|
GIỚI THIỆU
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA BỒ TÁT GIỚI
Thích Thái Hòa
I. Tổng Luận Và Ý Nghĩa:
1. Tổng luận:
Ý thức tự giác là yếu tố cơ bản để xác định con
người có khả năng trưởng thành, về tư duy và sáng tạo, có khả năng đạp
vỡ mọi trói buộc và mở ra một chân trời giải thoát.
Ý thức ấy đã được khơi mở từ nơi đời sống của Bậc
giác ngộ, Bậc thanh tịnh hoàn toàn, siêu xuất trần thế không để lại chút
nào phiền muộn cho bất cứ ai.
Hình ảnh của Đấng có ý thức tự giác, là một hình
ảnh tuyệt đẹp, vì ở đó không có gợn lên một tí xi của sự sống nô lệ.
Và hiển nhiên, đó là hình ảnh tuyệt vời để cho
chúng sanh quy ngưỡng và là mảnh ruộng phì nhiêu để cho chúng sanh gieo
trồng phước đức.
Bởi vậy, ai là người đánh mất ý thức tự giác, thì
đó là kẻ sống đời nô lệ, là kẻ phàm tình, là kẻ bị mê hèn bởi năm uẩn,
bị dục vọng đánh lừa, là đồng lõa với hèn nhác và bị chìm đắm khổ đau.
Và hễ tu tập mà để đánh mất ý thức tự giác, thì
không mong gì bước đi được những bước đi tự do, không mong gì dự vào
dòng Thánh để trở thành và chứng đắc các Thánh quả.
Muốn có ý thức tự giác, thì trước hết con người
phải thọ trì “Biệt giải thoát luật nghi”, nghĩa là luật nghi có khả năng
đưa hành giả thoát khỏi từng đối tượng cá biệt của nghiệp đạo, để rồi
ung dung tự tại, cỡi trên sóng thức mà vượt qua muôn ngàn trùng dương
sanh tử.
Bồ Tát giới là đặt trên nền tảng của “Biệt giải
thoát luật nghi”, nên hễ nếu không thọ và trì Biệt giải thoát luật nghi,
thì không thể thọ và trì Bồ Tát giới.
Vì sao? Vì không có cơ sở để Bồ Tát giới phát
sinh.
Lại nữa, Bồ Tát giới là giới bao gồm cả ba tụ
thanh tịnh, mà thuật ngữ Phật học gọi là “Tam tụ tịnh giới”.
Tụ thứ nhất là Nhiếp luật nghi giới, gồm có:
Thanh tịnh về biệt giải thoát luật nghi, đó là sự thanh tịnh về “chỉ
trì”, mà các điều cấm chỉ ở trong giới bổn đã quy định.
Thanh tịnh về căn luật nghi, đó là luật nghi có
khả năng phòng hộ, khiến các quan năng khi nhận thức, không bị trần cảnh
bên ngoài khuấy động.
Thanh tịnh về mạng luật nghi, đó là luật nghi
nuôi dưỡng thanh tịnh về mạng bằng Bốn Thánh Chủng.
Thanh tịnh về niệm luật nghi, đó là luật nghi làm
cho bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi đều ở trong sự thanh tịnh.
Do đó, một người tu tập viên mãn về tụ Nhiếp luật
nghi là viên mãn về Pháp thân thường trú ở chư phật.
Tụ thứ hai là Nhiếp thiện pháp giới, gồm tất cả
giới thuộc về thực hành pháp Thiện vô lậu, nghĩa là Thiện do đình chỉ
các ác của thân, ngữ và ý mà phát sinh, do thanh tịnh ba nghiệp mà phát
sinh, do thực hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, do thực hành ba pháp quy y,
thể hiện bốn đức tin kiên cố, tu tập Lục độ, Tứ vô lượng tâm… mà phát
sinh.
Tụ giới nầy, không những nhắm đến chỉ trì mà còn
nhắm đến tác trì nữa.
Sống bằng đời sống không gây tổn hại cho người
khác, chính nó đã là Thiện, chính nó đã là phụng hành các Thiện, nhưng
Thiện ấy, không kiên cố, không lớn mạnh, không siêu việt, bằng Thiện do
vận khởi tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả để là lợi ích cho mình và người.
Bởi vậy, Nhiếp Thiện Pháp Giới cũng được gọi là
“Trưởng Dưỡng Thiện Pháp Giới”.
Do đó, hễ hành trì viên mãn tụ thứ hai nầy là
viên mãn về Báo thân trang nghiêm của chư Phật.
Tụ thứ ba là Nhiêu Ích Hữu Tình Giới, gồm tất cả
giới thuộc về Thệ và Nguyện.
Thệ nguyện của tụ giới nầy là lấy Bồ Đề Tâm làm
nhân hạnh tu tập, lấy đạo quả Vô Thượng Bồ Đề làm mục tiêu hướng đến và
lấy hết thảy chúng sanh làm đối tượng phục vụ.
Do đó, hễ hành trì viên mãn tụ nầy là viên mãn
Thiên bách ức hóa thân của chư Phật.
Thệ nguyện viên mãn Thiên bách ức hóa thân của
chư phật, là để Bồ Tát phục vụ chúng sanh đem lại lợi ích cho họ và Bồ
tát có thể sử dụng mọi phương tiện, mọi hình thức để giáo hóa chúng
sanh, khiến họ quay lưng lại với trần lao mà hướng đến quả vị giác ngộ.
Sự phục vụ chúng sanh như vậy, gọi là Bồ Đề Hạnh,
Bồ Đề Nguyện.
Do thực hành Bồ Đề, mà người thọ trì Bồ tát giới
cầu học các trí, tu tập các pháp môn tâm địa và làm lợi ích cho hết
thảy chúng sanh, không biết mệt mỏi, không biết chán nản.
Họ là bạn của chúng sanh không mời mà tự đến,
phục vụ xong việc liền đi, không có một điều kiện nào để thủ và xả.
Đối với chúng sanh nào thiện căn chưa có phát
khởi, thì làm cho phát khởi, đã phát khởi thì làm cho tăng trưởng, đã
tăng trưởng thì làm cho chứng đắc các Thánh quả.
Đối với chúng sanh nào, khổ do bệnh hoạn, thì
trao cho phương pháp trị liệu và dược liệu, khổ do ngu dốt thì trao cho
văn hóa, khổ do lạc đường thì chỉ cho nẻo chánh, khổ do bội phản thì dạy
cho pháp quán thi ân không mong cầu đáp trả, khổ do sợ hãi các nạn, thì
dạy cho cách bảo hộ, khổ do nghèo nàn thì dạy cho cách làm tăng trưởng
phước đức, và đối với chúng sanh ương ngạnh, thì tìm cách điều phục,
huấn luyện.
Sự thực hành Bồ Đề như vậy là nhờ có Thệ, có
Nguyện, nếu không có Thệ và Nguyện độ chúng sanh thì không có Bồ Tát
Giới.
Do đó, chính Thệ và Nguyện đã tạo thành ý nghĩa
Bồ Tát giới một cách linh hoạt và mầu nhiệm.
2. Ý Nghĩa:
Bồ Tát Giới là gì? Bồ Tát Giới hay còn gọi là Bồ
Tát Tâm Địa Giới, đó là giới lấy tâm làm thể, làm chỗ tu nhân, làm đức
tin, làm đối tượng chuyển hóa, quán chiếu để thấy rõ không- lý; lấy tâm
làm cứ điểm để lập Thệ và Nguyện, nhằm xác quyết mọi hành động; lấy tâm
làm chủ đích hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề; lấy tâm làm lãnh địa để
duy trì và sinh trưởng các Thiện pháp, sinh trưởng các địa vị giác ngộ
của Bồ Tát và Phật, nên Bồ Tát Giới là giới tâm của bốn mươi địa vị Hiền
Thánh.
Bồ Tát Giới là giới thuộc về Phật tính, Phật tính
là bản thể của giác ngộ, là chủng tử của giác ngộ có khả năng sinh
trưởng sự giác ngộ, nên Phật tính không bị khu biệt bởi thời gian, bởi
không gian và bởi chủng loại.
Do đó, Bồ Tát Giới khẳng định, hết thảy chúng
sanh đều có Phật tính, nghĩa là hết thảy họ đều có Bồ Tát Giới tính, vì
hết thảy chúng sanh đều có Bồ Tát Giới tính, nên hết thảy chúng sanh đều
có thể thọ và trì Bồ Tát Giới để thành Phật. Vì Bồ Tát Giới không bị khu
biệt bởi không gian, nên hết thảy chúng sanh trong mọi không gian đều có
thể thọ và trì Bồ Tát Giới, và vì Bồ Tát Giới không bị khu biệt bởi thời
gian nên chúng sanh ở ba đời đều có thể thọ và trì Bồ Tát Giới để tu tập
và thành Phật. Bồ Tát Giới là vậy, nên Bồ Tát Giới còn có những ý nghĩa
như sau:
a- Giới Pháp Vô Tận:
Bồ Tát Giới mà gọi là giới pháp vô tận, vì người
thọ và trì giới này, khi xả thân và thọ thân, giới thể Bồ Tát vẫn tồn
tại không mất, tồn tại cho đến khi nào vị đó thành tựu đạo quả Vô Thượng
Bồ Đề.
Và vị đó dù ở bất cứ cảnh giới nào, chủng loại
nào thì giới thể Bồ Tát ở họ vẫn hằng tồn.
Như vậy, Bồ Tát Giới mà gọi là Giới Pháp Vô Tận,
vì nó vô tận với không gian, vô tận với thời gian và vô tâïn với sinh
mệnh.
b- Giới Pháp Tâm Thọ:
Bồ Tát Giới là giới pháp thuộc về tâm thọ, vì nó
luôn tồn tại với tâm và nó là tâm, do tâm thệ nguyện lãnh thọ mà giới
thể thành tựu.
c- Giới Pháp Thuộc Về Công Đức:
Vì thệ độ hết thảy chúng sanh và nguyện thành
Phật là từ nơi giới này mà phát sinh; vì Tứ Vô Lượng Tâm và Lục Ba La
Mật từ nơi giới này mà phát sinh, các Thiện pháp vô lậu cũng từ nơi giới
nầy mà phát sinh, các địa vị Hiền Thánh cũng từ nơi giới nầy mà phát
sinh, trí tuệ siêu việt cũng từ nơi giới nầy mà phát sinh, ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng từ giới nầy mà phát sinh, thiết lập
Vương quốc Tịnh độ với Y báo, Chánh báo trang nghiêm cũng từ giới nầy mà
phát sinh và ngay cả Phật địa cũng do giới nầy mà phát khởi.
Do đó, giới kinh nói:
“Chúng sanh thọ Phật giới,
tức nhập chư Phật vị.
Vị đồng đại giác dĩ,
chơn thị chư Phật tử”.
(Phạm
Võng Kinh, tr 1004, Đại Chính 24).
Nghĩa là:
Chúng sanh thọ Phật giới,
chính vào địa vị Phật.
Vị đã đồng đại giác,
đích thị là Phật tử.
Từ ngữ Phật tử là một từ ngữ đích thực xứng gọi
cho những ai có thọ và trì Bồ Tát Giới.
Vì người đó trong hiện tại, họ đang chuyển hóa tự
tâm để thành tâm của Bồ Tát và Phật, thân đang làm việc của Bồ Tát và
Phật, miệng đang nói lời của Bồ Tát và Phật, và tương lai họ sẽ tiêu
sạch hết các vọng tưởng sai lầm về tự ngã, về con người, về chúng sanh,
về sinh mệnh và họ sẽ đầy đủ các đức tướng, các đức tính của một vị Đại
Giác Ngộ.
Do đó, Bồ Tát Giới là giới pháp thuộc về mọi công
đức.
d- Giới Pháp Bản Nguyên:
Tất cả chúng sanh đều có gốc rễ từ nơi Tự Tánh
Thanh Tịnh, mà tự tánh ấy chính là Bồ Tát Giới tính. Bồ Tát Giới tính là
tính bình đẳng với tâm, bình đẳng với Phật, bình đẳng với chúng sanh. Sỡ
dĩ, chúng là bình đẳng, vì chúng đều có gốc rễ từ nơi Tự Tánh Thanh
Tịnh.
Do đó, hễ chúng sanh nào trở về với Tự Tánh Thanh
Tịnh ấy, thì chúng sanh ấy là Phật, Phật chính là bản nguyên Tự Tánh
Thanh Tịnh.
Do đó, hễ tự tâm của chúng sanh nào lắng hết tất
cả vọng trần, tiêu hết các duyên trần, thì tâm đó là tâm của Phật và
Phật đó chính là tâm, chúng sanh nào đạt được tâm như vậy, thì chúng
sanh ấy có tâm của Phật.
Bởi vậy, Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm, Phật, chúng
sanh, tam vô sai biệt”. Nghĩa là Tâm, Phật, và chúng sanh, cả ba đều
bình đẳng, không có sai khác. Sự không sai khác ấy, chính là sự không
sai khác về Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh giữa Tâm, Phật và chúng sanh.
Giới pháp thuộc về Bản Nguyện Tự Tánh Thanh Tịnh
là bảo vật vô giá của hết thảy chúng sanh, nên chúng sanh cần phải trở
về để tiếp nhận và giữ gìn.
Trong Giới Kinh Phạm Võng, Đức Phật Thích Ca nói:
“Giới pháp ấy là giới quý báu như ngọc kim cương và là bản nguyên của
chư Phật, của Bồ Tát, là chủng tính của Phật.
Hết thảy chúng sanh đều có Phật tính, nên hết
thảy chúng sanh có thân, có tâm, có ý, có thức, những loài có tình, có
tâm ấy, đều nhập vào trong giới pháp tính Phật.
Đương nhiên, vì đã có gốc rễ như vậy, thì chắc
chắn sẽ có hoa trái của pháp thân thường trú.
Mười Ba La Đề Mộc Xoa, ta đã nói ra ở trong thế
giới nầy, giới pháp ấy, hết thảy chúng sanh trong ba đời, phải phụng
kính thọ trì. Ta nay sẽ vì đại chúng, mà nói lại mười giới pháp vô tận,
mà nguồn gốc của giới là Tự Tánh Thanh Tịnh nơi hết thảy chúng
sanh.(Phạm Võng Kinh, tr 1003, Đại Chính 24).
e- Giới Pháp Viên Mãn Cụ Túc:
Bồ Tát Giới mà gọi là viên mãn cụ túc, vì là giới
đầy đủ cả ba tụ. Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích
hữu tình giới. Và đồng thời Bồ Tát Giới cũng đầy đủ cả Tín, Hạnh,
Nguyện và Nhiếp thọ.
Tín là gốc của Hạnh, Nguyện và nhiếp thọ. Mọi
Hạnh, Nguyện và Nhiếp thọ phải phát xuất từ Tín.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là gốc của Đạo, là mẹ
đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện”.
Luận Đại Trí Độ thì nói: “Biển cả Phật pháp mênh
mông, sâu thẳm, nếu không có Tín, thì không thể vào được”.
Thật vậy, có những vị chưa hiểu Phật pháp là gì,
nhưng chỉ do họ có đức tín thuần tịnh, nên họ đi vào biển cả Phật pháp
và an trú vào bậc Hiền Thánh một cách an toàn và kiên cố, họ thực hành
các thiện pháp một cách vững chắc, họ hướng nguyện Bồ Đề về nhiếp hóa,
làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh không có gì lay chuyển nổi.
Bởi vậy, trong bất cứ lời thệ nguyện nào của Bồ
Tát cũng đều có đủ cả ba tụ thanh tịnh giới.
Trong mười nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, chúng cũng
hàm chứa đủ cả ba tụ thanh tịnh nầy.
Bồ Tát Phổ Hiền là vị Bồ Tát có đủ hiền trí và
hiền đức để phổ nhiếp chúng sanh, khắp trong mọi không gian và thời
gian, một vị Bồ Tát thường xuất hiện trong các thời thuyết giáo của Đức
Phật Thích Ca, để làm tiêu biểu cho bậc có đức tin và có khả năng thực
hiện đức tin Đại Thừa, tức là thực hiện đức tin đối với Bồ Tát Giới.
Ngài thường xuyên xuất hiện qua hình thức cỡi
trên voi chúa trắng sáu ngà.
Voi chúa có sức mạnh, có bước đi vững chắc, ấy là
tượng trưng cho Bồ Tát Phổ Hiền, là vị có đức tin kiên cố, đối với giới
học, định học và tuệ học Đại Thừa, và có đức tin vững chắc đối với đại
Hạnh và đại Nguyện.
Màu trắng của voi chúa là tượng trưng cho Bồ Tát
Phổ Hiền có khả năng thực hành giới đức một cách thanh tịnh, đó là sự
thanh tịnh về Biệt giải thoát, về các căn, về sinh mạng và về các oai
nghi tế hạnh trong lúc phụng hành các thiện pháp và nhiếp hóa chúng
sanh.
Sáu ngà là tượng trưng cho Bồ Tát Phổ Hiền có khả
năng thực hành viên mãn Lục độ một cách hiện thực qua sự vận khởi bi và
trí để giáo hóa, làm cho chúng sanh thuần thục đối với đạo quả Vô Thượng
Bồ Đề.
Nên, mười hạnh nguyện Phổ Hiền là một mô thức căn
bản cho những người thọ trì Bồ Tát Giới, thực hành Bồ tát Đạo.
Trong mô thức hành động nầy, hẳn nhiên, chúng bao
gồm đủ cả ba tụ thanh tịnh giới như:
Lễ kính chư Phật.
Xưng tán Như Lai.
Quảng tu cúng dường.
Ba hạnh nguyện nầy thuộc về Nhiếp Thiện pháp
giới.
Nếu người thọ trì Bồ Tát Giới mà không có Hạnh và
Nguyện như vậy, thì không có tác trì, không có tác trì thì không thể gọi
là bậc có đại Nguyện, không có đại Nguyện thì không thể vận khởi đại bi
và đại trí để nhiếp hóa chúng sanh nhằm trang nghiêm bản thân và Phật
độ.
Sám hối nghiệp chướng.
Hạnh nguyện nầy thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
Nghiệp chướng là chướng ngại do nghiệp.
Chướng ngại nầy là do không có thanh tinh về
thân, thanh tịnh về ngữ, thanh tịnh về ý, khiến trở ngại sự đoạn trừ các
ác, trở ngại sự phụng hành các thiện, trở ngại sự nhiếp hóa chúng sanh,
trở ngại sự thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Vậy, Bồ Tát do thực hành hạnh nguyện sám hối nầy
mà đoạn trừ được các ác của thân, ngữ và ý, làm cho pháp thân thanh tịnh
được biểu lộ.
Tùy hỷ công đức.
Thỉnh chuyển pháp thân.
Thỉnh Phật trụ thế.
Thường tùy Phật học.
Hằng thuận chúng sanh.
Phổ giai hồi hướng.
Sáu hạnh nguyện nầy, thuộc về Nhiêu ích hữu tình
giới. Vì mục đích của Bồ tát là làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh, và
vì vậy, Bồ Tát thực hiện sáu hạnh nguyện nầy thuần thục là có thể thành
tựu Thiên bách ức hóa thân để giáo hóa chúng sanh một cách tự tại.
Tóm lại, ý nghĩa của Bồ Tát Giới là ý nghĩa của
sự thực hành hạnh nguyện Bồ Tát đạo.
Kinh Đại Bát Nhã nói: “Tịnh giới vô lậu của hàng
Thanh văn, Độc giác, chỉ hồi hướng đến Niết Bàn để cầu tự lợi, còn tịnh
giới của Bồ Tát là vì độ thoát vô lượng chúng sanh mà hồi hướng đến Vô
thượng Bồ Đề.
Do dó, tịnh giới của Bồ Tát, siêu việt hơn tịnh
giới vô lậu của hàng nhị thừa”.( Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh 586, tr
1032, Đại Chính 7).
Một hành giả từ nơi Bồ Đề Tâm mà phát khởi Hạnh
và Nguyện để thọ trì Bồ Tát Giới, vị ấy hiện hữu giữa cuộc đời như là sự
hiện hữu của Đấng tình yêu mang đầy đủ chất liệu của trí tuệ để làm tươi
mát cho mọi sự sống.
Sự hiện hữu ấy, như là sự hiện hữu của lý tính
mầu nhiệm, không hề làm trở ngại bất cứ một lý tính nào.
Sự hiện hữu ấy, như là sự hiện hữu của tình yêu
cao vợi, không làm trở ngại bất cứ thứ tình yêu nào.
Sự hiện hữu ấy, có mặt trong mọi sự hiện hữu để
gìn giữ bản chất và hành trì sự tướng của tuệ giác, nên bản chất của mọi
sự tướng không hề trở ngại nhau.
Sự hiện hữu ấy, đi vào trong mọi sự hiện hữu,
chúng không có mâu thuẫn giữa các giới Thanh Văn và Bồ Tát. Chúng có khả
năng dung nhiếp hết thảy để đưa vào biển trí.
Do đó, Bồ Tát Giới hiện hữu như là sự hiện hữu
của Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh nơi hết thảy chúng sanh. Và chính đó
là ý nghĩa cứu cánh của Bồ Tát Giới vậy.
II. Phân Tướng loại:
Theo Kinh và Luận Đại Thừa, thì Bồ Tát Giới có
chín tướng loại:
1- Tự tánh giới:
Bồ Tát Giới là giới thuộc về tự tính.
Sở dĩ gọi là tự tánh giới, vì loại giới này có
bốn đức tính.
a. Tùng tha chánh thọ:
Lãnh thọ thánh giới từ nơi Đức Phật, hoặc Bồ Tát,
hoặc từ Tôn Tượng, hoặc từ vị đại diện Phật và Bồ Tát.
b. Thiện tịnh tâm thọ:
Lãnh thọ tánh giới từ nơi tự tâm thanh tịnh,
trong sáng. Đây là hình thức tự thọ Bồ Tát Giới.
c. Phạm dĩ tức hối:
Hễ thấy có phạm giới, thì phải sám hối ngay tức
khắc, không để cho nhiều sát na tâm trôi qua, vì mỗi sát na trôi qua,
thì tội lỗi theo sát na ấy mà tăng trưởng trên tâm.
d. Chuyên tâm niệm trú, kiên trì bất phạm:
Chuyên tâm an trú vào Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp
thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới không có vi phạm.
Tự tánh giới còn gọi là “Chơn thật giới”, ấy là
giới đích thực không hư vọng của Bồ Tát. Còn gọi là “Tự tha lợi giới”,
đó là giới đem lại lợi ích cho mình và người. Còn gọi là “Nhiêu ích
chúng sanh giới”, là giới làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Còn goi
là “Tăng trưởng nhân thiên giới”, là giới làm tăng trưởng phước trí cho
cõi người và cõi trời. Còn gọi là “Vô lượng công đức giới”, là giới có
năng lực làm phát sinh công đức không kể số lượng.
2- Nhất thiết giới:
Hay còn gọi là “Thông giới”, nghĩa là giới thông
cả hàng xuất gia và tại gia.
3- Nan giới:
Bồ Tát Giới là giới rất khó thọ trì, vì chúng có
những trường hợp như sau:
a.Vì người giàu có tài sản, đầy đủ thế lực mà từ
bỏ để xuất gia, thọ trì Bồ Tát Giới, đây là một điều rất khó, nên Bồ Tát
Giới là giới khó thọ trì.
b.Vì người thọ trì Bồ Tát Giới, dù ở trong bất cứ
hoàn cảnh nguy khốn nào, cũng không để cho giới đã thọ trì bị sứt mẻ, bị
khuyết tật, nên Bồ Tát Giới là giới rất khó thọ trì.
c. Người thọ trì Bồ Tát Giới, thì đối với các
hạnh tu tập, tất cả chánh thọ, tất cả sự nhớ nghĩ, tâm luôn luôn an trú
Chánh niệm, không loạn động, cho đến đời kiếp các giới thuộc về tế hạnh,
cũng không bị khuyết tật, chứ đừng nói đến các trọng giới, nên gọi giới
Bồ Tát là giới khó thọ trì.
4- Nhất thiết môn giới:
Bồ Tát Giới là giới đi vào tất cả các cửa ngõ
của Chánh thọ, tánh giới, tập giới, phương tiện giới.
a. Chánh thọ giới:
Là giới Bồ Tát, thọ đủ cả ba tụ thanh tịnh giới.
b. Tánh giới:
Là Bồ Tát có Bồ Tát giới tính, nên thanh tịnh về
thân, thanh tịnh về ngữ, thanh tịnh về ý và hiền thiện vốn là bản chất
của Bồ Tát.
c. Tập Giới:
Là Bồ Tát vốn tu tập Bồ Tát Giới, nên đời này
qua đời khác, nhân của giới vẫn còn, tam tụ tịnh giới đã từng tu tập,
nên tâm thường nhàm chán điều ác mà không làm, chỉ thích làm điều thiện.
d. Phương tiện thành giới:
Là người thọ trì Bồ Tát Giới, y vào bốn nhiếp
pháp mà thực hành hiền thiện của thân ngữ đối với hết thảy chúng sanh.
5- Thiện nhân giới:
Bồ Tát Giới là giới của bậc Hiền trí và Hiền đức.
Hiền trí và Hiền đức có năm trường hợp để hành
trì.
a. Tự trì tịnh giới:
Nghĩa là tự mình hành trì giới thanh tịnh.
b. Thọ dự tha nhân: Nghĩa là đại diện Phật và Bồ
Tát để trao truyền cho người khác.
c. Tán thán tịnh giới:
Ca ngợi công đức do hành trì giới đem lại.
d.Kiến đồng pháp giả sanh tâm hoan hỷ:
Thấy chúng sanh đồng tu tập các pháp tịnh giới
như mình, liền sanh tâm hoan hỷ.
e. Thiết hữu hủy phạm như pháp hối trừ:
Giả thiết rằng: Bậc hiền trí và hiền đức có phạm
vào giới pháp, thì sám hối trừ diệt đúng như pháp.
6- Nhất hành giới:
Còn gọi là “nhất thiết chủng giới”. Nội dung của
loại nầy, có hai trường hợp bao gồm mười ba loại như sau:
Trường hợp một có sáu loại:
a. Hồi hướng giới:
Vì thọ và trì giới là quay ngược lại với điều ác,
quay ngược lại với mê lầm mà hướng đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
b. Quảng bác giới:
Vì trong giới Bồ Tát là thâu nhiếp hết thảy học
giới.
c. Vô tội hoan hỷ xứ giới:
Vì là giới tránh xa hai hành động buông lung tâm
ý, một là phóng theo dục lạc, hai là tự khắc khổ ép xác.
d. Hằng thường giới:
Vì người thọ trì Bồ Tát Giới tuy thân mệnh đã
hoại chung, nhưng giới thể vẫn tiếp tục tồn tại, không mất.
e. Kiên cố giới:
Vì người thọ trì Bồ Tát Giới, thì tất cả các thứ
lợi dưỡng, khen chê, phiền não không thể làm phá hỏng.
g. Thi la trang nghiêm cụ tương ưng giới:
Vì là giới tương ưng với sự trang nghiêm tốt đẹp.
Trường hợp hai có bảy loại:
a. Chỉ tức giới:
Nghĩa là giới đình chỉ và chấm dứt mọi hành vi
giết hại…
b. Chuyển tác giới:
Nghĩa là giới có khả năng thâu nhiếp tất cả thiện
và làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh.
c. Phòng hộ giới:
Nghĩa là giới có khả năng phòng hộ các điều ác,
chuyển khởi các điều thiện, và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
d. Đại sĩ tướng dị thục giới:
Nghĩa là giới làm cho thuần thục tướng mạo của
hiền đức và hiền trí.
e. Tăng thượng tâm dị thục giới:
Nghĩa là giới làm cho tăng trưởng sự thuần thục.
g. Khả ái thú dị thục giới:
Giới thuần thục dẫn đến sự ái mộ.
h. Lợi hữu tình dị thục giới:
Nghĩa là giới thuần thục làm lợi ích cho hết thảy
chúng sanh.
7- Trừ não giới:
Hay còn gọi là Toại Cầu Giới. Đó là giới mà người
thọ trì mong cầu rằng: Những kẻ khác đừng não hại họ và chúng sanh, bằng
những hành vi như : giết mất mạng sống, đối với tài sản không cho mà
lấy, uế hạnh, tà hạnh, nói dối, nói lời thêu dệt, nói ly gián, nói tục,
đánh đập.
Nếu họ mong cầu được như vậy, thì vui vẻ toại ý,
nếu họ mong cầu như vậy mà không được, thì tâm ý của họ không vui.
8- Thử thế tha thế lạc giới:
Nghĩa là Bồ Tát tu tập tịnh giới, đối với những
điều ngăn chỉ thì ngăn chỉ, những điều cần khai mở thì khai mở, những
điều cần nhiếp thọ thì nhiếp thọ, những điều cần hàng phục thì hàng phục
và trong khi thực hành bố thí ba la mật đều có mặt của trì giới ba la
mật, khi hành nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la
mật, trí tuệ ba la mật đều có trì giới ba la mật.
Bồ Tát tự mình tu tập tịnh giới và giáo hóa kẻ
khác tu tập để không những đời nầy họ an trú niềm vui, mà đời sau cũng
như vậy.
9- Thanh tịnh giới:
Hay còn gọi là Tịch tịnh giới. Nội dung của thanh
tịnh giới có mười trường hợp:
a. Sơ thiện thọ giới:
Điều thiện đầu tiên thọ giới là để làm sa môn, là
vì đạo quả Bồ Đề mà không tiếc quý thân mạng.
b. Bất thái trầm giới:
Trì giới không thái quá và không khởi lên nghi
ngờ đối với các học xứ.
c. Ly giải đãi giới:
Nỗ lực trì giới, không ham thích ngủ nghỉ.
d. Ly sự phóng dật sở nhiếp thọ giới:
Thâu nhiếp tâm ý, khiến chúng không buông lung.
e. Chánh nguyện giới:
Tu tập chánh nguyện Bồ Đề, không mong cầu tài
lợi, không ước muốn sanh thiên mà chỉ thực hành hạnh tịch tịnh.
g. Quy tắc cụ túc sở nhiếp thọ giới:
Gìn giữ và khéo sử dụng oai nghi để thi hành các
công việc, phương tiện tu hành các thiện, thân hành và ngữ hành đúng
pháp độ, sống đầy đủ chánh mạng, tất cả những lời nói dối trá, nịnh hót
và bao nhiêu loại nói sai lầm đều vĩnh viễn xa lìa.
h. Tịnh mạng cụ túc sở nhiếp thọ giới:
Tránh xa sự dối trá của tâm hành và ngữ hành cũng
như mọi sinh hoạt tà mạng.
i. Ly nhị biên giới:
Tránh xa hai cực đoan, không buông lung theo các
dục và ép xác khổ hạnh.
k. Vĩnh xuất ly giới:
Do tu tập giới mà vượt khỏi ác thú, xa lìa các tà
kiến của ngoại đạo.
l. Ư tiên sở thọ vô tổn thất giới:
Giới đã được lãnh thọ để tu tập, không để chúng
bị khuyết tật tổn giảm.
Mười nội dung này gọi là thanh tịnh giới, gọi là
Bồ Tát đại giới tụ, tu tập để chứng đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. ( Bồ
Tát Địa Trì Kinh 4 và 5, tr 910 – 918; Bồ Tát Địa Giới Kinh 4, tr 982 –
984; Du Già Sư Địa Luận 40, tr 510, Đại Chính 30).
Thật ra, sự phân tướng loại của Bồ Tát Giới như
thế nầy, cũng là để khai triển sâu rộng và chi tiết hóa của ba loại
giới, là Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu
tình giới.
Do đó, Bồ Tát tam tụ tịnh giới là giới nói tổng,
còn chín tướng loại là nói biệt.
Lại nữa, thường nói tổng đã gọn mà đủ, nói biệt
thì rườm rà mà lại thiếu.
Tuy nhiên, nếu đề cập đến cả tổng và biệt, thì nó
thông cho hết thảy các căn cơ học tập và nghiên cứu. (còn tiếp)
T.T.H.
|