PHÁP SỰ KHOA NGHI 5

Soạn dịch giả: Hòa thượng Thích Huyền Quang

 

 

MỤC LỤC

 

1. HÒA THƯỢNG
HUYỀN ẤN - GIẢI HẬU

 

(18 - 3 - Mậu Thìn)

Trụ trì chùa Hội Phước

(Quảng Ngãi)

 

2. VĂN SỚ CÚNG KỴ BỔN SƯ

 

3. HÒA THƯỢNG HUỆ PHÁP

 

(15/ 11 - Đinh Mão)

Tăng Cang chùa Minh Tịnh

(Tp Qui Nhơn)

 

4. HÒA THƯỢNG
THÍCH HÀNH HUỆ

 

Trụ trì chùa Phước Lộc

(Thị xã Quảng Ngãi)

 

5. NI TRƯỞNG
THÍCH NỮ TÂM HOA 

 

Trụ trì chùa Tâm Ấn (Tp Qui Nhơn)

Nghi Dự Tiến

 

VĂN DỰ ĐIẾU

 

6. TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH GIẢI AN
 

 

Văn Dự Điếu

 

LỜI ĐIẾU
LỄ DI QUAN NHẬP THÁP

 

7. HOÀ THƯỢNG
THÍCH TRÍ HƯNG

 

(03 tháng 11 năm Bính Dần)

 

8. HÒA THƯỢNG
THÍCH HUYỀN ĐẠT

 

Trụ trì Tổ Đình Thiên Ấn - Quảng Ngãi

 

9. HÒA THƯỢNG
THÍCH QUẢNG THỂ

 

Trụ trì chùa Thọ Quang

(Hòa Vang - Đà Nẵng)

 

10. NI SƯ TRƯỞNG NHƯ HUYỀN

 

(Ngày 02 tháng chạp năm Đinh Mão)

Trụ trì chùa Tịnh Nghiêm - La Hà

 

THIẾP VĂN LỄ HÚY NHẬT

 

VĂN DỰ ĐIẾU

NI TRƯỞNG THÍCH NỮ TÂM HOA


Của toàn thể ni chúng, hiếu đồ Sanh Liên, Tâm Ấn,
đọc trước linh đài tân tịch Bổn Sư Diệu Liên
Ni Sư trưởng trước giờ di quan nhập tháp.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Kính bạch Tâm Ấn, Sanh Liên đường thượng Tân tịch Bổn sư Ni sư trưởng giác linh!

Chúng con toàn thể Ni chúng và thiện nam tín nữ thuộc các chùa Sanh Liên, Tâm Ấn

Giờ này, cung kính quì trước linh đài,

Chí thành dâng lên sư toạ

Hoa lòng Bát nhã,

Hương giới ngũ phần,

Với lòng tha thiết kiều cần,

Cùng dạ thù ân báo hiếu.

Tất cả chúng con:

Ngậm ngùi cúi đầu xuống chiếu

Sùi sụt úp mặt bên đài,

Than thở van nài

Tiếc thương buồn thảm,

Mong người đoái hoài chứng giám,

Xin mẹ từ mẫn lắng nghe.

Nhớ giác linh xưa!

Dù đào cơ cũng nặng tình Phật tử,

Phát tâm giữ đạo Như lai.

Tuy Liên mẫu vẫn nhẹ dạ Thánh thai,

Nuôi chí giúp đời Bồ tát!

Do đó, Người đã mạnh dạn:

Bỏ nếp sống phù hoa đài các,

Nhận cuộc đời khổ hạnh đầu đà,

Niệm đạo mặn mà,

Tình đời tinh khiết.

Hờ hững duyên mày xanh mắt biếc

Lơ là phận chỉ thắm tơ điều,

Theo Thầy học đạo mai chiều

Tùng chúng tu thân hôm sớm.

Nên, chất liễu tuyết đông gầy ốm,

Nhưng, phẩm sen nắng hạ thắm tươi,

Suốt đời làm đạo vì người

Trọn kiếp xây đời cho chúng.

Dùng thần thông diệu dụng

Để phục dịch chấp lao

Oai nghi tám vạn thanh cao

Tế hạnh ba ngàn nghiêm túc.

Lóng trong nước đục,

Phủi sạch bụi trần,

Đền đáp các ân

Vuông tròn bốn đức.

Kinh song phân chia tâm thức

Thiền thất gạn lọc vọng chân,

Vì vậy, nguồn tình tan vận vũ vân,

Bể ái tiêu hồn hoa nguyệt.

Cầu cho nghiệp diệt,

Mong được phước sanh,

Ngõ hầu, bóng in thu nguyệt thuỷ thanh,

Gương rõ Ni sư từ mẫu.

Kính bạch Ni sư trưởng giác linh!

Người, cơ thiền chưa lậu,

Ý Tổ còn nghiêm.

Nên, Ni chúng đây đó quan chiêm

Thiện tín gần xa cung kính,

Linh minh Phật tính

Trạm tịch Pháp thân,

Giống Thánh gieo nhân,

Cội lành kết quả.

Thế rồi việc phải đến, đã đến

Thật vô khả nại hà!

Than ôi!

Trăm năm công thành nghiệp tạ,

Mẹ già cất bước trường du,

Một phút báo xả, thần thu,

Con dại giăng tay khuyên cửu trụ!

Bởi lẽ, ơn cao pháp nhũ,

Gánh vác hai vai,

Nghĩa cả Thánh thai,

Cưu mang tấc dạ,

Chưa đền, chưa trả,

Còn vấn, còn vương.

Nhưng giờ thì:

Còn đâu hôm sớm cúng dường,

Còn đâu xưa nay mày mặt,

Ni chúng mất người dìu dắt

Tín đồ thiếu kẻ đỡ nâng,

Ngồi đứng bâng khuâng, vào ra thơ thẩn.

Nhớ thuở thậm ma: Tâm Ấn (1)

Nghĩ ngày giá cá: Y truyền (2)

Giờ này, Người ở đâu trong thế giới vô biên,

Người là ai trong chúng sanh vô lượng?

Hay người về An dưỡng,

Hay người ở Đà thiên,

Hay ứng hoá tuỳ duyên,

Hay du phương phó hội?

Kinh hoàng đất bằng vật đổi,

Ngơ ngác trời rộng sao dời,

Đạo thọ tiếc thấy hoa rơi

Tào Khê thương nghe nước chảy.

Người ra đi (sao) dép giày không quảy,

Người về đâu (sao) y bát còn treo,

Đạo nghiệp, Người đã mang theo

Phước duyên, Người còn để lại!

Trước tình cảnh chia ly này:

Chị em nhà Kiều tê tái,

Đệ huynh nhà Thích bàng hoàng,

Hỡi ai về (miền) Cực lạc, Niết bàn,

Cho tôi gởi (chút) tình thương, dạ nhớ.

Vì là, Người ra đi có thuở,

Người về lại không ngày,

Trong khi Ni bộ còn đây, Tăng đoàn còn đó,

Ai biết nỗi niềm cây gió,

Ai hay tình ý mẹ con?

Hơn thế nữa:

Ai biết hồn mẹ mất còn,

Ai thương thân con cô độc?

Từ nay:

Biết hỏi ai chuyện: “long ngâm khô mộc”

Biết nghe ai việc: “điểu tích trường không”?

Biết bao giờ thấy mẹ cầm bông,

Biết mấy thuở nghe Thầy gõ trúc?

Thật ngổn ngang cảm xúc,

Dưới đài mạo muội tỏ tường,

Chồng chất tiếc thương

Trước toạ ngẹn ngào thỏ thẻ.

Hỡi ôi! Bức vân cẩu trớ trêu ai vẽ,

Cuộc tan thương ngao ngán ai bày,

Có biết rằng: gió thổi mây bay,

Nhưng, không muốn thấy khói tan lửa tắt.

Giờ chỉ còn:

Thiền sàng trang nghiêm mặc mặc,

Linh toạ thanh tịnh minh minh,

Duy nguyện Từ mẫu giác linh

Từ bi mặc nhiên mẫn cố!

Nam mô Sanh Liên, Tâm Ấn đường thượng Tân tịch Bổn sư giác linh, tác đại chứng minh.

- Phục nguyện:

Khinh an một mảnh di hình,

Tháp trắng ngàn thu an nghỉ,

Giải thoát sáu đường hệ luỵ

Sen vàng muôn thuở tiêu dao.

Chỉ tiếc rằng:

Người đi biền biệt âm hao,

Kẻ ở ngóng trông dáng dấp.

Nhưng biết sao giờ:

Quyến luyến: mắt nhìn tay chấp,

Nguyện cầu: đầu cúi thân nghiêng.

Bồ bặt linh tiền, cúc cung toạ hạ,

Đau lòng xót dạ, tiễn Mẹ đưa Thầy,

Xe gió đường mây,

Tràng phang bảo cái.

Và mong rằng:

Tế chúng, xin Người trở lại,

Thương con, mong mẹ về đây.

Đất Việt, trời Tây,

Minh thông mặc cách,

Điếu văn bái bạch.

Cúi lạy tạ từ !

Nay ngày…tháng…năm…PL 25…

Toàn thể hiếu chúng tín đồ,

Đau đớn chia tay vĩnh biệt.

 

Soạn xong ngày 19.2. Mậu Thìn.

Nhằm ngày 05. 4.1988. PL.2531, tại Quảng Ngãi.

Sa Môn THÍCH HUYỀN QUANG

 

* GHI CHÚ:

(1)      Chiều đón ai vào sân Tâm Ấn

 Sáng đưa ai ra cổng Sanh Liên.

(2)      Sáng đưa ai đi lên Thiên Ấn

Chiều đón ai về lại Sa hà,

Giã từ núi Bút sông Trà

Vĩnh biệt quê cha dất tổ,

Hết rồi ngày tàn bịnh khổ

Thôi rồi kiếp sống não phiền.