UẨN, XỨ, VÀ GIỚI
Edward Conze
Các pháp được phân thành ba loại
rất quen thuộc với mọi trường phái Phật học, đó là năm uẩn, mười hai xứ
và mười tám giới.
1. Skandhas, uẩn (‘đống’,
‘nhóm’) là năm yếu tố tạo thành một nhân cách đương thể. Về mặt phân
tích, mọi dữ kiện kinh nghiệm, bản thân chúng ta cùng các đối tượng liên
quan đến chúng ta, đều có thể được phát biểu bằng thuật ngữ uẩn.
Mục tiêu của phân tích là để loại bỏ cái ‘Tôi’ mơ hồ. Các uẩn ‘xác định
tính giới hạn của nền tảng thủ chấp một bản ngã, cùng những cái thuộc về
một bản ngã.’
Chúng bao gồm bất cứ gì và hết thảy mọi cái chúng ta có thể thâu tóm,
hay nắm bắt – như là tự ngã chúng ta, thuộc về tự ngã, như liên quan đến
tự ngã. Chúng ta được khuyến dạy hãy cứu giúp, nhờ vào lý trí, những ai
đã rơi vào tâm trạng chấp thủ một ‘bản ngã’.
Cái xuất hiện trước tầm nhìn chưa
được tu tập và quan niệm ngu dốt của chúng ta như một vật hay sinh vật
có vẻ thống nhất, một đống thô trọng (ghana) có vẻ rắn chắc bên
ngoài, được phân thành năm ‘nhóm’ (rāśi, tụ, đống ),
hay bó, một thứ kết tụ các mảnh vụn cộng thêm danh hiệu, một khối được
hình thành từ năm phần tử khác biệt nhau. Như những ngôi sao trong một
chòm sao mà không ngôi sao nào thuộc về ngôi sao nào, chỉ vì chúng ta
sắp xếp chúng vào một nhóm tùy tiện, cũng vậy ‘cá tánh’ (cá ngã) của
chúng ta là một tập họp qui ước các yếu tố tạp loại, mà hết thảy đều
thuộc về một trong năm tụ nhóm, được gọi là uẩn.
Bốn uẩn đầu không có gì khó hiểu,
không có nghi ngờ gì về nội dung của chúng. (1) Sắc, Phạn ngữ rūpa,
là phần vật chất hay vật lý của vạn vật, là những gì còn lại của người
và vật khi đã loại trừ các đặc tính tinh thần và đạo đức. (2) Thọ,
Phạn ngữ vedanā, là (cảm nhận) lạc (= cái ta muốn tiếp diễn), khổ
(= cái ta muốn chấm dứt), và trung dung.
(3) Tưởng, (saṃjñā), có sáu loại, tương ứng với sáu giác quan.
(4) Hành, (saṃskārā), là mọi tính khí, khuynh hướng, động lực, ý
chí, khát vọng, xúc cảm tích cực vv..., ‘có ý thức’ hay bị đè nén, dù
luôn gắn liền với thức theo nghĩa Phật học.
(5) Thức (vijñāna) là cái quan trọng và dễ nhầm lẫn nhất trong
các uẩn. Nó là cái quan trọng nhất vì người ta cho rằng bốn uẩn kia lệ
thuộc vào nó. Trong công thức về lý duyên khởi, thức đi trước và tạo
điều kiện cho ‘danh và sắc’, là một thuật ngữ cũ chỉ cơ quan tâm-vật lý,
và trong phân tích của A-tỳ-đàm ba uẩn thuộc tâm kia được cho là do thức
quyết định.
2. Mười hai xứ (āyatana)
là (1) mắt, (2) cảnh quan, (3) tai, (4) âm thanh, (5) mũi, (6) mùi, (7)
lưỡi, (8) vị, (9) thân, (10) các xúc chạm,
(11) ý và (12) các pháp đối tượng của ý. Ngữ nguyên của từ āyatana
có vẻ rất đáng ngờ,
nhưng cách dùng nó trong Phật giáo rất rõ ràng bằng cách giải thích nó
như từ āyadrāva,
nghĩa đen là ‘ngõ xuất sinh’, ‘cửa đến’; āya là ‘khởi lên’ đứng
trước chữ vyaya, ‘rơi xuống’. Có lẽ từ tương đương chấp nhận được
là ‘nguồn gốc’, vì ‘cửa’ cũng có nghĩa là ‘nguyên nhân’ hay ‘phương
tiện’.
Vì quán về các uẩn là khởi sự
đánh đổ sự tin vào một ‘tự ngã’, cho nên quán về các xứ là đề cập đến
nguồn gốc các pháp thuộc tâm, ‘tâm và các tâm sở của nó’,
và nhìn chúng như đang diễn ra bởi sự kết hợp hay liên kết giữa các căn
với cảnh. Các xứ là nguyên nhân (kāraṇa) vì sao các sự kiện tâm
thức khởi phát hay hiện hành, và là ‘sinh địa của chúng, như cao nguyên
Deccan là nơi sản sinh các đàn gia súc’.
Với tôi thật là sai lầm khi xem các tư tưởng ‘của tôi’ là những sản phẩm
tự do của tự ngã ‘của tôi’ hay thức ‘của tôi’. Rõ ràng là chúng ràng
buộc với căn và cảnh, vốn phải tiếp xúc nhau để cho một hành vi của thức
khởi phát, và cả hai cái đều xa lạ với tôi vì tôi không thể nói là đã
tạo ra cái thể tạng sinh học của tôi hoặc các đối tượng tư duy của tôi.
Cả hai được tạo nên rồi áp đặt lên tôi.
3. Mười tám giới (dhātu) là sáu
căn, sáu cảnh, và sáu thức tương ứng với căn và cảnh. Chữ dhātu,
động từ căn dhā, ‘đặt, để’, có thể dùng cho nhiều nghĩa.
Các nghĩa quan trọng nhất là ‘yếu tố’ hay ‘nguyên nhân’ (hetu),
‘cảnh giới’ hay ‘phạm vi’. Trong ngữ cảnh này có lẽ nó có nghĩa là ‘yếu
tố cấu thành’ hay ‘nhân tố’. Quán về 18 giới là để ‘liễu giải’, bằng một
phương pháp đơn giản và dễ dàng, sự thật về cái mà ở châu Âu được biết
là ‘chủ nghĩa hiện tượng', đồng thời sử dụng định lý triết học này như
là khởi điểm cho một kết luận đặc trưng Phật giáo.
Giả dụ bạn nhìn thấy một ‘trái
cam’ trước mắt. Về phương diện ‘các giới’ kinh nghiệm này bao hàm ít
nhất ba nhân tố - một đối tượng của nhãn căn, độ cảm thụ của nhãn quan,
và một hành vi nhãn thức. ‘Trái cam’ là một dữ kiện kinh nghiệm, một đối
tượng nhãn căn được nhìn thấy, không nên bị nhầm với ‘trái cam’ một sự
kiện khách quan, khi nó ‘ở ngoài kia’, bởi lý do đơn giản là một sự kiện
khách quan, khi xuất hiện trước tâm trí, được bổ sung thêm bởi hai nhân
tố phụ, sau khi trải qua tác động của giác quan và hành vi của thức.
Không ai có thể biết nó sẽ ra sao nếu loại trừ phần đóng góp của hai yếu
tố này. Không ai có thể nắm bắt được đối tượng tự thân đúng như nó là,
mà chỉ biết được ‘trái cam’ đã được biến cải và ngụy tạo qua quá trình
chủ quan. Với những người chuyên tâm tìm hiểu bản chất thực tại, không
thể dễ dàng bỏ qua khám phá này.
Xem xét các giới như thế chỉ là
củng cố thêm ‘chủ nghĩa hiện tượng' vốn đã giữ vai trò quyết định trong
triết học Tây phương, kể từ thời Protagoras
về sau. Song những nhà Phật học không dừng lại ở đây, xa hơn họ còn tự
hỏi: Nếu toàn bộ dữ liệu là ba nhân tố thiết yếu ngang nhau này, thế tại
sao chúng ta hầu như lúc nào cũng hướng về nhân tố đầu tiên, tức đối
tượng, đến mức sự nhận biết hai nhân tố kia gần như hoàn toàn bị mờ
nhạt? Câu trả lời là hạng phàm phu đã nhiễm phải thói quen nghĩ rằng
hạnh phúc của nó tùy thuộc cách xử lý các đối tượng. Phật giáo tin đó là
điều sai lầm, và hy vọng kết quả khả quan hơn nhờ việc tập trung chú ý
vào các nhân tố chủ quan thường hay bị bỏ qua. Theo phân tích, các thành
phần chủ quan có ảnh hưởng vượt trội trong việc hình thành diện mạo một
đối tượng mà, là một ‘vật thuần là nó’, hoàn toàn không thể nắm bắt
được. Cũng vậy việc điều chỉnh của các nhân tố chủ quan này hứa hẹn đáng
bõ công hơn sự xử lý các đối tượng. Chúng ta luôn được nhắc nhớ rằng vấn
đề không phải là thế giới tác động đến chúng ta như thế, mà là mọi vật
tùy vào phản ứng của chúng ta như thế nào trước thách đố của nó. Cải tạo
thế giới ngoại tại được xem là vô bổ. Cải tạo được tâm trí của chính
mình, không còn gì có thể xâm hại chúng ta được nữa.
Phần nội tâm của con người được
thể hiện bằng các thuật ngữ ‘thức’ (uẩn thứ năm), ‘ý’ (xứ thứ mười một
và giới thứ mười hai), và ‘ý-thức’ (giới thứ mười tám). Những giới hạn
của không gian lẫn kiến thức không cho phép tôi nhận định giá trị đầy đủ
khía cạnh này của tư tưởng Phật giáo, và tôi sẽ chỉ nói đến những điều
tuyệt đối cần thiết để hiểu được những phát triển sau này được trình bày
trong phần II và III của sách này. Trước hết chúng ta phải hiểu bằng
cách nào ‘thức’, được hiểu như một ‘pháp’ (dharma), có liên quan
tới ‘tự ngã’, thứ hai là định rõ ba ý nghĩa căn bản của từ ‘thức’, và
cuối cùng khảo sát vai trò thiết yếu của ‘thức’ trong quá trình giải
thoát khỏi thế gian.
I. ‘Thức’, như ta đã thấy (chương
trước, 3.5, a), được dùng để giải thích cho một trong những chức năng
thường bị quy gán cho một ‘tự ngã’. Như chúng ta được biết, không hề có
các ‘chủ thể’, nhưng có các hành vi khách quan hóa, hành vi chú ý, hay
nhận thức. Khi sử dụng từ ‘thức’, các nhà Phật học cố nói bằng phong
cách phi nhân xưng về sự kiện theo đó mọi kinh nghiệm tâm lý diễn đến
với ‘tôi’, được biết đến bởi ‘tôi’, được nhận thức bởi ‘tôi’. Trong mọi
trường hợp liên quan tới ‘thức’, ‘Tôi’ lúc nào cũng ở hậu cảnh, dù nó
hẳn không bao giờ được nhắc đến. ‘Thức’ là ‘linh hồn’, hay ‘tự ngã’,
vì đó là thành phần uẩn mà, hơn mọi thành phần kia, nó gợi lên ảnh tượng
của một cá thể tính. Cần phải phân rã nó một cách hết sức cẩn thận: a)
nó không phải là một vật, mà là một chuỗi liên tục các hành vi; ‘tâm
thức ngày cũng như đêm, khi khởi lên thành cái này, rồi diệt mất thành
cái kia’,
b) nó không phải là vật sở hữu hay chủ sở hữu hữu ngã, mà là kết
quả của quá trình duyên sinh hợp lý của các sự kiện phi ngã.
II. Tùy theo văn cảnh, từ ‘thức’
có thể mang nghĩa (1) nhận thức thuần túy, (2) một tư tưởng, (3) ý.
1) Định nghĩa ‘thức’ là ‘nhận
thức thuần túy’, hay phân tích suy xét (ngữ căn Vi, phân tích
+ jñāna, trí), thì dễ, nhưng hầu như thực tế không thể trải nghiệm
việc nhận thức như là đơn thuần nhận thức. Điều này một phần vì lẽ cực
kỳ khó chủ tâm vào một hành vi nhận thức mà không cùng lúc chú ý đến đối
tượng của nó, hay nói cách khác, vì cố tật không sẵn sàng loại bỏ tất cả
những gì thêm vào hành vi đơn thuần đang nhận thức. Hơn nữa, ‘thức’ rất
khó nắm bắt vì, là chủ thể cơ bản của mọi hoạt động tâm lý, nó không thể
được biến thành một đối tượng cứu xét mà không mất đi tính cách đặc
trưng của nó. Một khi bị khách thể hóa hay bị nhận thức thì chủ thể
không còn được nhìn như là nó nữa. Khi nhận thức về chính nó, ý thức
phân hai thành chủ thể và khách thể. Như vậy chủ thể bị nhận thức không
còn là chủ thể nhận thức, và hy vọng nắm bắt được (ý) thức của tôi bằng
nội quan chẳng khác nào hy vọng bắt được cái bóng của mình vậy.
Thức đúng là hoạt động tâm lý ít
nhiều được xem xét cách trừu tượng; trong hành động nó là chủ thể, được
quan sát hầu như bởi chính nó. Ngược với ba uẩn thuộc tâm còn lại được
xác định cách cụ thể bởi các hoạt động hoặc đối tượng đặc trưng. ‘Thức’
trong ý nghĩa này được đồng nhất với ‘tâm’ (citta), còn ba tâm
uẩn kia được gọi là ‘tâm sở’ (caitasikā), hay các đồng hành với
tâm thức, những cái được cho là tiếp liền theo tâm, phối hợp hay liên
kết với nó, và rằng chúng phát sinh từ tâm, rồi trở thành đồng hành với
nó. Trong tưởng thì đối tượng dẫn đầu, trong thức đó là chủ thể; tưởng (saṃ-jñā,
cùng biết) là ta nhận biết cái này cái kia, thức là tự ý thức ngoài
(vi-jñāna) sự cáo tri đối tượng; tưởng đưa đến sự nhận biết chi
tiết các thuộc tính, thức là sự nhận biết tổng quát về đối tượng đang ở
đó.
2) Trong bản chất cụ thể của nó,
chứ không trừu tượng, một hành vi ý thức là một tư tưởng (citta).
Ở đây thuật ngữ được dùng không để chỉ một tư duy thuần túy, mà để chỉ
tư duy liên quan tới một đối tượng.
Một hành vi nhận thức cụ thể nhất thiết phải có hai tiền tố (căn và
cảnh) đóng vai trò quyết định tính chất của nó khiến ‘thức’ được chia
thành sáu loại, tức con mắt – nhãn thức, vv... cho đến ý thức.
Một tư tưởng thường có các hậu quả của nghiệp của nó, và lúc nào cũng
hàm chứa một số yếu tố cấu thành. Thượng toạ bộ đưa thêm vào thọ và
tưởng năm nhân tố được tìm thấy trong mọi hoạt động trí năng, là xúc (phassa),
tư (cetanā), mạng (jīvita), định (samādhi) và tác ý
(manasikāra).
Thông qua ‘xúc’ một quá trình ngoại tại trở thành – có thể nói vậy – một
phần của tâm thức, một sự biến nội tâm bắt đầu các tiến trình tri thức.
Trừ phi sáu nội xứ đã tạo ra một cảnh vực nội tâm tương phản với một
vùng ngoại giới, không có xúc nào có thể diễn ra. ‘Tư (ý chí)’ là cái
được thực hiện về điều mới xảy đến với tâm thức. Ta bận tâm về nó và
hành động có mục đích diễn ra. ‘mạng’ cho ta khả năng tiếp tục
làm điều gì đó về nó, dòng chảy tư tưởng không ngừng được tiếp nối.
‘Định’ trang bị cho tư tưởng (a) tính thống nhất nó đòi hỏi phải
có – tính cách đơn nhất của đối tượng và thống nhất của tâm thức; (b)
tính cách loại trừ, bằng sự chú ý có chọn lọc nhắm đến nỗ lực tâm lý
được duy trì liên tục; (c) tuơng ứng rút ra khỏi những đối tượng
khác. Và cuối cùng, ‘tác ý’ đáp ứng sự biến thiên (trong tác nhân kích
thích) và mở đầu quá trình thay đổi (thành thái độ tâm lý).
3) ‘Thức’ cũng thường được dùng
với nghĩa là ‘ý’ (manas). Trong trường hợp đó có thể là chúng ta
nói về ‘tri thức’, và các ‘pháp’ (dharmas) tương ứng với nó có
thể được gọi là các ‘đối tượng của tri thức’. Trong tri thức, là căn thứ
sáu, hoạt động tự phát của ý được thấy rõ hơn trong năm sắc căn kia. Ở
đó đa phần nó tự cung cấp (theo cách kiến tạo dữ liệu), và nhận rất ít
từ ngoại giới (bằng cách tiếp nhận dữ liệu). Có bốn chức năng được gán
cho ‘ý’: (1) là cơ quan tiếp nhận đặc biệt, nhạy bén với năm loại tâm
cảnh là thọ, tưởng, hành (nhận biết như một loại ‘nội xứ’), sắc vi tế do
tâm tạo, không thấy được, và Niết bàn ở mức độ nào đó. (2) Tổ chức sắp
xếp các dữ liệu của những căn khác, hợp nhất chúng và biến chúng thành
tri giác về người hay vật, nghĩa là thành cái mà chúng ta gọi là đối
tượng tư tưởng. (3) Là ‘tri thức điển hình’ nó hành sử các chức năng lý
luận, phán đoán, ký ức, hoạch định và tưởng tượng. (4) Đối với hết thảy
mọi khách thể, chính ý phân biệt cái gì thuộc về ngã cái gì thuộc về
ngoại giới, do đó nó là nguyên nhân chính đưa đến các hành vi ‘tạo ra
cái Tôi’ (aham-kāra).
Trong hết thảy các căn, ‘ý’ là
cái mang tính quyết định nhất đối với lợi ích của ta, vì chỉ những hành
động của nó mới tạo nghiệp thiện hay bất thiện. ‘Một hành vi của thân
hay khẩu tạo nghiệp thiện hay bất thiện là do ý đằng sau nó.’
Trong bài kệ được cho là quan trọng đáng để mở đầu kinh Pháp cú: tất cả
các pháp đều do ý chi phối, chủ đạo, và tạo ra.
‘Nếu một người nói hay hành động với tâm ý xấu, khổ não sẽ theo sau y,
như cỗ xe lăn theo con vật kéo. Nhưng nếu y nói hay làm với ý thanh
tịnh, an lạc sẽ theo sau y, như bóng đi theo hình.’ Nói cách khác, tất
cả những gì là chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh thần, đều được hình
thành bởi những gì chúng ta đã nghĩ. Những việc ‘chẳng đặng đừng’ không
phải tự dưng được áp đặt lên chúng ta, mà mọi người đều, qua những ý
nghĩ trong quá khứ, đã chọn cho mình hoàn cảnh vật chất cũng như tạo ra
cá tính, khả năng và khí chất của mình. Như vậy chỉ có điều ngự ý mới có
thể cải thiện hoàn cảnh của chúng ta, nội tâm cũng như ngoại giới. Đây
là lý thuyết cốt lõi của đạo Phật, dù có vẻ khó nghe đối với những lỗ
tai hiện đại.
III. Chân lý nằm ở tận cùng nội
tâm con người
là tiền đề của mọi nền triết học nội quan và thần bí. Thức, hay tư
tưởng, là phần bản thân nơi chúng ta là chính chúng ta hơn cả. Chính đó
là nơi mà con người có thể dễ dàng tin rằng ta là chính ta, chỉ có bản
thân ta và bởi tự thân ta mà thôi. Thức thuần túy do vậy, khi đạt đến
không phải bằng trí năng trừu tượng, mà bằng sự nhận chân cốt lõi thầm
kín nhất của bản ngã, sẽ giống như ‘tinh thần’ thuần tịnh đơn nhất,
trong tự tánh thường an lạc. Giữa các nhà học Phật đã có một số khuynh
hướng muốn rút ra kết luận này, và sự cô lập của thức đã từng được coi
như một phương pháp đạt đến Niết bàn. Thế nhưng nghịch lý là tư tưởng
thuần túy, khi diễn ra với chính nó, cơ bản lại hóa thành phi tư tưởng.
Các định vô sắc là các phương
pháp khắc phục và loại bỏ cảnh (đối tượng), sự y chỉ trên nó, và cái lấy
nó làm sở y. Bậc định thứ hai duy nhất hướng đến một loại thức được lược
đến mức không còn gì ngoài hư không làm đối tượng; thức này rất tĩnh
lặng, gần như thoát khỏi động loạn hay không còn sợ bị động loạn, gần
như không nhiễm ô và thuần khiết. Vì thức, do tách ra khỏi những gì
không thực sự là nó, càng lúc càng trở nên thuần nhất, càng trở nên muội
lược hơn. ‘Không còn vui thích nơi những cảm thọ từ nội tâm hay ngoại
giới, vị ấy tu tập một cách tỉnh giác, và làm cho thức ngưng nghỉ.’
Trong định ‘phi tưởng phi phi tưởng' thức tiến đến chỗ tắt ngúm, là nơi
‘tư tưởng không phải là tư tưởng cũng không phải phi tư tưởng.’
Vượt lên trên nữa là ‘diệt tận
định’ (nirodhasamāpatti), hay là ‘sự đình chỉ tưởng và thọ’. Phật
Âm (Buddhaghosa)
mô tả đó là ‘sự đình chỉ hết thảy các pháp thuộc tâm và các tâm sở của
nó, do bởi chúng dần dần đi đến diệt tận’. Đây có vẻ là điều đáng ước
mong của những người đã chán việc đối mặt thường xuyên trước các pháp
hữu vi chóng tan rã, những người quyết tâm sống an lạc trong chính cuộc
đời này bằng trạng thái vô tâm (a-cittaka), và nhất thời đạt đến,
trong bảy ngày chẳng hạn, cảnh giới tịch diệt tương đương với Niết bàn.
Nguyên nhân khiến hành giả đạt đến vô tâm là do hướng các nỗ lực của ông
đến sự diệt tận,
và điều này phân biệt rõ trạng thái vô tâm đó khác với trạng thái vô
tưởng của thế gian. Xuất khỏi định này, ông càng càng hướng tâm đến sự
viễn ly và Niết bàn vĩnh cửu.
Và định diệt tận gần như siêu việt đến mức không thể nói nó là hữu vi
hay vô vi, thế gian hay xuất thế gian, ‘vì nó không có (xác định)
tự tánh riêng (sabhāvato natthitāya).
Đây là loại định rất uyên áo, được đánh dấu bằng sự vắng bặt tri giác và
tư tưởng, rất gần với cứu cánh tối thượng, dù vị trí của nó trên Thánh
đạo có phần khó xác định.
Nó gần như là Niết bàn, và một vị Phật đạt đến vào giây phút đắc Phật
quả.
‘Hành giả xuất định này giống như người đã đến Niết bàn rồi quay trở
lại.’
Như vậy là Thế Thân (Vasubandhu) về cơ bản đồng ý với Phật Âm.
Lại nữa, Luận Abhidharma-kośa
còn đặc biệt cố gắng định nghĩa ‘vô tâm’ vốn được xem như đặc trưng của
diệt tận định. Trước tiên Luận đặt vấn đề liệu đây có phải là hoàn toàn
vô tâm tuyệt đối không, hay vẫn tồn tại một tiềm thức cực kỳ vi tế
. Thứ hai, giả định rằng ‘vô tâm’
đúng nghĩa là vô tam, và hiện hành không có tâm, không có thức, không có
nhận thức đối tượng, thế thì phải chăng định này đơn giản là một trạng
thái si ngốc như không còn tiếp xúc với bất cứ gì, dù là tiếp xúc với
thực tế Niết bàn vi diệu? Tuy nhiên ngay cả khi vắng bặt mọi hoạt động
tâm thức, các tiến trình sinh lý học của cơ thể vẫn tiếp diễn, và người
ta nói hành giả ‘xúc chạm Niết bàn bằng chính tự thân’. Thế Thân cũng
nói ‘các đại chủng ở trong trạng thái bình đẳng khiến tâm không sinh
khởi’.
Đây là một điều kiện vật lý đặc biệt còn ngăn hành giả khi nhập diệt tận
định không bị tổn hại bởi lửa, nước, gươm dao, hay bị bất cứ ai giết
hại. Thực vậy, trong mọi trường hợp ông không hề bị gây hại. Thứ ba,
thuật ngữ ‘vô tâm’ tự nó đã rất dễ bị hiểu lầm. Một cái máy điện toán,
một cục đá, cũng ‘không có tâm’, nhưng không hề gần Niết bàn hơn bất cứ
ai trong chúng ta.
Khi hành giả đã vượt lên một điểm
nào đó trên con đường hướng đến Niết bàn, ông bước đi, có thể nói là,
trên lưỡi dao cạo, và điều gây lo ngại hơn, theo chính những tiền giả
định của Phật giáo, không lý do trực tiếp đáng thuyết phục nào có thể
giải thích tại sao ông không nhắm đến một mục tiêu thấp hơn nhiều. Lấy
ba ví dụ làm rõ điểm này. Việc theo đuổi tánh không rất khó phân biệt
với triết thuyết hư vô luận vốn coi mọi cứu cánh đều mơ hồ như nhau, mọi
chân lý đều đáng hoài nghi và mọi thực hành đều vô hiệu quả như nhau.
Thứ hai, nếu giải thoát khỏi khổ đau là mục tiêu của Phật giáo, tại sao
không ai hài lòng với việc tự cứu mình, không chịu cất lên mình gánh
nặng quá sức của một Bồ tát hay Phật? Và thứ ba, nếu những đau khổ mà
chúng ta không thích và kinh sợ lại gắn liền với nhận thức và tình trạng
ý thức của chúng ta về cái gì đó, tại sao chúng ta không thử chấm dứt
chúng bằng cách thành tựu một tâm trạng tương đối vô thức thường trực,
chẳng hạn như các vị ‘vô tưởng thiên’
trong vũ trụ quan Phật giáo, và bằng cái có thể được tạo ra bởi các hành
giả trong khi nhập “vô tưởng định” có thể tiếp diễn sau định thứ tư?
Giấc ngủ xem ra hấp dẫn chẳng kém gì tỉnh thức (bodhi, giác) tuy
là phản nghĩa của nó. Trong mọi trường hợp, đâu là khác biệt thực tiễn
giữa trạng thái vô tâm và loại định diệt tận tưởng và thọ?
Trong cố gắng xác định sự khác
nhau này, luận Abhidharmakośa minh giải rằng Phật giáo không chỉ
bận tâm những muốn lãng tránh kinh nghiệm không như ý, mà còn được thúc
đẩy bởi tầm nhìn hơn về một thực tại cao cấp. Sự chứng đắc vô tưởng
định và diệt tận định có chung đặc điểm là cả hai đều đình chỉ tâm và
tâm sở, những thứ đồng hành với nó.
Lực (dharma) chặn đứng dòng tâm thức (dharma) trong một
thời gian dài trên các trời vô tưởng tác dụng như cái đập ngăn chặn dòng
chảy một con sông. Nhưng điểm khác nhau nằm ở chỗ ‘chúng sinh vô tưởng’
chỉ là một loại thượng đẳng thần cũng phải chết sau một thời gian. Khi
tưởng thức tỉnh lại trong họ, họ lại tái sinh trong cõi dục giới, và
giấc ngủ dài của họ như vậy là kết thúc trong cơn tỉnh giấc khá sầu
thảm. Hơn nữa, các vị trời vô tưởng bị hấp dẫn bởi hy vọng ‘thoát ly’ (niḥsaraṇa)
khỏi thế giới này, sự chứng đắc diệt tận định bằng một khái niệm tích
cực về tịch tĩnh (śānta).
‘Vô tưởng’ không ngăn chặn việc tiếp tục tái sinh, và chỉ được hạng phàm
phu thực hành, trong khi các vị ‘thánh’ nhìn sự chứng đắc này ‘như một
vách đá sừng sững và là tai hoạ’
chỉ trì hoãn việc giải thoát mà thôi. Nói cách khác, phàm phu không thể
chứng đắc diệt tận định vì họ sợ bị hủy diệt, và cũng vì, bởi vì nó dự
tri rằng Thánh đạo tác động như một năng lực hữu hiệu, cho nên chỉ những
ai đã ‘nhìn thấy’ Niết bàn mới có thể quyết tâm nhập định này.
Trong các văn tịch của bộ phái
Nguyên thủy rất hiếm khi thấy từ a-citta, a-cittaka,
và gần như nó luôn được dùng với ý nghĩa phỉ báng, là ‘không hiểu biết,
vô nghĩa, vô tư lự, vô thức’. Tuy nhiên họ cũng không bất đồng với Long
Thọ trong quan điểm: ‘Nơi mà tâm hành diệt, ngôn ngữ diệt; nơi đó Pháp
tánh như là Niết bàn, không khởi không diệt.’ Còn trong Thiền Phật giáo
‘vô niệm’ được tán dương là chứng đắc tối thượng. Sự không nhất quán về
thuật ngữ này không nhất thiết ngăn cản tính đồng nhất căn bản về quan
điểm và khát vọng.
Dịch Việt: Hạnh Viên
|