sắc tứ Thập Tháp đề tháng ba, PL:
2506. Điều Ngự Tử Mật Thể viết tại Trúc Lâm - Huế, giữa mùa xuân năm Quí tỵ, PL:
2506 - 1943.
Quảng Ngãi,
ngày rằm tháng tám năm Đinh mão,
PL: 2531 -
1987
Huyền Quang
cung soạn
|