NGHI DỰ TIẾN
PHÁP SƯ HUYỀN QUANG
- Tiết thứ lâm diên:
- Chuông
trống Bát nhã
- Cử nhạc khai
đàn,
- Chủ lễ lâm
diên,
- Cử nhạc tham
lễ,
- Chủ lễ niệm
hương
- Dâng hương
tác lễ.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Môn đồ pháp
quyến,
Mời đến trước
đây,
Tất cả đều quì,
Đốt hương mặc
niệm.
- CHỦ LỄ CHẤN LINH
- Vịnh khai diên:
Giường hạc canh thâu phút
mộng tàn,
Nghìn thu vĩnh biệt nẻo
nhơn gian.
Rồi từ đây:
Huyễn thân mai một dòng
sanh tử,
Chân tánh tiêu dao cõi
Niết bàn.
Do đó:
Chết chẳng sợ sa đường địa
ngục,
Sống không ham đến ngõ
thiên đàng.
Vì vậy nên Người đã:
Cân bình nửa gánh về quê
Phật
Để lại trần gian ngọn pháp
tràng.
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Dâng hương lên
án cúng dường,
Cúi lễ giác
linh ba lạy,
Tất cả thứ tự
lại quì,
Một lòng chí
thành làm lễ.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
– Tán hương.
Hương xông đảnh
báu, giới định tuệ hương
Giải thoát tri
kiến quí khôn lường,
Ngào ngạt khắp
muôn phương,
Thanh tịnh tâm
hương,
Đệ tử nguyện
cúng dường.
Nam mô Hương Cúng
Dường Bồ Tát. (3 lần)
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
- Tuyên dương thân thế và đạo nghiệp:
Kính bạch Tân tịch Pháp sư Hòa thượng giác linh!
Chúng tôi được biết, Pháp sư đã từ:
Vĩnh Khánh xin xuất gia,
Cùng đạo có duyên, sớm vào
cữa Phật
Và, Bích Liên cho nhập
thất,
Với đời không nhiễm, chóng
ngộ cơ thiền!
Thật vậy, như kinh luận nói:
Thánh chủng, phước điền,
Thủy thanh, thu nguyệt.
Nghĩa là Người:
Như trăng thu nước biếc,
Như giống Thánh ruộng
lành!
Từ đó:
Chúc Thánh, đạo thọ nảy
thêm cành,
Sơn Long, đàm hoa sinh mấy
đóa.
Nhớ giác linh xưa! Người đã sinh ra từ:
Tú khí trăng sao cao cả,
Và được lớn lên bởi:
Tinh hoa Phật pháp thâm
huyền.
Tuy nhiên đời thế tục của Người:
Con nhà Nho giáo,
Đọc sách Thánh hiền
Dân xứ Quang Trung,
Học đòi hào kiệt.
Nhưng vì Người muốn tìm sự sống ngoài thế gian và đã may mắn
được:
Nếm mùi pháp hỷ thiền
duyệt,
Và, mặc áo ca sa phước
điền.
Trước khi được Bổn sư truyền trao:
Tôn phong y bát chơn
truyền,
Tổ pháp ấn tâm chánh
thống.
Từ đó người:
Phát tâm lên đường hoạt
động (Phật sự)
Dấn bước vào ngõ tùy
duyên.
Bằng phương tiện:
Tham dự Giáo quyền
Chung phần lãnh đạo,
Ngõ hoằng dương Phật giáo,
Hầu hàng phục ma quân
Hơn năm mươi năm phục vụ
chuyên cần,
Và, ngoài ba trăm tháng tù
đày gian khổ.
Do đó:
Với non sông chẳng hổ,
Cùng đạo pháp không hèn
Không mong ai khen,
Chẳng phiền ai trách,
Lợi danh trong sạch
Trách nhiệm chu viên.
Sau đây là một số việc Người đã làm:
Đọc tụng ba tạng kinh
thiêng,
Lễ bái bốn miền đất Thánh,
Vì hòa bình bao lần xuất
cảnh,
Vì đạo pháp mấy độ nhập
triền,
Xây dựng viện thiền,
Mở mang học hiệu,
Dắt dìu thanh thiếu
Đào tạo Tăng Ni,
Soạn dịch Pháp sự khoa
nghi
Biên thảo công văn, khánh
tiết
Không môn đình riêng biệt,
Chỉ Giáo hội cộng đồng.
Vì lý tưởng Giáo hội cộng đồng, nên Giáo hội gặp nguy vong
nghiêng ngã, Người đã cùng giáo hội trong và ngoài nước:
Quyết tâm chống đỡ rất
thần thông,
Chấp nhận hiểm nguy đầy
can đảm.
Phải chăng:
Đó là Ma ha dũng cảm?
Đó là Bát nhã từ bi!
Và cả đời, từ ngày:
Vĩnh Khánh ra đi,
Nay đây mai đó,
Nên chưa bao giờ là: trác
tích trụ trì
Chẳng mấy thuở là: trì
bình hành giả.
Vì Người bận:
Lấy nhà giam làm phòng
kiết hạ,
Dùng bàn giấy làm chỗ tọa
thiền,
Sự nghiệp Người, lịch sử
khó quên
Công ơn Người, môn nhơn
khó báo!
Cuộc đời của Pháp sư có thể nói:
Đời vân thủy một bình ba
áo,
Kiếp hải hồ muôn dặm cô
thân,
Bước du phương giáo hóa xa
gần,
Tay tổng lý điều hành nội
ngoại.
Lao lung nào ngại,
Vất vả khôn nài,
Khí tiết: tùng mai,
Trí nhơn: sơn thủy.
Kể sao xiết Trượng phu chi
chí,
Nói sao cùng Bồ tát chi
tâm!
Kính bạch giác linh Tân tịch Pháp sư Hòa thượng! Sau hơn nửa thế
kỷ hoằng pháp lợi sanh, Trưởng lão đã:
Treo bình Đông độ,
Quảy dép Tây thiên,
Như xưa Thế Tôn thị tịch
song lâm,
Nay Trưởng lão Tây qui
chích lý.
Một việc mà không ai tránh được, nhưng phải biết:
Chân tánh vốn vô chung vô
thủy,
Nhưng huyễn thân đành hữu
diệt hữu sanh.
Giờ thì chúng tôi mong rằng:
Người đi về thế giới an
lành,
Kẻ ở lại sớm hôm cầu
nguyện,
Nguyện ngày Pháp luân tái
chuyển
Cầu thuở sứ giả trùng qui.
Thế thôi!
Nhưng trước khi đi, Người
cũng đã:
Để lại tín vật bát y,
Và chỉ: mang theo hộ thân
gậy dép.
Rồi từ đó:
Cửa trần gian lại khép,
Ngõ Thánh cảnh vừa khai,
Niết Bàn tự tại lâu dài,
Sanh tử tiêu dao vĩnh
viễn!
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
– Cảm thán:
Than ôi! từ nay:
Thiền đường, học viện,
Mai chiều vắng bóng chủ
nhân,
Háo Đức hương lân,
Năm tháng bặt tin du tử!
Biết hỏi ai: nước chảy hoa
rơi hà xứ,
Biết tìm đâu: sao dời, vật
đổi ná phương?
Thương hoa đàm hết sắc còn
hương,
Tiếc chim hạc im hơi bặt
dạng.
Ôi thôi!
Vô thường nhất đán,
Vĩnh biệt thiên thu.
- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH
– Tuyên pháp ngữ:
Kính bạch giác linh Pháp sư Trưởng lão!
Như Pháp sư đã biết:
Màu non lờ lạt thâm u,
Giọng nước thầm thì rào
rạt,
Đó là Pháp thân bàn bạc
Đó là Phật tánh trừng
thanh.
Thị diệt - thị sanh
Như Lai - như khứ!
- TẢ BẠCH TIẾP:
Kính bạch Pháp sư Tân tịch giác linh!
Sám chủ vừa cung tuyên
pháp ngữ,
Giác linh đà đế thính diệu
âm,
Trước linh đài pháp quyến
thành tâm
Giữa pháp hội lễ sư bái
thỉnh.
Hương hoa thỉnh, hương hoa
phụng thỉnh.
- CHỦ LỄ THƯỢNG HƯƠNG - SƠ
THỈNH: (Nối dòng họ
Thích)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh!
Truyền y thiệu phái, tục
diệm thừa đăng
Cháu con biển pháp côn
bằng
Tử đệ rừng thiền sư tượng.
Hôm nay pháp tịch phụng vì: Chí Tâm môn hạ, nối dòng pháp Lâm tế
đời thứ 41, húy thượng NHƯ hạ AN, tự Giải Hòa, Tân tịch giác linh đại lão Pháp
sư, liên đài tọa hạ.
- Duy nguyện:
Hương lòng vừa bén,
Linh giác đã hay,
Pháp tịch hôm nay,
Nguyện xin chứng giám.
Hương hoa thỉnh, hương hoa
phụng thỉnh.
- CHỦ LỄ THƯỢNG HƯƠNG - TÁI
THỈNH: (Tam tạng thọ
trì)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh!
Ngũ thừa diệu pháp, tam
tạng Thánh kinh,
Đa văn vào hạng thông
minh,
Vô học lên hàng trí tuệ.
Hôm nay pháp tịch phụng vì: Đạo Quang môn hạ, nối dòng pháp Lâm
tế đời thứ 41, húy thượng NGỌC hạ TÂN, tự Tịnh Bạch, hiệu Huyền Quang, Tân tịch
Pháp sư, Trưởng lão giác linh, liên đài tọa hạ.
- Duy nguyện:
Hương hoa la liệt,
Phang cái huy hoàng,
Thỉnh giáng hoa đàn,
Chứng minh công đức.
Hương hoa thỉnh, hương hoa
phụng thỉnh.
- CHỦ LỄ THƯỢNG HƯƠNG - TAM
THỈNH: (Giáo hội đạo sư)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh!
Thiền đường lão nạp,
trượng thất cổ chùy,
Thoại đầu giá cá tình
nghi,
Công án thậm ma khám phá.
Hôm nay pháp tịch phụng vì: Việt Nam Phật Giáo thống nhất Giáo
hội, Đệ tứ Tăng Thống tọa vị, Trí Độ môn hạ, Thích thị Lê Công Huyền Quang,
Trưởng lão Tân tịch giác linh, liên đài tọa hạ.
- Duy nguyện:
Tràng phang cung thỉnh
Hoa cái quang lâm,
Chúng đẳng thành tâm,
Tam thân phụng thỉnh.
Hương hoa thỉnh, hương hoa
phụng thỉnh.
Nam mô Đăng Bảo
Tọa Bồ tát (3 lần)
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Sơ hiến trà –
Lễ ba lạy – Cùng quì.
- CHỦ LỄ VỊNH 1:
Vấn tấn – Quang lâm:
Hơn mười ức dặm
tự trời Tây,
Phi tích quang
lâm nhọc sức Thầy
Bảo tọa tuy cao
nhưng chẳng ngại
Xin Thầy an vị
xuống đài mây.
- KỆ TRÀ:
Đài mây Thầy an
tọa,
Chứng minh công
đức này,
Trời Tây muôn
ức dặm
Đàn chỉ tức về
đây.
- CHỦ LỄ XƯỚNG SỚ:
Nguy nguy Tăng tướng
Hạo hạo uy quang,
Thiên thượng nhơn gian,
Tùy duyên ứng cúng.
Nay có pháp chúng
Thiết lễ tiến linh,
Tỏ tấc đạo tình,
Sớ văn bái bạch
Duy nguyện tôn sư cảm cách
Từ bi lân mẫn xin nghe!
- TUYÊN SỚ:
Kính bạch Tân tịch Tôn sư giác linh!
Chúng tôi thiết nghĩ rằng:
Đại Phật xuất hưng,
Tự có ngày Niết bàn an
nghỉ.
Tôn sư nhập diệt,
Há không dịp đền đáp thâm
ân?!
Sự ấy rất cần,
Lý đâu lại chấp.
Sớ rằng:
Nay có môn đồ pháp quyến, các chúng Tăng Ni, Phật tử mười phương,
tang gia quyến thuộc ở…
Giờ này, chí thành quì
trước linh đài,
Cung kính dâng lên bảo
tọa,
Hoa thơm mấy đóa,
Hương quí một lò,
Trai bồ soạn thơm tho,
Trà Triệu châu thanh đạm
Ngửa mong tôn sư chứng
giám,
Dũ ánh từ nhãn chiếu lâm!
Tất cả chúng đẳng rất đau lòng vì Tôn sư - Người:
Đạo rõ nguồn chân,
Lý minh tướng thật,
Xưa Thầy tại nhật
Gần gũi nhờ ơn,
May được thắng nhơn,
Thấm nhuần pháp nhũ,
Y truyền pháp phú
Ơn cả nghĩa dày,
Bày tỏ lòng này,
Mong trên soi xét.
Than ôi! từ nay:
Ca sa trăng lạnh,
Tích trượng sương mờ,
Nhớ bao năm sữa pháp thấm
nhuần,
Thánh thai nuôi chúng.
Nghĩ giờ này, linh quang
vắng vẻ,
Phật quốc hóa thân!
Nghĩ lại tiền ân,
Xin dâng pháp cúng.
Nguyện cầu ai phúng,
Tán tụng tôn vinh
Tiễn biệt giác linh,
Một mai muôn thuở!
Nay thời:
Đạo tràng vừa mở,
Pháp tịch đã bày,
Kính dâng sớ này
Cúi đầu bái bạch.
Nam mô Tu viện Nguyên Thiều Giám viện, chung thân dĩ pháp vi gia,
tận lực tương công tựu nghiệp Huyền Quang trưởng lão, Tân tịch giác linh tác đại
chứng minh!
-
Phục nguyện:
Một tánh viên minh
Tây phương trực vãng,
Ba thân thanh tịnh,
Chánh giác vị thành.
Chứng pháp nhẫn vô sanh,
Ngộ chơn thừa đại định,
Mong Phật thọ mịnh
Ứng hóa độ sinh.
Cẩn sớ!
Nay ngày… tháng...nam…,
PL. 25…
Sa môn Thích …, Hòa nam
thượng sớ.
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Á hiến trà – Lễ
ba lạy – Cùng quì
- CHỦ LỄ VỊNH 2:
Âm vang – dáng dấp:
Từ ngày quảy
dép trở về Tây,
Trượng thất
thiền đường vắng bóng Thầy,
Bãng hát âm
vang cơn gió thoảng,
Uy nghi dáng
dấp áng mây bay.
- KỆ TRÀ:
Mây bay ngờ
dáng dấp,
Gió thoảng ngỡ
âm vang,
Đêm ngày ôi
vắng vẻ,
Thầy quảy dép
Tây phang!
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Phụng thực!
- Tụng: Cúng
dường Nam mô tát phạ…
- TẢ BẠCH XƯỚNG:
Chung hiến trà
– Lễ ba lạy – Cùng quì.
- CHỦ LỄ VỊNH 3:
Gian khổ – thành công
Đời Thầy sao
quá nhiều gian khổ
Đó phải chăng
Thầy đã trót vay?
Nợ núi sông với
cùng đạo giáo,
Lòng thao thức
nào mấy ai hay!
- KỆ TRÀ:
Ai hay lòng
thao thức,
Nợ đạo pháp núi
sông,
Đời Thầy nhiều
gian khổ
Nợ y bát tang
bồng.
(lặp lại hai câu cuối)
- Tụng: Ma
ha bát nhã…
- HỒI HƯỚNG:
Vừa rồi, bao nhiêu công
đức,
Bấy nhiêu hương hoa,
Thành kính thiết tha,
Nguyện xin cúng dưỡng.
Đại lão Huyền Quang pháp
tướng,
Như Lai sứ giả tọa tiền
Duy nguyện ai liên,
Thùy từ chứng giám.
-
Phục nguyện:
Ta bà nghiệp tạ,
Phật quốc hoa khai,
Nước cam lồ rửa sạch trần
ai,
Đèn trí tuệ sáng soi tăm
tối.
Cao đăng bất thoái,
Lập chứng vô sanh,
Phật đạo viên thành,
Chúng sanh độ tận.
- TÁN KẾT PHÁP DIÊN:
Pháp tịch đến
đây xin tạm mãn
Xin Người an
nghỉ tại linh sàng,
Thiền môn nghi
trượng còn khai diễn
Báo đức thù ân
lễ vị hoàn.
Nam mô Linh Tự Tại
Bồ Tát (3 lần).
- CHỦ LỄ XƯỚNG:
Lễ nghi báo
tiến,
Giờ đã viên
hoàn,
Tất cả môn tang
Lễ thành ba
lạy.
* BỊ CHÚ:
Nghi dự tiến này có ý kiến
của quý vị Trưởng lão trong Tổ đình Sơn Long đề nghị và góp ý, Thượng Tọa Như
Định chấp bút hồi năm 1986. Sau này xem lại thấy có những việc mới xảy ra vào
các năm 1979 – 1996, nghi này chưa ghi, nên tôi làm việc bổ túc và tu chỉnh một
số câu chữ trong nghi để văn bản được tương đối đầy đủ. Ngoài ra phần chú giải
các từ ngữ trong nghi xin xem bản gốc năm 1986. Nhân đây ghi thêm chữ ở lòng bia
hay linh vị như sau: “Cung kính nối dòng pháp Lâm tế đời thứ 41, Vĩnh Khánh -
Bích Liên môn hạ, húy Như An - Ngọc Tân, tự Giải Hòa - Tịnh Bạch, hiệu Huyền
Quang Lê Công đại lão Pháp sư giác linh liên tọa” (hoặc đại lão Pháp sư giác
linh chi tháp). Tất cả xin viết bằng quốc ngữ, và linh vị, tháp xây ở chùa Vĩnh
Khánh.
Từ 1963 tôi không làm gì
cho Tu viện, do đó tôi cũng rút chân ra khỏi Ban quản trị Tu viện từ năm 1969.
Vị nào có công ở Tu viện từ đầu đến năm 2002 được tự ý ghi danh vào hàng sáng
lập Tu viện.
Nghi dự tiến này được tu
chỉnh xong ngày 19 tháng 9 năm Bính Tý, PL 2540, nhằm tháng 10 năm 1996 tại
Phước Quang, Quảng Ngãi. Có sửa chữa thêm bớt vào năm 2004, PL.2547. Phần tiểu
sử do môn đồ soạn, sẽ đính sau.
Một việc nữa là kiểu tháp
nên lấy kiểu tháp của Tổ sư Phước Huệ - Thập Tháp, hoặc Tổ sư Chí Tâm ở Vĩnh
Khánh, hay tháp Tổ Bích Liên. Tuy nhiên, việc xây tháp và linh vị không nên làm
vì các biểu tượng ấy theo thời gian mưa nắng sẽ tàn phai đổ nát. Do đó nên dành
phương tiện ấy vào việc đào tạo Tăng Ni để kế thừa sự nghiệp hoằng pháp độ sanh
lâu dài trong tương lai thì cần thiết hơn.
Mong quí vị còn lại hãy
nghe lời khuyên cuối cùng của người sắp ra đi vĩnh viễn thì tốt hơn.
Tháng 08 / 2002, PL.2546
Huyền Quang
|