Nhân đọc
TRIẾT HỌC THẾ THÂN
bản dịch
Việt
Tuệ Sỹ
Saigon trước năm 1973, có khoảng chừng ba hay bốn “dàn máy tính.” Con số
quá khiêm tốn. Vì vậy, ngay trong giới Đại học, đây là nói về Đại học
Vạn hạnh, nhất là tại các trường thuộc khoa học nhân văn, số sinh viên
hiểu biết về các quy tắc hoạt động của vi tính không nhiều, nếu không
nói là hầu như không có. Tất nhiên, trong một phạm vi hạn chế, hoạt động
của vi tính đã bắt đầu gây ảnh hưởng trong đời sống của chính sinh viên,
học sinh một cách vô hình. Cụ thể, đã có một lớp học sinh chịu ảnh hưởng
trực tiếp của vi tinh đối với tương lai của mình: đó là số học sinh được
gọi là “tú tài IBM.” Đối với số học sinh này, “chiến trường” hay “sân
trường” sẽ tùy thuộc hoạt động của vi tính. Nghĩa là tùy thuộc khả năng
xử lý của vi tính, mặc dù ít ai hiểu hoạt động xử lý của vi tính được
vận hành như thế nào. Cho nên, vào năm 1972, khi Lê Mạnh Thát, trên Tạp
chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh, cho đăng loạt bài nghiên cứu và
đề nghị một lập trình khả dĩ để xử lý ngôn ngữ phiên dịch, thì điều này
đã gây ra sự ngạc nhiên không ít. Tất nhiên, một số người hoài nghi về
khả năng thay thế bộ não con người của vi tính, dù chỉ trong một giới
hạn nào đó, và cho rằng quan điểm Lê Mạnh Thát nêu lên trong bài khảo
cứu ấy là hoang tưởng. Một cách nào đó người ta lo ngại có nguy cơ là
máy móc sẽ thay thế bộ não của con người trong những hoạt động mà hình
như chỉ đặc hữu nơi con người, như khả năng chuyển tải tư tưởng chẳng
hạn. Nói chung, dù thích thú, hay hoài nghi, hầu như không có ai có đủ
cơ sở lý luận để chứng minh giá trị chân lý của vấn đề.
Ngày
nay, đối với đa số chúng ta, cụm từ “xử lý thông tin” của vi tính không
còn quá xa lạ. Ý nghĩa triết học của nó thì chằng thành vấn đề. Bởi vì
chẳng có mấy ai lại nêu thắc mắc, hay hoài nghi triết học, đối với sự
tồn tại của cây viết hay tập giấy. Nó tồn tại như những tồn tại khác.
Tuy vậy, người ta cũng biết rằng nó hoạt động theo định hướng không hoàn
toàn đồng nhất với hoạt động của mọi tồn tại khác. Nó có, hay chính nó
là, cơ sở riêng biệt để xử lý giá trị tồn tại của nó cùng những mối quan
hệ của nó với thế giới còn lại. Như thế, nó là kết quả của một quá trình
xử lý, và rồi chính nó đang tham gia một quá trình xử lý nữa để cho ra
những kết quả khác. Trước hết, nó là kết quả của một quá trình xử lý với
nhiều dữ liệu được đặt trong một quan hệ nào đó. Mỗi dữ liệu là một
lượng thông tin có được từ những tồn tại cá biệt. Sau đó, nó sẽ tham gia
trong quá trình xử lý khác như là dữ liệu để cho ra một hay nhiều kết
quả khác nữa. Vậy thì, “quả” hay kết quả ở đây có ý nghĩa gì đối với
nhận thức của chúng ta? Nếu chúng ta nói “quả” là kết quả của một hay
nhiều nguyên nhân như thế nào đó, và truy nguyên cho tới tận cùng ta sẽ
phải thừa nhận một nguyên nhân tối sơ. Vấn đề tới đó sẽ được nhận thức
theo một hướng khác. Nhưng nếu chúng ta nói một “quả” là kết luận của
một khối lượng thông tin đã được xử lý, vậy thì, tất cả mọi tồn tại mà
chúng ta nói đến, đối tượng của triết học hay khoa học, xã hội hay tôn
giáo, thảy đều xuất hiện và tồn tại như là một hay những dữ liệu thông
tin. Nếu vậy, vấn đề nữa lại được đặt ra: thế giới này, mà ta đang sống
trong đó, là thực hay bất thực? Thế nhưng, dù đặt câu hỏi theo cách nào,
chúng ta cũng khó đi đến kết luận rằng thế giới này vốn là duy tâm, theo
nghĩa phổ quát của từ này.
Điểm
nổi bật là hầu như tuyệt đại đa số những người học Duy thức từ Thế Thân
đều có xu hướng Duy tâm luận theo nghĩa: “ngoài thức, không có gì hết.”
Điều kỳ dị hơn nữa là, nói theo cách nói của Lê mạnh Thát, “thất bại
kỳ dị nhất (the strangest failure) của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại quy
kết nơi Thế Thân một thứ duy tâm luận tuyệt đối, theo đó ngoài thức
không có gì tồn tại. (as some profound thesis of the absolute idealism
and the like, according to which nothing exists except the
consciousness).”
Vì
sao diễn ra tình trạng thư thế? Nguyên nhân ở chỗ sự hiểu biết của những
nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và cấu trúc ngôn ngữ trong tư tưởng của Thế
Thân. Bởi vì trong những gì Thế Thân viết, có quá nhiều “bẫy sập” của
ngôn ngữ và luận lý (traps of words, traps of similarity and traps of
descriptions). Tác giả đã bỏ ra tương đối khá nhiều công phu để tháo
gỡ những bẫy sập ấy. Nhưng sự tháo gỡ này trong nhiều trường hợp làm sụp
đổ các công trình kiến trúc tư tưởng chung quanh các tác phẩm của Thế
Thân, và điều này không khỏi gây nên nhiều phản ứng khác nhau.
Một
trong các từ này mà chúng ta có thể dẫn ra ở đây, là từ vipāka.
Các dịch giả Hán trước Huyền Trang dịch nó là quả báo. Thí dụ chúng ta
có thể tìm thấy một đoạn dịch trong Pháp hoa của La-thập: “Pháp
sư cũng thấy trong đó tất cả chúng sanh cùng nghiệp, nhân duyên, quả báo
và sanh xứ
及業因緣果報生處.” Nguyên văn Sanskrit của đoạn dịch này như sau: ye
ca tasmin sattvā upapannā tān sarvān drakṣyati karmavipākaṃ ca teṣaṃ
jñāsyatīti. Trong đó, từ Sanskrit karmavipāka được dịch là
nghiệp và quả báo. Do ảnh hưởng của La-thập trong Phật học Trung quốc
nên từ này trở thành phổ biến. Một dịch giả có uy tín khác là Chân Đế
cũng dịch nó là quả báo.
Khi
nói đến nghiệp, người ta nói đến quả báo của nó như nhận thức phổ thông
rằng trồng đậu thì thu hoạch đậu, trồng dưa thì thu hoạch dưa. Nhận thức
này tất nhiên dễ thuyết phục và dễ dàng được chấp nhận phổ biến. Nhưng
nó đặt cho nhận thức về nghiệp trong mối quan hệ với kết quả của nó
nhiều nan giải. Tất nhiên bác nông phu gieo giống lúa nào thì sẽ thu
hoạch loại lúa đó, giống và quả, hay nhân và quả, đồng loại. Tuy vậy,
người ta cũng không quên sức lao động của bác đã đổ vào đấy, mà kết quả
cuối cùng cần thu hoạch của bác không phải là dừng lại ở lúa và thóc. Nó
có thể là nhà cửa, dinh thự; và đôi khi có thể là địa vị của con cái
mình trong xã hội nữa. Nhân tức là khối lượng lao động mà bác gieo vào
cánh đồng; nó vô hình, và không phải là cái gì dễ chịu. Dầm mưa, dãi
nắng, toan tính con nước khi đầy khi vơi. Nhưng thành quả mà bác nhận
được phải nói là cái gì đó rất khả ái, đáng ưa thích, đáng mong muốn. Rõ
ràng, nhân và quả ở đây không còn đồng loại nữa. Bác trồng dưa, nhưng
cái mà bác thu hoạch mang tính quyết định cho cả quá trình lao động thì
không phải là dưa. Nếu chúng ta sống trở lại với nền kinh tế tự cung tự
cấp, thì nhận thức nhân quả theo lối giải thích trồng dưa được dưa là
chân lý, mà gần như là chân lý duy nhất. Nhưng khi chúng ta bước vào
thời đại kinh tế tài chánh, giải thích ấy không còn áp dụng được nữa.
Các
Luận sư A-tì-đàm đã thấy rõ những nạn đề đặt ra cho nhận thức về quan hệ
nhân quả, cho nên họ đưa ra một khung đề nghị là có năm loại kết quả
khác nhau, như là kết quả của một hay nhiều nguyên nhân, hay tụ hội của
nhiều yếu tố, điều kiện. Trong năm loại quả đó, dị thục là một. Thế Thân
đã cho một định nghĩa cô đọng như sau, trong luận Câu-xá:
phalakālaprāptaṃ vā karma vikāpa ity ucyate, nghiệp khi đạt đến giai
đoạn kết quả của nó, bấy giờ nó được gọi là dị thục. Nhưng trong cách
dịch của Chân Đế, nó được gọi là quả báo: “Nghiệp, đến lúc quả báo chín,
nó được gọi là quả báo.” Báo tức báo ứng. Kết quả do nghiệp là sự báo
ứng, giống như nói giết người thì phải đền mạng: mắt đền mắt, răng đền
răng. Nhận thức về nghiệp theo ý nghĩa đó là biện hộ cho chủ trương trả
thù: “Ai giết Cain, kẻ đó sẽ bị trả thù bảy lần.” Trong ý nghĩa này, các
nhà nghiên cứu Phật học phương Tây dịch từ vipāka tiếng Phạn
thành ra là retribution. Cách dịch và hiểu này góp phần vào việc
quy kết tư tưởng của Thế Thân vào loại duy tâm tuyệt đối. Tác giả
Triết học Thế Thân đề nghị cách hiểu và dịch khác:
“Với
chính quan điểm này trong đầu mà chúng tôi đã dịch từ ‘vipāka’ là ‘xử
lý’ (processing) thay cho những gì thường được chuyển ngữ là ‘hoàn báo’
(retributory), như một điều rất hiển nhiên từ những gì đã nói. Cách dịch
sau, đối với chúng tôi, hình như không bảo đảm mặc dù chính xác về mặt
ngữ nguyên học, bởi vì nếu chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ
thì không có gì trong chuyển biến đó được xem là ‘hoàn báo’ hay ‘tích
chứa’ (store). Hơn nữa, vipāka có nghĩa là ‘chín’ (ripening), hiển thị
một tiến trình qua đó một sự vật tự chuyển từ một trạng thái này sang
một trạng thái khác. Và vì chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ
cho nên sự ‘chín’ của một ấn tượng ngôn ngữ không thể được chuyển ngữ
thành từ nào hay hơn từ ‘xử lý’, nhất là khi từ này được hiểu theo cách
dùng hiện nay trong khoa học thông tin.”
Độc
giả Việt nam nếu đã từng quen với Duy thức học sẽ gặp khá rắc rối trong
cách dịch mới này. Và đây là điểm mà chúng ta thấy cũng không đơn giản
cho người dịch Triết học Thế Thân từ tiếng Anh sang tiếng Việt
sao cho người đọc dễ hiểu hơn.
Chúng ta thử đọc nguyên văn một đoạn tiếng Anh của chính tác giả sau
đây:
“The
transformation of consciousness is a verbal construction; what is
verbally constructed by it does not exist; therefore, whatever there is,
is all merely what causes one to know. For consciousness has all the
seed, the transformation of it proceeds in such and such ways through
mutual influence so that such and such verbal construction is produced.
When a previous processing is completed, the impressions of action
together with the impressions of the double-form cognition produce
another processing different from it”.
Đoạn
văn nếu được dịch sát sẽ như vầy: “Sự biến thái của thức là một cấu
trúc ngôn ngữ. Cái gì được cấu trúc có tính cách ngôn ngữ, cái đó không
tồn tại. Vì vậy, bất cứ cái gì có, cái đó tất cả chỉ là cái làm cho ta
biết. Vì thức có tất cả hạt giống, sự biến thái của nó tiến hành như thế
như thế qua ảnh hưởng hỗ tương sao cho cấu trúc ngôn ngữ như thế như thế
được sản xuất. Khi một xử lý đi trước được hoàn tất, những ấn tượng của
hành động cùng với những ấn tượng của tri thức dạng kép sản xuất ra xử
lý khác với nó.”
Sau đây là nguyên văn Sanskrit của Thế Thân trong
Tam thập tụng,
Triṃśikā 17-19:
vijñānaparināmo'yaṃ vikalpo yad vikalpyate/ tena tan nāsti tenedaṃ
sarvaṃ vijñaptimātrakam// sarvabījaṃ hi vijñānam parināmas tathā tathā//
yāty anyonyavasād yena vikalpaḥ sa sa jāyate// karmano vāsanā
grāhadvayavāsanayā saha/ kṣīne pūrvavipāke'nyad vipākam janayanti tat//
Đọc
đoạn dịch từ tiếng Anh, với độc giả Việt nếu không biết gì về Duy thức
thì khả dĩ, nghĩa là không có vấn đề gì để ngạc nhiên hay thắc mắc, bối
rối, rằng đoạn văn nói về cái gì, mặc dù không hẵn đã hiểu nó rất rõ.
Nhưng với người đã đọc Duy thức, cơ bản là đọc Tam thập tụng qua bản Hán
dịch của Huyền Trang, thì nó có vấn đề. Chúng ta hãy đọc bản Hán dịch
này để so sánh: Thị chư thức chuyển biến/ Phân biệt sở phân biệt/ Do thử
bỉ giai vô/ Cố nhất thiết duy thức/ Do nhất thiết chủng thức/ Như thị
như thị biến/ Dĩ triển chuyển lực cố/ Bỉ bỉ phân biệt sanh/ Do chư
nghiệp tập khí/ Nhị thủ tập khí câu/ Tiền dị thục ký tận/ Phục sanh dư
dị thục/ 是諸識轉變
[02]分別所分別
由此彼皆無 故一切[03]唯識
由一切種識 如是如是變
以[04]展轉力故
彼彼分別生 由諸[05]業習氣 [06]二取習氣俱
前異熟既盡 復生餘異熟
Ở
đây chúng ta hãy thử đề nghị theo cách dịch thông thường, dựa theo bản
Hán. Độc giả chắc sẽ thấy tương đối dễ hiểu hơn, vì nó quen thuộc hơn:
“Sự chuyển biến của các thức này thành phân biệt và sở phân biệt. Bởi
những cái đó đều không có, nên tất cả duy chỉ là thức. Do Thức nhất
thiết chủng (chuyển) biến như vậy và như vậy cho nên phát sanh sự phân
biệt thế này thế kia. Do các tập khí của nghiệp, cùng câu hữu với tập
khí của hai thủ (năng và sở thủ), khi dị thục trước đã hết, dị thục khác
tiếp tục sanh.”
Đối
chiếu nó với đoạn tiếng Anh, chúng ta hình như không thấy trong tiếng
Anh có từ nào có nội hàm phân biệt, cũng như duy thức, tập khí và
nghiệp, là những bộ từ khóa để hiểu Duy thức.
Trước hết, chúng ta nói đến từ “phân biệt” trong tiếng Hán. Đây là từ
phổ biến, thông dụng nhất của những người học Đại thừa. Phân biệt ta và
người, phân biệt sanh tử và Niết bàn, chúng sanh và Phật, là căn bản của
mê mờ, dẫn đến sanh tử. Các nhà Đại thừa nói như vậy. Cũng như ngày nay
chúng ta nói: vì phân biệt chủng tộc, phân biệt tôn giáo, vân vân, nên
thế giới trở nên xung đột nghiêm trọng.
Vậy,
trong tiếng Phạn, từ này nguyên dạng nó là gì? Đó là vikalpa. Giở
từ điển Phạn-Nhật của Wogihara, chúng ta tìm được rất nhiều từ Hán dịch
khác nhau mà các dịch giả Phạn Hán đã dùng: phân
分, tư
思, niệm
念, tưởng
想, tư duy思惟,
phân biệt分別, năng phân biệt能分別,
tưởng tác想作, kế trước
計著, chấp trước執著,
dị phân biệt異分別, hư phân biệt虛分別,
chủng chủng phân biệt種種分別, dị
thoát sai biệt異脫差別, sai biệt差別,
nghi疑, vọng tưởng妄想,
hư vọng phân biệt虛妄分別. Trong các
từ Hán dịch này, từ nào có nội hàm có thể chuyển tải tư tưởng của Thế
Thân?
Về
phía khác, ở phương Tây, người ta hiểu từ này như thế nào? Tác giả dẫn
Biardo trong Théorie de la connaissance et philosophie de la parole
dans le brahmanisme classique:
“Cependant,
d'autre part, la notion de vikalpa revient ā chaque page du texte, sous
la forme verbale ou comme substantif. Nous l'avons traduite jusqu'ici
par ‘imagination’, ‘imager’.” Nhưng, đằng khác, khái niệm vikalpa
trở lại trong mỗi trang của bản văn, dưới dạng động từ hay thể ngữ. Cho
đến nay, chúng tôi dịch nó là “sự tưởng tượng”…
Và
tác giả Triết học Thế Thân nhận xét:
“Không
có một tí bằng chứng nào để chuyển ngữ nó thành ‘sự tưởng tượng’ hay
‘cấu trúc khái niệm’, v.v., những diễn dịch đã góp phần không nhỏ cho sự
ngộ nhận, nếu không muốn nói là làm méo mó, tư tưởng Thế Thân bằng những
mô tả như ‘quan niệm luận’ hay ‘duy tâm luận’, v.v., và cũng là cái sinh
khởi những khẳng định thường xuyên được lập đi lập lại như ‘Du già tông
chủ trương thức là thực tại duy nhất’, v.v…”
Tác
giả đề nghị từ dịch mới: vikalpa = verbal construsction,
cấu trúc ngôn ngữ, mang tính ngôn ngữ. Từ này trước đó cũng đã được
Stcherbatsky, trong Buddhist Logic, dịch tương tợ. Câu tiếng Phạn sau
đây của Trần-na được dịch sang tiếng Anh bởi Stcherbatsky và Lê Mạnh
Thát gần giống nhau: tatra pratyakṣaṃ kalpanāpoḍham abhrāntam.
Stcherbatsky: “Direct knowledge means here neither construction
(judgment) nor illusion” (Nhận thức trực tiếp ở đây có nghĩa là
không có sự cấu trúc (phán đoán) và cũng không có sự ảo giác). Lê mạnh
Thát: “perception is a cognition free from verbal construction and
without illusion” (tri giác là sự nhận thức mà không qua cấu trúc
ngôn ngữ và không có ảo giác). Nhưng Stcherbatsky vẫn không thoát khỏi
cách hiểu truyền thống rằng “phân biệt vọng tưởng.” Ông nói: “kalpanā
meaning primarily ‘arangement’ (yojanā) and vikalpa meaning choice,
dichotomy (dvaidhī-karaṇa) are both used in the sense of imagination,
but pure imagination (utrpekṣaṇa-vyāpāra) is distinguished from the
constructive imagination (lingaja-vikalpa).” (Kalpanā, trước hết có
nghĩa là “sự phối trí” (yojanā) và vikalpa có nghĩa là sự lựa chọn, phân
kỳ (dvaidhī-karaṇa); cả hai được dùng theo nghĩa là sự tưởng tượng,
nhưng là sự tưởng tượng thuần túy (utprekṣaṇa) được phân biệt khác với
sự tưởng tượng có tính cấu trúc.)
Thật
ra, nguyên ủy, trong cách dùng phổ thông, từ vikalpa không hàm
nghĩa phân biệt theo kiểu phân biệt vọng tưởng. Thí dụ, nhà Luật học
Phật giáo Nghĩa Tịnh dịch nó là “phân biệt” khi chỉ trường hợp các Tỳ
kheo nhận y mới cần làm thủ tục xác nhận sở hữu chủ hợp pháp, mà các nơi
khác nó được dịch là “tác tịnh.” Đó là nghĩa mà Stcherbatsky nói nguyên
ủy nó là “sự phối trí.”
Từ
này như vậy là một bẫy sập cần tháo gỡ. Cho nên tác giả đã bỏ công tìm
lại trong lịch sử tư tưởng Ấn độ ai đầu tiên sử dụng nó, và dùng theo
nghĩa nào. Tác giả nói:
“Và
cách dùng này rõ ràng đã xuất phát từ thuật ngữ tế lễ của Mīmāṃsaka,
trong đó từ này được dùng để chỉ cho tất các các trường hợp trong đó một
buổi lễ nào đó đã có trên một nghi thức hoặc hai dạng khác nhau của cùng
một nghi thức, và chúng đều có thẩm quyền như nhau cũng như mang lại kết
quả giống nhau. Những trường hợp này được gọi là ‘cấu trúc ngôn ngữ’ mà
ý nghĩa của nó đã quá hiển nhiên: thật ra chỉ có một nghi thức, nhưng do
các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau cho nên đã có hai hoặc nhiều hơn, mà
những nghi thức này, trong sự phân tích cuối cùng, đều có cùng nghĩa. Vì
thế, xét theo sự phát triển lịch sử này, định nghĩa trên của Yogasūtra
được minh chứng đầy đủ và làm sáng tỏ thêm một số điều bí ẩn chung quanh
từ ngữ này, những bí ẩn đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu thuộc lãnh vực
này phiên dịch sai lạc từ ngữ trên là ‘sự tưởng tượng’.”
Điều
đó có nghĩa là thế giới mà ta thấy đang tồn tại đó chỉ là một cấu trúc
đã được xử lý. Một cấu trúc được lập trình tuân thủ các quy tắc ngữ
pháp. Nói cách khác, đối tượng được đưa vào thức là dữ liệu được đưa vào
bộ vi xử lý của thức sau khi đã được mã hóa theo một ngôn ngữ lập trình
nào đó. Các thứ được đưa vào để lưu trữ và xử lý, đó là những ấn tượng
(impressions), hay những dấu ấn của hành động. Giống như ta đưa dữ liệu
vào bộ vi xử lý bằng những xung điện hoặc có hoặc không. Tác giả nói:
“Thật
vậy, toàn bộ tiến trình chuyển biến là sự xử lý một ấn tượng thành một
mô tả về một vật, không hơn không kém. Vì thế, cái ta biết về ngoại cảnh
hoàn toàn tùy thuộc sự xử lý đó. Qua nó, một ấn tượng do một đối tượng
để lại có thể kích khởi thức của chúng ta thành một sự nhận biết về
chính chúng ta và về ấn tượng mà đối tượng để lại.
Như
vậy, điều Thế Thân muốn nói trong tiếng Phạn: idaṃ sarvaṃ
vijñaptimātrakam, mà Hán dịch nói là “nhất thiết duy thức”, tất cả
duy chỉ có thức; bấy giờ, qua cách dịch lại của Lê Mạnh Thát, nó được
hiểu là therefore, whatever there is, is all merely what causes “one
to know”: tất cả những gì đang tồn tại đó đều chỉ là cái làm cho ta
biết. Nói cách khác, tất cả chỉ là dữ liệu thông tin.
Bởi
vì, trong đó, từ vijñapti, mà trong các Hán dịch thường xem như
đồng nghĩa với vijññāna, hay là thức. Mặc dù, đôi khi cần phân
biệt, Huyền Trang dịch nó là “liễu biệt”, Trong trường hợp khác, liên hệ
đến nghiệp, Huyền Trang dịch nó biểu, mà sang tiếng Pháp (hay
tiếng Anh cũng vậy) nó được dịch là “information” (thông tin) bởi
Louis de La Vallée Poussin (L’Abhidharma de Vasubandhu, chap.
iv). Trong cách dịch của Huyền Trang, hai nội hàm này không quan hệ gì
với nhau nhiều lắm. Nhưng trong từ dịch của de La Vallée Poussin, chúng
ta liền liên tưởng đến tin học hiện đại. Mặc dù thời đại của de La
Vallée Poussin chưa xuất hiện vi tính để có thể dùng từ information
theo nghĩa như là tin học ngày nay. Đối với chúng ta, qua những gì vừa
nói, dùng khái niệm “xử lý thông tin” của tin học ngày nay để mô tả thức
và hoạt động của thức không phải là điều hoang tưởng, lệch lạc, hay
xuyên tạc vấn đề. Tất nhiên đó không phải là sự nhất trí hoàn toàn giữa
những gì thuộc về tin học hiện đại và những điều mà Thế Thân bận tâm
giải quyết. Ở đây chúng ta chỉ sử dụng liên tưởng để mô tả mà thôi.
Chúng ta tìm thấy một định nghĩa thức như vậy trong Triết học Thế
Thân:
“Trước
đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng từ những gì biết được trong lãnh vực
nghiên cứu não bộ và thông minh nhân tạo ngày nay, bộ não và các phần
phụ thuộc được xem như một loại máy tính có độ phức tạp và khả tính cao
nhất để tiến hành mọi chức năng thường được giao khoán cho thức. Vì thế,
thức có thể được định nghĩa như một cơ cấu xử lý thông tin với mọi thành
phần phụ thuộc quan yếu được biết đến của nó, bao gồm mọi vận hành có
thể được biết đến và có đủ khả năng thực hiện.”
Những dữ liệu thông tin được lưu trữ này, Thế Thân gọi là vāsanā,
Hán dịch là tập khí, mà dịch ngữ Anh của Lê Mạnh Thát dẫn trên là
impression. Tức là ấn tượng, nhưng nên hiểu nó theo nghĩa vật
chất. Nó là sự hay kết quả của sự ghi dấu ấn. Nội hàm của nó như vậy phù
hợp với gốc động từ của nó là √VAS: vasati, lưu trú. Mặc dù cả Vô
Trước và Thế Thân, như chúng ta đọc thấy trong Nhiếp Đại thừa, có
khi liên hệ nó với động từ căn √VĀS: vāsayati, xông hương, ướp hương.
Khi
chúng ta bị thúc đẩy bởi ý chí thực hiện một hành vi nào đó; ý chí ấy
biến thái hay chuyển biến thành công năng (śaktiviśeṣa), một dạng
năng lượng, vận chuyển các cử động thân thể. Khi công năng ấy xuất hiện,
nó ghi ngay dấu ấn vào một nơi lưu trữ đặc biệt, đó là thức-kho-chứa (ālaya-vijñāna),
hay thức lưu trữ, mà ta có thể liên tưởng đến bộ vi xử lý nơi lưu trữ dữ
liệu nhập. Dấu ấn đó, Thế Thân gọi là karma vāsanā, tức
impression of action, như được thấy trong đoạn dẫn tiếng Anh ở trên.
Trong Hán dịch, nó là nghiệp tập khí.
Công
năng hay năng lượng được nhập như là dấu ấn được ghi ấy khi được đưa vào
quá trình xử lý, nó cho ra lượng thông tin khác, và bấy giờ nó được gọi
là bīja: seed, vì nó hoạt động như hạt giống nảy mầm và phát
triển để cho ra quả. Đó là điều mà Thế Thân nói: sarvabījam hi
vijñānam parināmas tathā tathā// yāty anyonyavasād yena vikalpaḥ sa sa
jāyate//
Thức
như là hạt giống của tất cả. Khi chúng ảnh hưởng lẫn nhau, mà chúng ta
cứ giả thiết là chúng tác động lẫn nhau trong một trường tương tác nào
đó, bấy giờ chúng cấu trúc thành hình ảnh của một thế giới. Đó là thế
giới mà trong đó chúng tồn tại. Pariṇāma: transformations, biến
thái, hay chuyển biến, hay nói theo tập quán: thức biến (vijñāna-pariṇāma),
đó là những gì xảy ra trong quá trình xử lý. Chính những biến thái này
tác động lẫn nhau, hỗ tương ảnh hưởng (anyonyavasād). Bởi vì
không có một ấn tượng, tập khí hay chủng tử nào tồn tại nguyên dạng từ
khởi đầu cho đến khi quá trình xử lý hoàn tất.
Khi
một quá trình xử lý hoàn tất (kṣīne pūrvavipāke), kết quả của nó
lại trở thành dữ liệu để bắt đầu quá trình xử lý khác (anyad vipākam
janayanti tat). Đó là điều mà trong Hán dịch nó được nói là “tiền
dị thục ký tận, phục sinh dư dị thục”: dị thục trước đã hết, dị thục
khác lại phát sinh. Nếu dị thục ở đây được hiểu là quả báo, tức kết quả
báo ứng của nghiệp, thì đoạn phát biểu này về cơ bản có thể hiểu rằng,
dị thục là thân và tâm của chúng ta đây như là kết quả báo ứng của
nghiệp đã làm trong quá khứ. Khi sự báo ứng này đã hoàn tất, món nợ đã
thanh toán, dị thục thân này được rủ xả để cho dị thục khác tức thân
khác xuất hiện, tái sinh sang một đời sống khác. Tức hết món nợ này rồi,
bắt đầu trả những món nợ còn lại, cho đến khi nào sạch nợ, nếu trong lúc
trả không vay thêm nợ mới. Từ nhận thức căn bản đó, chúng ta đọc lại
đoạn dịch tiếng Anh của Lê mạnh Thát: When a previous processing is
completed, the impressions of action together with the impressions of
the double-form cognition produce another processing different from it.
Khi quá trình xử lý đi trước đã hoàn tất, bấy giờ những ấn tượng của
hành động tạo thành một quá trình xử lý mới. Tức là những hành vi mà
chúng ta đã làm là những công năng hay năng lượng được lưu trữ dưới dạng
dấu ấn, là những dữ liệu được nhập để xử lý. Khi quá trình này hoàn tất,
quá trình khác bắt đầu.
Tuy
vậy, thoạt tiên khi đọc đoạn dịch Anh ngữ này chúng ta thấy hình như nó
không liên hệ gì đến vấn đề luân hồi nghiệp báo gì cả, mà điều chắc chắn
dù dịch hay giải dưới hình thức nào, cú pháp nào, hay ngữ vựng gì, đoạn
phát biểu của Thế Thân đang được dẫn bàn ở đây nói đến nghiệp, dị thục
của nghiệp, và quá trình biến thái của chúng để xuất hiện thành ta và
thế giới của ta. Tức là, khi một quá trình xử lý được hoàn tất, có hai
trường hợp xảy ra. Hoặc những ấn tượng đang còn lưu trữ chưa được xử lý
sẽ theo thứ tự ưu tiên đợi được xử lý tiếp. Hoặc chính thông tin mới
nhận được trở thành dữ liệu được tái nhập để thành hình một quá trình xử
lý mới. Giống như khi gạo được nấu thành cơm, tức gạo đã qua một quá
trình xử lý với củi, với lửa, với nước các thứ. Khi đã thành cơm, gạo
không còn tồn tại. Những dữ liệu, tức những ấn tượng của hành động, hay
tập khí của nghiệp, đã được xử lý hoàn tất, tức đã thọ báo xong, bấy giờ
chính cơm lại bắt đầu một hay nhiều quá trình xử lý khác: quá trình tiêu
hóa, quá trình dinh dưỡng và bài tiết. Sau quá trình bài tiết lại qua
quá trình xử lý khác để trở thành phân bón các thứ, rồi trở thành cây,
trái các thứ.
Và
đây là lý do để từ vipāka được dịch là processing: xử lý,
thay vì dịch là retribution: báo ứng hay quả báo như thường biết
từ trước. Tác giả nói:
(…) chúng tôi đã dịch từ “vipāka (dị thục)” là “xử lý” (processing) thay
cho những gì thường được chuyển ngữ là “hoàn báo” (retributory), như một
điều rất hiển nhiên từ những gì đã nói. Cách dịch sau, đối với chúng
tôi, hình như không bảo đảm mặc dù chính xác về mặt ngữ nguyên học, bởi
vì nếu chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ thì không có gì
trong chuyển biến đó được xem là “hoàn báo” hay “tích chứa” (store). Hơn
nữa, vipāka có nghĩa là “chín” (ripening), hiển thị một tiến trình qua
đó một sự vật tự chuyển từ một trạng thái này sang một trạng thái khác.
Và vì chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ cho nên sự “chín”
của một ấn tượng ngôn ngữ không thể được chuyển ngữ thành từ nào hay hơn
từ “xử lý”, nhất là khi từ này được hiểu theo cách dùng hiện nay trong
khoa học thông tin.
Như
vậy, liên hệ giữa mô tả qua những từ khóa nhất định gợi ấn tượng liên hệ
tin học hiện đại, với chân lý mà Thế Thân phát biểu liên hệ đến tính
cách tồn tại của nghiệp và những quá trình biến thái của nó, chúng ta sẽ
thấy dịch giả sang tiếng Việt Triết học Thế Thân đã làm thêm
nhiều điều hơn một dịch giả cần làm. Một mặt cần phiên dịch gần như từ
đối từ - mot à mot, nói theo kiểu Pháp, để độc giả biết mình đang
đọc cái gì đó đặc biệt của Lê Mạnh Thát viết; nhưng đồng thời cũng cần
thêm những từ khóa quen thuộc với độc giả Việt qua các từ Hán dịch. Thí
dụ, độc giả biết Lê Mạnh Thát đang nói về “cấu trúc ngôn ngữ” nhưng cũng
biết là tác giả đang nói đến điều mà xưa nay chúng ta gọi là “phân biệt”
gồm cả “năng phân biệt” và “sở phân biệt.” Cũng vậy, khi đọc trong bản
dịch Việt của Triết học Thế Thân những đoạn nói về xử lý, thức xử
lý hay quá trình xử lý, thì cũng biết đó là đang nói về điều mà xưa nay
chúng ta quen biết qua từ dị thục. Và thêm nữa, với cụm từ impression
of action, nói ấn tượng của hành động, chúng ta dễ liên tưởng đến ấn
tượng tri giác gì đó về ấn tượng, làm thế nào để liên hệ nó với tập khí
của nghiệp, để có thể biết rằng đó là nói về dấu ấn được huân tập bởi
nghiệp, hay một năng lượng nào đó do nghiệp để lại được lưu trữ trong
thức kho chứa. Rất nhiều từ khóa cần phải có nhiều mối liên tưởng như
vậy.
Trong các bộ từ khóa cần thận trọng liên tưởng ấy, còn một từ khóa không
thể không nhắc đến. Trên một phạm vi rộng hơn, chính từ khóa này, khi
được nhận thức trong tính phổ quát của nó, sẽ cho chúng ta thấy chiều
hướng tiếp cận khác nhau giữa các truyền thống tư tưởng. Trước hết,
chúng ta đề cập đến từ Anh ngữ mà tác giả sử dụng như là hòn đá thử vàng
để đánh giá các quan điểm khác về ý nghĩa tồn tại của thế giới. Đó là từ
description. Để làm công việc đó, tác giả dựng nó thành một lý
thuyết của Thế Thân: the theory of descriptions, lý thuyết mô tả,
và khẳng định: in the present study the theory of descriptions is
still held to be one of the cornerstone of Vasubandhu's philosophy.
Trong luận án Triết học Thế Thân này, thuyết mô tả được xem là
hòn đá tảng của triết học Thế Thân.
Thuyết này được tác giả tóm tắt như sau:
“Thuyết này chủ trương đối với bất kỳ hằng số đơn hay danh từ riêng n
nào ta luôn luôn có thể thay nó bằng một thuộc từ N; thuộc từ này chỉ
đúng đối với vật mà n có liên quan, và trong đó n không xảy ra hoặc
không được cần đến. Thí dụ, đối với bất kỳ n nào, ta cũng có (ix)N(x),
trong đó ký hiệu (i...) cho thấy bất kỳ biểu thức nào theo sau thuộc
dạng N(...) sẽ tạo thành cùng với nó một mô tả có thể hủy. Và vì bất kỳ
biểu thức nào có dạng N(x) đều có thể luôn luôn được thay thế, theo các
quy tắc được biết, bởi một hàm f như f(x) chẳng hạn, thuyết này còn chủ
trương đối với bất kỳ hằng số đơn hoặc danh từ riêng hoặc ngay cả phát
biểu nào trong đó chúng xảy ra đều luôn luôn có một hàm như f(x).
Về
cơ bản, thuyết này nói, bất cứ sự vật gì mà ta nhận thức được hay nói
đến, nó chỉ tồn tại như một mô tả. Vì mô tả là một quá trình xử lý các
dữ liệu thông tin, cho nên luôn luôn chúng ta cần một phần mềm để xử lý.
Phần mềm đó được lập trình với một ngôn ngữ rất đơn giản mà có thể xử lý
bất cứ dữ liệu thông tin nào được đưa vào. Chúng ta cần thông tin về một
sự vật nào đó, gọi nó là cỗ xe. Nhưng dữ liệu được đưa vào để xử lý cho
xuất hiện cỗ xe là các thứ càng, gọng, bánh v.v… Như vậy, cỗ xe là một
cái gì đó không bao giờ tồn tại, mà nó chỉ là mô tả thông tin về sự kết
hợp của nhiều dữ kiện trong một công thức của lập trình. Công thức đó có
thể là n = (ix)N(x). Trong đó, n, mà ở đây ta nói là cỗ xe, không thực
sự tồn tại, nó chỉ xuất hiện qua một vị ngữ N nào đó với biến số x khi
được cho những giá trị thích hợp.
Điều
này dẫn chúng ta đến một phát biểu lừng danh của Long Thọ trong Trung
luận: Yaḥ pratīya-samutpādaḥ śūnyatāṃ tāṃ pracakṣmahe/ sā
prajñaptir upādāya pratipat saiva madhyamā. Độc giả Việt nam rất
quen thuộc trích dẫn này qua bản hán dịch của Cưu-ma-la-thập: “Chúng
nhân duyên sanh pháp, ngã thuyết tức thị vô, diệc vi thị giả danh, diệc
thị trung đạo nghĩa. 眾因緣生法 我說即是無 亦為是假名
亦是中道義” Điểm cũng nên lưu ý là trong bản dịch này, được in trong
Đại chánh, nói là “tức thị vô” nhưng trong các trích dẫn thường
gặp lại là “tức thị không.” Tất nhiên, từ không này mới
tương đương với từ śūnyatā trong tiếng Phạn. Nguyên văn trong Đại
chánh có thể là do chính La-thập, nhưng vì sao dịch giả cố tình thay đổi
từ mà hai chúng không chung một nội hàm. Dù sao, y trên bản dịch này
chúng ta có những từ khóa lập nên nền tảng cho các tông phái Phật giáo
Trung quốc: Không, Giả danh và Trung đạo.
Tác
giả Triết học Thế Thân cho chúng ta biết chính bài tụng này là cơ
sở thuyết mô tả của Long Thọ. Về từ mà Hán dịch gọi là giả danh,
nguyên gốc Phạn nó là prajñapti, được dịch sang tiếng Anh là
description, dịch lại tiếng Việt lần nữa, thành ra là mô tả.
Như vậy, nếu chúng ta nói: con người, sinh vật, thế giới, v.v., chỉ là
giả danh, chúng ta sẽ dễ dàng đi đến kết luận: tất cả chỉ là giả. Nhưng
nếu nói, những thứ đó tồn tại, và chúng ta biết chúng tồn tại, đó là y
trên mô tả: prajñaptir upādāya. Những thứ đó, theo thuyết mệnh
danh là mô tả ở đây, là thật hay giả?
Trong bản Hán của La-thập, từ upādāya bị lược bỏ. Nhưng
upādāya, trong nghĩa cơ bản nó có thể được hiểu là “sau khi dựa
trên”, là từ khóa chỉ ra mối quan hệ cho sẵn nào đó (a given relation).
Nếu trong một mệnh đề sơ cấp hay cơ bản, nó định mối quan hệ cho sẵn
giữa chủ ngữ và vị ngữ. Điều này được thấy trong biểu thức mô tả đã dẫn
trên. Chúng ta nói quan hệ cho sẵn, ý nói là mối quan hệ ấy diễn ra theo
một quy luật nào đó: quan hệ đồng nhất hay đối xứng, quan hệ bắc cầu hay
quan hệ tự phản, v.v… Thí dụ, cho x một giá trị nào đó, chúng ta có thể
thay n bằng vị ngữ N(x), thì quan hệ ở đây có thể là quan hệ đồng nhất.
Nhưng chúng ta phải nói rằng, cho x một giá trị nào đó sao cho (such
that)… Biến số x như vậy có thể được thay bằng từ Sanskrit
pratyaya (duyên: condition, điều kiện).
Nếu
chúng ta nói “x là sắc uẩn”, trong một hàm mệnh đề (propositional
function), vậy để cho x là sắc uẩn, nó cần thiết phải nằm trong một
lớp (class) nào đó của sắc pháp. Mặt khác, chúng ta nhận ra rằng “đây là
một sắc pháp” và chỉ có thể phát biểu chính xác về sắc pháp này là cái
gì nếu chúng ta thiết lập được quan hệ giữa nó với bốn đại chủng. Vậy,
thay vì nói: “đây là mắt” hay “đây là sắc”, chúng ta có công thức của
quan hệ: mahābhūtam upādāya rūpam.
Trên
đây chúng ta đề cập đến một từ khóa được nói là dẫn đến thuyết mô tả:
prajñapti, như được dùng bởi Long Thọ. Ngoài Long Thọ, chúng ta còn
gặp rất nhiều trường hợp dùng từ prajñapti tương tợ. Thế Thân đưa
ra một từ đặc biệt, và chính từ này là khái niệm cơ bản để hiểu nội dung
thuyết mô tả của Thế Thân. Từ đó được tìm thấy ngay trong bài tụng đầu
tiên của Tam thập tụng: ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ pravartate, mà
Hán dịch của Huyền Trang là: “do giả thuyết ngã pháp/ Hữu chủng chủng
tướng chuyển 由假說我法 有種種相轉…”
Nếu theo cấu trúc ngữ pháp Hán, mọi người sẽ hiểu câu này rằng “do giả
mà nói ngã và pháp, có nhiều hình thái sai khác chuyển biến.” Theo đó,
ngã và pháp là cái gì không thật, chúng chỉ được nói đến theo tính chất
giả, không thực. Hoặc hiểu cách khác: “Do giả thuyết mà có ngã
pháp.” Tức ngã pháp là những điều được giả thuyết. Giả thuyết này có
nghĩa là gì? Vấn đề không đơn giản. Dù vậy, cách hiểu đó dễ dàng đi đến
nhận định: chúng là giả, không thực, Và đây là cách hiểu để Wei Wat dịch
nó sang tiếng Anh, trong bản dịch Anh ngữ về Luận Thành duy
thức: Concepts of Atman and Dharma do not imply the existence of
a real Atman and real Dharma, but a merely fictitious construsctions
[produced by numerous causes]. “Những khái niệm về Ngã và Pháp
không hàm ngụ sự tồn tại của một thực Ngã, thực Pháp nào, mà chỉ là
những cấu trúc hư cấu (được tạo ra bởi nhiều nguyên nhân).”
Trong Triết học Thế Thân, nó được dịch sang tiếng Anh như sau: “the
description of self and things which functions in several ways is upon
the transformation of consciousness” Sự mô tả về ngã và pháp hoạt
động trong nhiều cách là y trên sự chuyển biến của thức.”
Trong đó, từ upacāra, mà Hán dịch là giả thuyết, đây dịch là mô
tả. Từ nguyên của từ này là tiếp đầu upa- với động từ căn CAR (upa-carati),
nghĩa đen là đi đến gần. Do đó, nghĩa cơ bản của nó là sự tiếp cận,
nhưng trong nghĩa rộng hơn, nó được hiểu là một ẩn dụ (metaphor), hay
dùng theo một nghĩa tượng hình (figurative application). Giải thích ý
nghĩa của từ này bởi An Huệ, được dẫn trong Thành duy thức luận,
đặt ra những điểm căn bản để có nhận thức về thuyết mô tả của Thế Thân.
Sau
khi dịch nguyên cả đoạn sớ giải của An Huệ (Sthimarati,
Triṃśikāvijñaptibhāṣya), và đề ra những phân tích từ sớ giải đó, Lê
Mạnh Thát nhận xét: “Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi thuyết minh như
thế về vấn đề trên, An Huệ đã không vào được phần trọng tâm của nó.”
Trở
lại câu hỏi thật giả. Dù nói là thuyết mô tả của Long Thọ, hay của Thế
Thân, chúng ta biết rằng với cả hai vị này, theo như chúng ta được biết
từ trước, thế giới chúng ta thấy đó là bất thực, Hoặc nó như lông rùa,
sừng thỏ, hoặc nói theo thí dụ của Thế Thân mà Huyền Trang dịch “như do
huyễn ế (眩瞖) mà thấy sợi tóc, con
rắn các thứ. Các dịch Việt xưa nay vẫn hiểu đó là do bịnh “nhặm mắt” mà
thấy có sợi tóc, hay đêm tối trông sợi dây mà thấy là con rắn. Trong
tiếng Phạn, nguyên đó là do một chứng bịnh gọi là timira. Cần
phải hiểu rõ đó là thứ bịnh gì, mới có thể xác nhận cái nó thấy là ảo
giác hay không. Để làm điều này, tác giả Triết học Thế Thân đã
dành khá nhiều công phu đọc các bản văn cổ của Ấn độ về y học, đồng thời
xác minh xem Thế Thân có biết đến những thứ bịnh này hay không; nghĩa
là, kiến thức y học của Thế Thân như thế nào đó để có thể sử dụng từ này
theo đúng điều mà ông muốn mô tả. Và rồi tác giả phát biểu kết quả thu
hoạch được:
Với tất cả các mô tả trên về trường hợp bệnh timira, chúng ta có thể nói
gì về thí dụ người mắc bệnh này “nhìn thấy những sợi lông, mặt trăng,
v.v… không có thật” mà Thế Thân đã dùng để mô tả tình trạng nhận thức
của chúng ta về thế giới ngoại tại? Rõ ràng, ta không thể nói theo kiểu
nhiều tác giả từ trước đến nay từng nói, những người chúng ta đã có dịp
nhắc đến nhiều lần trước đây. Họ nghĩ rằng thí dụ trên của Thế Thân nhằm
bày tỏ quan điểm hay học thuyết của ông cho rằng không có gì hiện hữu
trên thế giới này ngoại trừ những gì do trí tưởng tượng của ta tạo ra,
giống hệt như mọi vật mà người mắc bệnh timira nhìn thấy đều chỉ là sản
phẩm của cặp mắt bệnh hoạn của người đó. Những vật này đều không thực
như bất cứ cái gì ta có thể nghĩ đến. Vì thế, theo các tác giả này, cái
nhìn của Thế Thân cũng giống hệt như cái nhìn của người bệnh timira,
nhìn thấy được mọi thứ nhưng tất cả đều không thực, tất cả chỉ là các
biểu hiện của căn bệnh riêng của ông và đều do căn bệnh này quy định.
Nếu đó thật sự là cái nhìn của Thế Thân về thế giới thì chắc hẳn ông đã
mắc phải bệnh timira quá trầm trọng và nên được điều trị bằng y dược hơn
là bằng những suy luận triết học mà các tác giả nói trên đã bắt ông phải
chịu. Và nếu đó thật sự là cái nhìn của Thế Thân về thế giới thì điều kỳ
dị là một người bệnh timira lẽ ra phải nhìn thấy theo cách khác để có
thể chỉ ra một thế giới khác với thế giới của chính mình. Và lúc đó ý
nghĩa của thí dụ trên sẽ là gì?
Qua
các từ khóa mà chúng ta nêu lên một cách đại khái như trên để có thể
thấy rằng ngôn ngữ Hán có một giới hạn nào đó để khó mà chuyển tải hết
nội dung tư tưởng Phật học có nguồn gốc Ấn độ, cả hai trường phái lớn
của Đại thừa là Trung quán và Duy thức.
Thật
sự, khi nói đến thuyết mô tả, tác giả không thể bỏ qua các khái niệm như
vị ngữ (pradicate), số hạng (term), hàm mệnh đề (prepositional
function), mối quan hệ (relation xRy), v.v.; những điều mà Russell đã
luận giải chi li để lập nên thuyết mô tả của ông được xem là “mô phạm
của triết học” (a paradigm of philosophy, Frank P.
Ramsey). Thêm nữa, khi cần thiết hỗ trợ cho biểu thức mô tả mà tác giả
lập nên như là điển hình thuyết mô tả của Thế Thân, trong trường
hợp biểu thức này trở thành phát biểu định lượng, với những ký hiệu
"x: với bất kỳ, hay
$x: tồn tại một x sao cho…; khi
ấy chúng ta cũng cần đến phép tính vị ngữ sơ cấp (first-order predicate
calculus), nhưng tác giả đã không làm điều này. Tất nhiên, chúng ta
không thể xem như tương đồng giữa thuyết mô tả của Long Thọ và Thế Thân
trong một thế giới phương Đông huyền bí cổ xưa, với thuyết mô tả vốn là
sự kế thừa tư duy toán học phương Tây hiện đại, do đó những gì mà thuyết
mô tả của Russell cần thì không nhất thiết phải là tất yếu với thuyết
của Thế Thân.
Vậy,
khi phiên dịch một tác phẩm chứa đựng khá nhiều thuật ngữ toán học hiện
đại, lại đề cập những vấn đề Phật học mà những người học Phật thường
gặp, thì người dịch phải làm một công việc khá quan trọng: bắc cầu giữa
hai loại hình ngôn ngữ có cấu trúc khác nhau để chuyển tải cùng mô tả
một thực tại, cùng chuyển tải một nội dung tư tưởng. Quả thật, nếu khi
tác giả nói đến thuyết mô tả của Long Thọ, mà độc giả không tìm thấy
trong đó từ giả danh, prajñapti, chắc sẽ khó mà biết Long Thọ đã
nói đến điều đó ở chỗ nào vậy! Cũng vậy, nếu không liên hệ được các từ
upacāra, description, cùng với từ giả thuyết, thật khó mà
biết thực sự Thế Thân đã đặt nền tảng mô tả ở chỗ nào. Và thêm nữa, khi
không liên hệ được giữa từ dị thục, và từ xử lý, chúng ta
thấy hình như Thế Thân nói những vấn đề không liên hệ gì đến Phật học,
những vấn đề không tìm thấy trong Kinh Luận nào cả, vậy: Thế Thân là
ngoại đạo chăng?
May
mắn tôi được dịch giả gởi cho đọc bản dịch này trước tiên, nên rất vui
vẻ viết một vài ghi nhận bất chợt, chứ không có ý định giới thiệu tác
phẩm hay bản dịch. Vì chính tác phẩm sẽ nói những điều cần nói, người
khác không thể thay thế được. Tôi nghĩ, sau khi đọc xong tác phẩm này,
độc giả sẽ thấy có nhiều vấn đề cần đặt lại trong sự hiểu biết về Phật
học của chúng ta từ trước.
Cuối
cùng, xin có mấy lời cảm ơn dịch giả, đã cống hiến cho một bản dịch đòi
hỏi quá nhiều cân nhắc thận trọng, trong thuật ngữ cũng như trong cú
pháp.
Quảng Hương, Thu 2549.
Tuệ Sỹ
Cẩn chí.
|