|
MỤC LỤC
NHƠN DUYÊN THÀNH TỰU
1. TỔ
SƯ NGUYÊN THIỀU
(18 - 19/ 10 âm lịch)
Khai sơn Tổ đình Sắc tứ
Thập Tháp Di-đà (Bình Định)
Tổ
đình Sắc tứ Quốc Ân (Huế)
2. TỔ SƯ MINH HẢI
(07/ 11 âm lịch)
Khai sơn Tổ đình
Sắc
tứ Chúc Thánh (Hội An)
3. HT.
THÍCH
GIÁC NHIÊN
(15/ 01 âm lịch)
Viện
trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN
4. HT.
THÍCH ĐÔN
HẬU
(Nghi báo tiến)
5. HT.
THÍCH HUYỀN Ý
(27 tháng giêng năm Mậu Thìn)
Khai sơn chùa Liên Tôn
(Phù Cát - Bình Định)
6. HT. THÍCH PHÚC HỘ
(11/ 01 âm lịch)
Viện chủ Tổ đình Sắc tứ Từ Quang
(Đá
Trắng - Phú Yên)
BÀI MINH THÁP HT PHÚC HỘ
VÀI BÀI VỊNH KHAI DIÊN KHÁC
7. HT. THÍCH CHÍ TÂM
(30 tháng 9 năm Bính Tuất)
Trụ trì
chùa Vĩnh Khánh
(An
Nhơn - Bình Định)
8. HT.
THÍCH
HOẰNG
THÔNG
(07 tháng 12 năm Đinh Mão)
Khai
sơn Sắc tứ Bạch Sa Tự
(Quy
Nhơn - Bình Định)
9. HT.
THÍCH
HÀNH
TRỤ
(29 tháng 10 âm lịch)
10.
HT.
THÍCH
BẢO HUỆ
Điếu
văn Tuyên đọc trong lễ Chung thất
Phó Viện
trưởng
Viện
Phật học Cao cấp Huệ Nghiêm
11.
HT.
THÍCH TÂM HOÀN
(06 tháng 3 âm lịch)
Trụ trì
Tổ đình Sắc tứ Long Khánh
(Quy
Nhơn - Bình Định)
12.
HT.
THÍCH GIÁC TÁNH
(04 tháng giêng âm lịch)
Trụ trì
Tổ đình Thiên Đức
(Tuy
Phước - Bình Định)
ĐIẾU
VĂN
13.
HT.
THÍCH KẾ CHÂU
(05 tháng chạp âm lịch)
Trụ trì
Tổ đình Sắc tứ Thập Tháp
(An
Nhơn - Bình Định)
ĐIẾU
VĂN
Của Chư
tôn giáo phẩm các dòng pháp Nguyên Thiều đọc trong lễ Di kim quan Cố Đại lão Hòa
thượng vào Bảo tháp
(09 tháng chạp âm lịch)
14.
HT.
THÍCH BẢO AN
Trụ trì
Tổ đình Phổ Bảo
(Tuy
Phước - Bình Định)
(Nghi
dự tiến)
15.
HT.
THÍCH BÌNH CHÁNH
(07 tháng ba âm lịch)
Trụ trì
Tổ đình Sơn Long
(Qui
Nhơn - Bình Định)
16.
HT.
THÍCH ĐỒNG THIỆN
(03 tháng tám âm lịch)
Trụ trì
Tu viện Nguyên Thiều
Kế thừa
Đại Tổ sư Nguyên Thiều
(1995 -
2001)
ĐIẾU
VĂN
Của Đại
lão Hòa thượng Huyền Quang
(do TT
Thích Quảng Bửu cung đôc trong lễ Di quan Nhập tháp
Hòa
thượng Đồng Thiện)
17.
TT.
THÍCH HUYỀN ẤN
(26 tháng 10 âm lịch)
Trụ trì
chùa Bích Liên
Viên
tịch tại chùa Minh Tịnh - Qui Nhơn
ĐIẾU TỪ
18.
PHÁP SƯ
HUYỀN QUANG
(Nghi dự tiến)
|
ĐIẾU
TỪ
HÒA THƯỢNG VIỆN TRƯỞNG VIỆN HÓA ĐẠO
Cố
Đại lão Hòa thượng THÍCH GIÁC NHIÊN
Cung tuyên trong lễ nhập tháp đức Đệ nhị Tăng
thống
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
(15/01 âl - 11/02/1979 - tại Tổ đình Thuyền Tôn -
Huế)
Nam mô Thiên Thai sơn, Liễu Quán pháp phái Thuyền Tôn tổ đình,
Lâm tế nguyên phái, tứ thập nhị thế, sung Việt Nam Phật giáo thống nhất Giáo
hội, Tăng Thống đại bảo vị, thượng Giác hạ Nhiên Tôn giả, toạ tiền tác đại
chứng minh.
Kính bạch đức Tăng
Thống!
Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất ra đời với sứ mạng thừa kế
sự nghiệp truyền trì đạo giáo cao cả của đức Bổn Sư Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật,
mà liệt Tổ truyền giáo đã dày công xây dựng trên mảnh đất Việt nam thân yêu này,
với một cơ đồ vững chắc tốt đẹp hơn hai nghìn năm lịch sử. Chưa có một Đạo giáo,
học thuyết nào trong quá khứ đã có một ảnh hưởng, một thọ mạng, một địa vị hơn
thế được, đối với xứ sở này. Thật vậy, lịch sử truyền giáo của Phật giáo Việt
nam là một lịch sử gắn liền với lịch sử giữ nước, dựng nước của dân tộc Việt
nam. Điều đó không ai phủ nhận được và cũng không có tổ chức nào trong quá khứ
có trang sử vẻ vang trọn vẹn như vậy, đối với xứ sở. Giáo hội Phật giáo Việt
nam thống nhất là hậu thân, là miêu duệ xứng đáng của Giáo hội và liệt Tổ tiền
nhiệm của Phật giáo cho dân tộc Việt nam.
Kính
bạch đức Tăng Thống!
Hôm nay, giờ này, trước Linh đài, trước bảo tháp, trước hình ảnh
uy nghiêm đức Tăng Thống và trước cộng đồng Tăng tín đồ, Giáo hội chúng con đê
đầu đảnh lễ liệt Tổ quá khứ để xin gợi lại vài nét vàng son của Phật giáo Việt
nam. Đồng thời chí thành khể thủ trước đức Tăng Thống, xin giác linh Ngài cho
phép chúng con bày tỏ nỗi lòng tôn thờ, kính yêu chí thành tha thiết của chúng
con đối với đức hạnh cao cả và sự nghiệp lãnh đạo sáng suốt trong nhiệm vụ
thiêng liêng của đức Tăng Thống đối với Giáo hội, với toàn thể Tăng tín đồ Phật
giáo Việt nam.
Kính bạch đức Tăng
Thống!
Đức Tăng Thống ra đời trong thế kỷ trước, một thế kỷ suy tàn,
biến động và mất nước. Và Ngài đã vào đạo trong thế kỷ này, trong một tôn giáo
tuy lớn lao nhưng cũng cùng số phận tủi nhục hẩm hiu chung của dân tộc. Hoàn
cảnh lúc bấy giờ khó mà có thể giúp được gì cho một công dân, một tu sĩ như đức
Tăng Thống để có cơ hội tiến lên xây dựng sự nghiệp cho bản thân, cho dân tộc và
cho đạo pháp. Nhưng đức Tăng Thống đã không tầm thường. Với ý chí và khả năng
riêng, Ngài đã cùng với các Thiện hữu tri thức khác, được đào tạo và trưởng
thành một cách đáng kính phục trong các Thiền lâm tôn nghiêm cổ kính của Giáo
hội. Đặc biệt với giới đức, Ngài được đào tạo đến nỗi thân, miệng, ý hoàn toàn
đồng hóa với giới pháp. Chính giới đức này, đã và mãi mãi là hào quang và cam lồ
soi sáng và làm tươi mát cho Phật giáo, cả thế giới Phật giáo đang sống. Thật
vậy, giới hạnh của đức Tăng Thống đã giữ Đạo, dựng Đạo bằng cách tuân giữ huấn
thị sau đây của Đức Phật, tuân giữ suốt một đời bằng một thế kỷ của mình: “Tỳ ni
tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”. Đức Tăng Thống đã đóng góp lớn lao cho Phật giáo,
cho thế giới Phật giáo đang sống, chính là giới pháp hiện thực ấy.
Đối với đời, đức Tăng Thống cũng đã giúp cho xứ sở, cho mọi người
trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nhất là thời kỳ toạ vị, đức Tăng Thống đã
lãnh đạo Giáo hội qua hai thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước, đi đúng đường
lối và truyền thống của lịch sử Phật giáo Việt nam. Đức Tăng Thống đã ý thức và
hành động phản ánh qua các thông điệp Phật đản sau ngày đất nước hoà bình thống
nhất. Đức Tăng Thống đã kêu gọi Tăng Ni và Phật tử đoàn kết để xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Lời kêu gọi ấy, tuy đơn giản, nhưng đã ảnh hưởng sâu xa và lâu dài
đối với quảng đại quần chúng trong công cuộc kiến thiết xứ sở. Đó là một đóng
góp nữa của đức Tăng Thống cho đời, qua tư thế và trách nhiệm tôn giáo của đức
Tăng Thống.
Với ngần ấy tinh thần, ngần ấy công đức mà chúng con vừa đê đầu
trình lên còn lắm thiếu sót, lắm vụng về nhưng cũng đã nói lên phần nào lòng
ngưỡng mộ thiết tha của chúng con đối với đức Tăng Thống. Dĩ nhiên điều đó đã
xúc phạm đến cá tính của đức Tăng Thống, nhưng chắc chắn đức Tăng Thống sẽ tha
thứ cho chúng con, như Ngài đã tha thứ từ lâu như vậy.
Kính bạch đức Tăng
Thống!
Sau hơn một thế kỷ trác tích nơi cõi đời đầy khó khăn đau khổ và
bất trắc, hôm nay đức Tăng Thống đã ra đi theo thệ nguyện: “Khứ lai tự tại”.
Chúng con và tất cả tứ chúng của Giáo hội không khỏi đau buồn khi thấy ca sa đức
Tăng Thống để lại đã in bóng trăng mờ. Tích trượng đức Tăng Thống để lại đã thấm
màu sương lạnh! Từ nay, ngọn đèn Thiền thất chong suốt canh dài, nhưng pháp
tướng cao cả oai nghi, nằm ngồi đi lại, sau giờ phóng tham thì còn đâu nữa. Từ
nay, ánh trăng khuya lồng bóng kinh song lạnh lẽo thì vẫn còn đó, nhưng còn đâu,
người hành giả thường trầm tư mặc tưởng với công án và thoại đầu vi diệu của
thiền tôn! Từ nay tìm đâu ra dáng dấp siêu trần của Người truyền giáo cao cả
trên bước đường hoằng pháp độ sanh đây đó của vị Đạo sư khả kính! Từ nay, những
đứa con thơ dại đang ăn nhằm trái đắng, uống lỡ thuốc cay trong lúc Lão phụ đang
đi về một phương trời xa xôi đâu rồi! Thật không có gì rủi ro đau buồn và bất
hạnh hơn cho đàn con đó. Chúng con chỉ mong đức Tăng Thống, y theo đại nguyện
hồi nhập Ta bà, hãy thương chúng con, hãy quay lại nhìn chúng con.
Giờ này, đức Tăng Thống không còn nữa. Giáo hội mất đi một vị Đạo
sư tối tôn chí kính. Tứ chúng mất đi một vị cha lành phước trí vẹn toàn. Tổ đình
Thuyền Tôn mất đi một vị cao túc truyền đăng xứng đáng nhất của Liễu Quán Tổ sư.
Thật vậy, không ai là không xúc động và ngậm ngùi trước cảnh: “ Sơn tồi, hà ẩm”
của nhân thế thường tình. Ôi! Bao nhiêu mất mát, bao nhiêu đớn đau thiệt thòi!
Nhưng chúng con biết làm gì hơn để giữ mãi cho Giáo hội, cho chúng con một mảnh
trăng tròn cuối tháng, một mùa xuân sau chín chục ngày! Chúng con làm sao giữ
được một giọt nước cam lồ, một đoá hoa Ưu đàm yêu quý còn mãi mãi với chúng con.
Ôi! Trăng mờ, xuân mãn
Nước chảy, hoa tàn.
Luật biến thiên bất tận muôn đời không riêng ai cả. Chúng con chỉ
còn lại trong lòng một niềm đau buồn vô hạn sau ngày đức Tăng Thống ra đi, không
hẹn ngày trở về! Tuy nhiên, chúng con nghĩ rằng: “Chư Phật ra đời vì hạnh nguyện
độ sinh, khi nhơn duyên đã mãn, chư Phật đã thị hiện Niết bàn. Đức Tăng Thống đã
đến đây và ra đi cũng cùng hạnh nguyện của một vị Bồ tát”. Chúng con đã và sẽ
lấy đó làm lẽ sống cho Giáo hội, cho chúng con. Chúng con nhất tâm đoàn kết để
giữ gìn đường lối chỉ đạo, nhất là các lời giáo huấn cuối cùng của đức Tăng
Thống để kế tục sự nghiệp giữ Đạo, dựng Đạo, giữ nước, dựng nước, để lịch sử
Việt nam trong sáng muôn đời. Và những thệ nguyện chân thành thiết tha ấy mới
mong đền đáp được phần nào ân pháp nhũ vô biên của đức Tăng Thống, đã giáo dưỡng
cho chúng con trong tinh thần đạo giáo cao quý của đức Bổn Sư Từ Phụ Thích Ca
Mâu Ni.
Chúng con nguyện:(Điệp
xướng và đồng thanh)
Nhất tâm lãnh thọ,
Y giáo phụng hành.
Và trong giờ phút trang nghiêm cuối cùng này, chúng con đồng lắng
lòng bùi ngùi đưa linh giác đức Tăng Thống nhẹ nhàng lên vân lộ xa xôi, đi vào
chốn bất sanh bất diệt của Niết bàn, và đưa nhục thân đức Tăng Thống vào bảo
tháp vô tung, nơi an nghỉ nghìn thu của trần thế.
Chúng con đồng thành tâm phục nguyện:
Linh minh
nhất tánh,
Trực vãng
Tây phương
Diệu tịnh
tam ma,
Tốc thành
chánh giác.
Chứng vô
sanh chi pháp nhẫn
Nhập đại
định ư chơn thừa,
Nguyện chư
Phật từ bi thọ ký,
Mong đức
Tăng Thống sớm trở lại độ sanh.
Nam mô từ Lâm tế chánh tôn, Thuyền Tôn pháp phái, sung Việt nam
Phật giáo thống nhất Giáo hội, Tăng Thống bảo vị, huý Giác Nhiên - Đại lão Hòa
thượng...(điệp
xướng - đồng hoà:)
Tác đại
chứng minh
Thùy từ gia
hộ.
|