Đi tìm Ngã
Hồng Dương
CÓ NGÃ
HAY KHÔNG CÓ NGÃ.
Đức Thế
Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã
cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.'” Một câu hỏi được đặt ra:
Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để
giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka
Sutta),
Trung Bộ kinh.
Kinh
này ghi lại cuộc tranh luận nổi tiếng giữa đức Phật và du sĩ ngoại đạo Saccaka
về giáo lý vô ngã của Phật giáo. Cơ sở lý luận của Saccaka được đặt trên tiền đề
là “giống như các hột giống, các cây cỏ được lớn lên, được trưởng thành, được
hưng thịnh là vì tất cả chúng y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy, các công
nghiệp nặng nhọc này được tạo tác. Cũng vậy, như người này mà tự ngã là sắc, nhờ
nương tựa sắc làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là thọ, v..v...;
như người này mà tự ngã là thức, nhờ nương tựa thức làm thiện sự hay ác sự.”
Nghĩa là bất cứ hành động gì dù thiện hay bất thiện đều hoàn toàn tùy thuộc vào
năm uẩn. Do đó, Saccaka kết luận năm uẩn cấu thành tự ngã của con người.
Để phản
bác quan điểm sai lầm ấy, đức Phật hỏi Saccaka: “Ông nghĩ thế nào? Một vị vua
Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu con
bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành hay không trong quốc gia của mình,
muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn
trục xuất những ai đáng bị trục xuất?” Khi Saccaka chấp nhận các vua ấy có và
xứng đáng có quyền hành như vậy, đức Phật tiếp tục hỏi: “Ông nghĩ thế nào? Như
ông nói 'Sắc là tự ngã của ta', thời ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có
nói được rằng 'Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này'
không?” Câu hỏi này được lặp lại với thọ, tưởng, hành, thức, và chỉ cho Saccaka
thấy rõ rằng mặc dầu ông khẳng định năm uẩn chính là ông, mà thật ra ông đâu có
thẩm quyền đối với chúng, ông đâu có thể kiểm soát chúng để bảo chúng phải như
thế này, không phải như thế này. Saccaka đành chấp nhận rằng nếu có bất cứ cái
gì được gọi là tự ngã của con người thời con người phải có trọn quyền điều động
và sai khiến nó.
Qua
cuộc tranh luận thuật lại trên, nếu có tự ngã thời tự ngã có thể hiểu như một
vật sở hữu của con người và con người trọn quyền điều động và sai khiến vật sở
hữu ấy. Chính vì trong thực tế chúng ta không có trọn quyền kiểm soát các vật sở
hữu của mình nên chúng ta thường xuyên bị chúng ám ảnh và vì vậy mới đau khổ.
Đức Phật đã đề cập quyền làm chủ này trong bài kinh rất quan trọng, kinh Năm vị
hay Vô ngã tướng (Anattalakkhana Sutta), trong đó Ngài nói đến năm uẩn
lần đầu tiên và sử dụng chúng để giảng lý Vô ngã cho năm vị Tỷ kheo sau khi đã
thuyết lý Tứ đế ở tại Vườn Nai. Tất cả lý Vô ngã diễn dịch về sau đều bắt nguồn
từ bài kinh này.
“Này
các Tỷ kheo, Sắc là vô ngã. Nếu Sắc là ngã, thời Sắc không thể dẫn đến khổ não
và có thể mong rằng Sắc của tôi là như thế này, Sắc của tôi không phải như thế
này. Này các Tỷ kheo, vì Sắc là vô ngã, nên Sắc dẫn đến khổ não và không thể
mong rằng Sắc của tôi là như thế này, mong rằng Sắc của tôi không phải như thế
này.” Sắc như vậy, thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều vô ngã như vậy.
“Này
các Tỷ kheo, các Thầy nghĩ thế nào, Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch
Thế Tôn, là vô thường.
- Cái
gì vô thường là khổ hay vui?
- Bạch
Thế Tôn, là khổ.
- Cái
gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là 'Cái
này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?'
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Thọ,
tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?
...
- Do
vậy, này các Tỷ kheo, phàm Sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong hay
ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với
chánh trí tuệ là 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi.'
- Phàm
thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì..., cần phải được như thật quán với chánh trí
tuệ là 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.'”
Cần lưu
ý rằng vô thường tự nó không khổ không vui, cho nên phải hiểu quan hệ giữa vô
thường và khổ trong câu Phật hỏi là “Cái gì vô thường, cái đó đưa đến khổ hay
vui?” và trong câu các Tỷ kheo trả lời là “Bạch Thế Tôn, cái gì vô thường, cái
đó đưa đến đau khổ.” Nhưng tại sao vô thường dẫn đến đau khổ?
Nếu
hiểu chữ khổ dịch từ tiếng Phạn Duhkha chỉ có vỏn vẹn một nghĩa là đau khổ thời
đạo Phật là bi quan yếm thế. Phải hiểu chữ khổ (Duhkha) qua bốn hành tướng: vô
thường, khổ, không, vô ngã. Sự tiếp xúc với ngoại trần phát sinh ba cảm giác:
khổ thọ, lạc thọ, và bất khổ bất lạc thọ, do đó mới có ba cái khổ tương ưng: khổ
khổ, hoại khổ, và hành khổ. Với khổ thọ thời là khổ khổ, tức cái khổ thông
thường. Với lạc thọ thời là hoại khổ, vì bây giờ tuy vui nhưng lát nữa không còn
vui. Với xả thọ thời là hành khổ. Đó là một biến chuyển ngấm ngầm trong từng sát
na cho nên có vui đi nữa thời chính ngay trong cái vui đã ngấm ngầm có cái không
vui. Vì nó bao trùm cả tánh vô thường bên trong cho nên gọi là hành khổ. Tiếng
khổ là tiếng chỉ chung vừa thể chất vừa tinh thần, những điều nghịch ý, trái ý
không thuận lòng đều gọi là khổ. Đau cũng làm mình khổ, đói cũng làm mình
khổ,..., sự ngấm ngầm biến chuyển, vô thường, trống rỗng, không có thực ngã,
không có thực thể cũng làm mình khổ.
Có thể
nói một cách khác, bất cứ gì vì mê lầm mà chấp là sở hữu của ta đều là đối tượng
của sự biến dịch không ngừng. Chúng không vận hành theo cách ta muốn chúng vận
hành. Do đó, chúng đều là nguồn gốc khổ đau. Bởi thế, bất cứ cái gì mà ta chấp
trước một cách sai lầm là tự ngã đều bị luật tắc vô thường chi phối, không vận
hành theo cách ta muốn, do đó hàm chứa khổ đau. Kết luận: Khổ đau là vì có tâm
ngã ái nên mới chấp cái này là của tôi, là vì có tâm ngã mạn nên mới chấp cái
này là tôi, là vì có tâm ngã kiến nên chấp cái này là tự ngã của tôi. Như vậy,
muốn được giải thoát thời cần phải lìa bỏ lối nhìn điên đảo “Cái này là của tôi,
cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” mà như thật quán với chánh trí tuệ là
“Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự
ngã của tôi”.
Trong
kinh Vô ngã tưởng, đức Phật phủ nhận mỗi uẩn là một thực thể có ngã,
nghĩa là không có nhóm nào trong năm uẩn cấu thành con người thực nghiệm có thể
được đồng hóa như là cái tự ngã của con người. Nhưng nếu mỗi một nhóm không thể
được đồng hóa như thế thời thử hỏi sự phối hợp của chúng theo luật duyên khởi có
cung cấp nền tảng nào cho một sự đồng hóa tương tợ hay không? Câu trả lời dứt
khoát là: Vô ngã luận Phật giáo tuy chủ trương sinh mệnh hay tâm lý của người ta
là tổng thể của năm uẩn, nhưng khẳng quyết không có tự ngã cố định hiện hữu ở
trong tổng thể ấy. Tổng thể của năm uẩn còn được gọi là pudgala, dịch là nhân
cách. Vì do duyên sinh nên nhân cách là giả hữu. Vấn đề tổng thể của năm uẩn
được đề cập trong kinh Khemaka, Kinh Tương Ưng bộ, III, 126.
Một tu
sĩ Phật giáo tên Khemaka đã phát triển tuệ quán thấy rõ không hề có ngã hay bất
cứ gì thuộc về ngã trong bất cứ nhóm nào của năm uẩn. Tuy nhiên, Khemaka tin
rằng cái không có trong mỗi uẩn có thể tìm thấy trong sự hòa hợp do nhân duyên
của năm uẩn. Ông nói: “Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen xanh, hay
hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: 'Hương thuộc về lá, hay thuộc về
sắc, hay thuộc về nhụy hoa', nói như vậy có nói đúng không?
- Thưa
không.
- Vậy
chư Hiền, trả lời như thế nào là trả lời một cách đúng đắn?”
Rồi ông
tiếp: “Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là trả lời một cách đúng
đắn.”
Theo
thuyết hệ thống, đây là trường hợp xuất hiện một phẩm tính đặc biệt, gọi là xuất
hiện tánh (emergent property), khi hệ thống hội đủ một số thành tố cần thiết để
làm căn cứ sở y cho phẩm tính ấy. Phẩm tính này chỉ xuất hiện khi hệ thống ở vào
một mức độ phức tạp xác định và không tìm thấy trong các thành tố của hệ thống.
Điều
đáng lưu ý ở đây là đức Phật không phủ định cái tổng thể giả hữu của năm uẩn.
Nhưng chúng sinh không hiểu rõ năm uẩn kết hợp thành một cái giả tướng nên lầm
tưởng mà chấp đó là Tự ngã, rồi sinh tham ái, chấp thủ, và cứ thế, ái, thủ,
hữu,..., như vậy mà tiếp tục mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Bởi vậy, đức Phật
thuyết giảng pháp môn Ngũ uẩn vô ngã là để dạy chúng sinh phá trừ gốc rễ chấp
ngã hầu được giải thoát khỏi luân hồi.
Trong
Phật tính luận, có đoạn đức Phật giải thích vì sao ngang qua chính tiến
trình phủ nhận “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi” mà người ta siêu việt năm uẩn và khám phá ra cái Chân
ngã của mình.
“Bởi
vì, hết thảy ngoại đạo ở nơi năm uẩn gồm sắc, v..v..., vốn không có ngã tánh mà
suy diễn chấp là ngã. Nhưng, các pháp, sắc, v..v..., mâu thuẫn với cái mà các
người chấp là ngã tướng. Chúng hằng thường vô ngã. Chư Phật, Bồ tát, do Chân như
trí, mà đạt được ba la mật vô ngã của tất cả pháp. Bởi vì, ba-la-mật vô ngã này
không mâu thuẫn với tướng vô ngã mà các người nhận thấy, cho nên Như lai nói đó
là thường hằng vô ngã. Vì đó là chân thể tánh của tất cả pháp, cho nên nói ba la
mật vô ngã là Ngã. Như bài kệ được nói trong kinh:
Hai Không đã thanh tịnh
Đắc vô ngã thắng ngã (tức Ngã thù thắng của Vô ngã)
Vì Phật đắc tánh tịnh
Vô ngã chuyển thành Ngã.
Các ngoại đạo chấp thấy có ngã trong năm thủ uẩn. Để trừ sự hư
vọng do chấp ngã này nên tu tập Bát nhã ba la mật, cho đến đạt được Vô ngã tối
thắng, tức Ngã ba la mật. Đó là quả của nó, nên biết.”
(Phật tính luận, trang 798c, Tuệ Sỹ dịch)
Thầy Tuệ Sỹ nói có hai cách giải thích đoạn văn trên về Vô ngã và
Chân ngã.
1. Phật không hoàn toàn bác bỏ Ngã. Do phàm phu, ngoại đạo chấp
ngã trên những cơ sở sai lầm, nên Phật dạy Thanh văn diệt trừ ngã chấp (nơi năm
thủ uẩn). Thanh văn sau khi chứng vô ngã, cần phải quán Niết bàn là Chân ngã.
Giải thích này bị chỉ trích là đưa Phật pháp trở về với ngoại đạo (Đại Ngã của
Upanishad).
2. Niết bàn có bốn đức: Chân thường, chân lạc, chân ngã, chân
tịnh. Phàm phu, đối với pháp vô thường mà cho là thường,..., đối với pháp bất
tịnh mà cho là tịnh, thành bốn thứ điên đảo. Còn Thanh văn, thời tự tánh Chân
như vốn thường hằng mà không biết, chấp pháp tướng, mà cho rằng chứng pháp vô
thường, vô ngã là chứng Niết bàn. Đó là bốn thứ điên đảo nơi Thanh văn. Như vậy
có tám thứ điên đảo nơi Phàm phu và Thanh văn.
Đoạn văn trên nói, Chân ngã là Ngã tối thắng, siêu việt, của Vô
ngã. Thanh văn do tu quán bốn Thánh đế (mà Thắng Man gọi là Thánh đế hữu
tác) nên chứng đắc Vô ngã. Bồ tát quán Chân như (Thắng Man gọi là quán Vô
biên Thánh đế) thấy được Như tính của các pháp, nên chứng Chân ngã. Thuyết Chân
ngã này được nói trong các kinh Niết-bàn, Thắng Man, và các kinh liên hệ
như được biết. Lăng Già còn ảnh hưởng thuyết này, nhưng tránh nhầm lẫn
với Ngã ngoại đạo nên không quảng diễn. Duy thức về sau cũng tránh không đề cập
minh nhiên.
Đối với các nhà khoa học Tánh biết, ngã là một lối nhìn, một quan
điểm nhất trí và thống hợp, một vị trí thuận lợi vững chắc và thường hằng, căn
cứ dẫn xuất tư duy, cảm giác, và hành động. Từ lâu đời cái vọng tưởng về một cái
ngã như vậy hiện hữu nơi mỗi một chúng ta đã trở thành một xác tín, nên ta có
thái độ chống đối mãnh liệt đối với những ai nghi ngờ và chối bỏ sự hiện hữu của
cái ngã không thật có đó. Tuy nhiên, nếu lâm vào tình thế phải quán sát sự thật
hữu của cái ngã huyễn hoặc ấy, thời không cách gì tìm thấy được nó. Daniel
Dennett, một nhà khoa học Tánh biết, mô tả kết quả quán sát một cách nhí nhỏm
như sau: “Bạn
đi vào não qua con mắt, ngược lên dây thần kinh thị giác, quanh quẩn chung quanh
cái vỏ, quán sát từng tế bào, và trước khi hay biết thời bạn đã xuất hiện dưới
ánh sáng mặt trời ở trên đầu nhọn của một xung động thần kinh cơ vận, gãi đầu,
và ngạc nhiên không biết cái ngã nó ở phương nào.”
(Elbow Room. Trang 74-75)
Tôi có
thật hay không? Ai cũng thấy rằng mình đang hiện hữu và đang sống rất cụ thể
trên mặt đất, cớ sao lại đặt ra câu hỏi vớ vẩn như vậy? Tôi cảm thấy tôi có thật
vì mỗi giây phút sống là một kinh nghiệm tôi đang trải qua. Thấy, nghe, ngửi,
nếm, sờ, tưởng. Yêu đương, thù hận, sợ hãi, dật dờ, lo lắng, và nhất là lúc trải
qua tám cơn gió đời, được và thua, danh thơm và tiếng xấu, ca tụng và khiển
trách, hạnh phúc và đau khổ [Pàli: Attha loka dhamma: lābha, alābha; yasa,
ayasa; pasaṃsā, nindā; sukha, duḥkha. Tám pháp thế gian. Hán: Bát phong: Hưng
thịnh và suy sụp, danh dự và hủy báng, xưng dương và cơ bài, an lạc và phiền
não].
Bảo
rằng tôi có thật, có thể đó chỉ là một ý nghĩ về tôi do tôi tưởng nghĩ về tôi,
hoặc do kẻ khác tưởng nghĩ về tôi, hoặc chỉ khi nào tôi cần nghĩ rằng tôi có
thật. Cũng có thể một ý nghĩ hay cảm giác của tôi được thể hiện và thực hiện qua
ngôn ngữ và khái niệm đã tạo ra cái “tôi có thật” ấy chăng?
Cái tự
ngã của con người như thế nào mà khi hiện khi biến, tưởng như thường hằng mà
thật ra tồn tại mong manh, thấy rất quen thuộc mà sao khó bắt gặp? Trong từng
giây phút sống, chúng ta phải đối đầu với vấn đề nhận thức mâu thuẫn, có và
không có tự ngã. Một mặt, dầu chỉ thoáng qua cũng thấy ngay kinh nghiệm của ta
luôn luôn biến đổi và hơn nữa, luôn luôn tùy thuộc vào một cảnh huống riêng
biệt. Sống là luôn luôn đang ở trong một cảnh ngộ, trong một tình trạng. Không
một ai có kinh nghiệm về một sự vật thường tại và độc lập đối với những trạng
huống đó. Thế mà mặt khác, hầu hết chúng ta đều tin vào sự tồn tại về một cái
ngã bất biến. Ta nhắm mắt chấp nhận rằng chính cái ngã đó lưu chuyển trong vòng
sinh tử, là chủ thể nhận thức, ghi nhớ hay nhận thức lại những sự việc đã kinh
nghiệm, trì tục cái tánh cách của con người, tạo nghiệp, và chịu báo.
Trong
thực tế, từ trước đến nay, suốt lịch trình tiến triển của tư tưởng nhân loại,
khắp mọi ngành, triết học, khoa học, phân tâm học, tôn giáo, thiền định, chưa
bao giờ có một ngành nào phát hiện một tự ngã bất biến, độc lập, đơn nguyên ở
trong thế giới thường nghiệm. Triết gia David Hume đã nói lên sự thật đó như
sau: “Về phần tôi, khi đi vào gần gũi mật thiết nhất cái mà tôi gọi là “tự ngã
của tôi” thời tôi luôn luôn tri nhận một đặc thù cảm giác này hay nọ về nóng hay
lạnh, ánh sáng hay bóng tối, yêu thương hay oán ghét, đau khổ hay khoái lạc. Tôi
không bao giờ không một cảm giác mà có thể nắm bắt được cái “tự ngã của tôi” vào
bất cứ khi nào và không bao giờ quán sát được điều gì ngoài cảm giác. Như vậy
cái thấy do trực cảm trái ngược hẳn với cái tri giác hiện có về tự ngã.”
Ở phương Tây, vấn đề mâu thuẫn có ngã nếu căn cứ vào kinh nghiệm
thông thường và không có ngã khi tìm nó bằng tư duy và luận lý được giải quyết
hoặc bằng cách tảng lờ xem như không có vấn đề, hoặc chấp nhận con người sinh ra
đã bị “kết
án”
phải tin vào tự ngã. Cũng có thuyết chủ trương một siêu ngã tri thức thường
nghiệm không thể thấy biết được. Theo Phật giáo, sở dĩ không giải quyết một cách
thỏa đáng vấn đề mâu thuẫn đó được là vì không thấu hiểu về tính cách vô thường,
vô ngã, và duyên sinh của ngũ uẩn. Phương pháp thực nghiệm mà đức Phật khuyến
khích áp dụng để thấy và hiểu tường tận tánh cách vô thường, vô ngã, và duyên
sinh của tất cả các hiện tượng, vật lý, sinh lý, cũng như tâm lý, là phép quán
niệm.
PHÉP
QUÁN NIỆM
Chúng ta thường cho rằng thân thể này là tôi, là của tôi, rằng
các cảm thọ sướng hay khổ là có liên quan với cái tôi, rằng cái tâm đang quán
sát chính là linh hồn của tôi, rằng các đối tượng của tâm như là ý nghĩ và hành
thức là Tự ngã, là tôi, là của tôi. Mục đích của phép quán niệm là ra khỏi vô
minh, không còn mơ hồ trong ảo tưởng, thấy được cái giả, chấm dứt si mê. Nhờ
quán niệm, ta khám phá ra cái ảo tưởng đã được ngụy trang khéo léo của cái gọi
là Tự ngã, và từ đó thấy được điều mà đức Phật đã chứng ngộ: Chân lý Tánh
Không.
Kinh Niệm,
Tương Ưng bộ, V.180, ghi lại lời đức Phật giảng về trú chánh niệm và tỉnh giác
như sau.
“-
Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác. Đây là lời giáo giới của
Ta cho các Ông.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo chánh niệm? Ở đây, này
các Tỷ kheo, Tỷ kheo trú, quán thân nơi thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm,
nhiếp phục tham ưu ở đời,.... Như vậy, này các Tỷ kheo, là Tỷ kheo chánh niệm.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo tỉnh giác? Ở đây, này
các Tỷ kheo, Tỷ kheo biết rõ ràng các cảm thọ khởi lên, biết rõ ràng các cảm thọ
an trú, biết rõ ràng các cảm thọ đi đến hủy diệt; biết rõ ràng các tưởng khởi
lên, biết rõ ràng các tưởng an trú, biết rõ ràng các tưởng đi đến hủy diệt. Như
vậy, này các Tỷ kheo, là Tỷ kheo tỉnh giác.”
Vậy quán niệm là trú chánh niệm, là tỉnh giác, là để thực sự sống
“bây
giờ và ở đây.”Kinh
Tứ niệm xứ nói về bốn phép quán niệm: về thân thể, về cảm giác, về tâm ý,
và về những đối tượng của tâm ý. Niệm (smṛti), pháp chủ thể trong Tứ niệm xứ, có
nghĩa là duy trì ý thức về một đối tượng, là ghi nhận rõ ràng về sự hiện hữu của
đối tượng. Quán (vipaśyana) có nghĩa là suy xét về bản chất của đối tượng, là đi
sâu vào lòng đối tượng ấy mà thẩm sát. Quán niệm như vậy có nghĩa là ý thức và
quán chiếu. Chủ thể quán chiếu là chánh niệm. Chánh niệm là một hiện tượng phát
xuất từ tâm ý nhưng có tác dụng soi sáng và chuyển hóa. Chánh niệm là tâm quán
chiếu. Tâm quán chiếu không đứng bên ngoài đối tượng quán chiếu. Nó thể nhập đối
tượng quán chiếu, nghĩa là đi vào trong và đồng nhất hóa với đối tượng quán
chiếu. Tuy vậy, tâm quán chiếu không tự đánh mất mình trong đối tượng bởi vì nó
là chánh niệm, chứ không phải là thất niệm.
Tâm quán chiếu không những tham dự vào mà còn chuyển hóa đối
tượng nó quán chiếu, dù ta muốn hay không. Cũng như trong thí nghiệm chiếu ánh
sáng vào đối tượng lượng tử để nghiên cứu, ánh sáng không những soi sáng mà còn
biến đổi đối tượng lượng tử ấy. Với sự có mặt của tâm quán chiếu, đối tượng quán
chiếu càng lúc càng hiển lộ cội nguồn và thật tướng của nó và từ từ được chuyển
hóa. Có nghĩa là không còn có tác dụng ràng buộc nữa. Đối tượng hiển lộ toàn vẹn
thời tâm quán chiếu cũng đạt tới mức sáng tỏ toàn vẹn. Thấy rõ pháp cũng là thấy
rõ tâm. Khi pháp trở thành chân như thời tâm trở thành trí. Đối tượng và chủ thể
nhận thức không lìa nhau.
Điều cần nhấn mạnh ở đây là chớ có bao giờ đồng hóa tâm với Tự
ngã. Lối nhìn điên đảo “Cái
này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”
là đặc trưng của loạn tâm. Thật đáng tiếc sau khi đưa ra nhận xét “Tôi
suy nghĩ”,
Descartes đã quá vội vàng kết luận “Tôi
hiện hữu”
với ý nghĩa là hiện hữu như một vật thể đang suy nghĩ (res cogitans). Nếu ông có
chánh niệm và tỉnh giác, thời ông nhận biết ngay “suy
nghĩ”
là một hiện tượng tâm lý, không phải là một đối tượng biệt lập được nhận thức
bởi một chủ thể bất biến có tính cách đồng nhất là “tôi”.
Đáng lý ông phải quán chiếu: “Đó
là suy nghĩ, suy nghĩ là sự tiếp nối của những chuỗi nhân duyên hiện hành vô
chủ.”
Tu tập quán niệm chỉ cần chú tâm, tỉnh giác, nhận diện, quán
chiếu thường trực bốn niệm xứ trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong giờ thiền
tọa. Chớ có một định kiến nào, một tư tưởng phê phán nào, và một thái độ nào cả
đối với các pháp đang quán chiếu. Chánh niệm nhận diện những gì xảy ra trong
thân tâm, soi sáng, và quán chiếu những đối tượng ấy một cách bình thản, tự
nhiên, không thiên vị. Những thuộc tính vô thường, vô ngã, bất tịnh, có tác dụng
gây đau khổ, v..v... của các pháp tự nhiên hiển lộ dưới ánh sáng quán chiếu. Có
như thế ta mới đạt tới những cái thấy mầu nhiệm như bất sinh, bất diệt, bất cấu,
bất tịnh, bất tăng, bất giảm, tương nhập và tương tức.
Nói một cách cụ thể, khi đối duyên xúc cảnh hay đối diện với tâm
ý, chánh niệm tỉnh giác là quán sát và ghi nhận các hiện tượng vật lý và tâm lý
một cách khách quan, sáng suốt định tĩnh, không cho các phiền não như tham, sân,
si chi phối, xâm chiếm, sai sử. Đây chính là tu theo bốn chữ Phật dạy: “Bất
tùy phân biệt”,
đối cảnh không khởi phân biệt. Tâm không khởi phân biệt, thời vọng niệm chẳng
sanh, vọng niệm không sanh, thời chân tâm tự hiện. Có hai hiện tượng song song
cần theo dõi và ghi nhận. Một, chú tâm quán sát và ghi nhận đối tượng. Hai, theo
dõi và ghi nhận diễn biến của tâm quán chiếu đối tượng ấy. Nếu ghi nhận kịp thời
ngay khi chúng xuất hiện thời đặc tính riêng của thân và tâm, của sắc và danh sẽ
hiển lộ. Tiếp đó, sẽ hiển lộ đặc tính nhân duyên hay điều kiện. Nghĩa là thấy
được ba giai đoạn: khởi lên, diễn biến hay kéo dài, và biến mất. Khi đặc tính
nhân duyên hiển lộ thời sẽ thấy ba tướng, vô thường, khổ, vô ngã.
Quả vậy, sự hiện hữu của hoại diệt tiếp theo sinh khởi là dấu
hiệu hoặc đặc tính của tánh không thường tồn. Nếu muốn xác định sự vật gì đó
không thường tồn hay vô thường, thời phải cố gắng quán niệm xem sự vật đó có
phải là đối tượng của một tiến trình sinh khởi rồi hoại diệt hay không. Nếu nhờ
chánh niệm tỉnh giác mà thấy được sự sinh diệt của hiện tượng, thời lúc đó mới
có thể quyết định hiện tượng quán chiếu là vô thường.
Chẳng hạn, khi bước đi, quán sát được sự hiện hữu của chuyển động
dở chân và nhận thức chuyển động dở chân, rồi ghi nhận chuyển động đó biến mất,
nhường chỗ cho chuyển động đưa chân ra trước, và nhận thức về chuyển động đưa
chân ra trước. Sự thấy biết tiến trình sinh khởi và hoại diệt của các động tác
này là do tự mình quán chiếu thông hiểu chứ không cần phải chấp nhận hay tin
tưởng qua một quyền lực ngoại vi nào hay dựa vào sự thấy biết của một tha nhân.
Sự thấy rõ vô thường phải do quán sát một cách thuần túy sự biến
mất của các hiện tượng trong hiện tại mà không qua suy nghĩ hay lý luận. Khi
thấy rõ vô thường thời ta mất hẳn ảo tưởng về sự thường còn. Lúc bấy giờ ngã mạn
sẽ vắng mặt. Ngã mạn cũng giảm thiểu rất nhiều ngay trong lúc hành giả chánh
niệm chú tâm quán sát tánh vô thường.
Khi thông hiểu danh và sắc là vô thường thời tiếp theo, sẽ thấy
chúng là những gì bất toại ý bởi vì chúng luôn luôn bị trạng thái sinh diệt áp
bức và đè nén. Chẳng hạn, có một cảm giác đau nhức nơi lưng. Nếu chú tâm quán
sát thời sẽ thấy sự nóng bỏng của chỗ đau biến thành sức ép, rồi biến thành sự
đập mạnh thình thịch. Sự đập mạnh này cũng biến chuyển, thay đổi cường độ và
tính chất một cách liên tục. Cuối cùng, khi sự biến đổi lên đến cực điểm thời
tâm quán chiếu thấy được sự vỡ vụn, phân tán của cái đau. Lúc bấy giờ tâm không
còn bị sự đau nhức hành hạ nữa. Bản chất đau khổ của các cảm giác hiển lộ rõ
ràng vì sự thấy rõ cơ thể này chỉ là một khối đau khổ và bất toại ý không ngừng
biến đổi.
Thật vậy, vì tất cả sự vật đều sinh và diệt không ngừng từ sát na
này sang sát na khác, nên chúng ta không thể nắm giữ gì được cả, và phải sống
trong một hoàn cảnh bị nhiều áp lực lớn lao chi phối. Ta muốn chúng vững bền mà
chúng không vững bền như ý ta muốn. Sự vật sinh khởi rồi hoại diệt theo luật
thiên nhiên. Mỗi khi sinh xảy ra thời không cách gì ngăn cản sự diệt. Bởi thế
mới sinh bất toại ý tức là khổ. Thấy biết tánh vô thường và bất toại ý của vạn
vật tức là nhận thức được rằng không thể làm chủ được chúng. Nghĩa là trực nhận
không có một bản ngã hay linh hồn nào bên trong thân tâm để ra lệnh chúng phải
thường tồn. Ghi nhận sự xuất hiện của khổ não và quán chiếu sự khổ não cho thấy
rõ không có một sự vật gì ta có thể bám víu nương tựa, nhờ cậy được. Kết quả là
tác dụng loại trừ sự hiểu biết sai lầm rằng sự vật là tốt đẹp, đáng yêu, bền
vững. Khi các ảo tưởng sai lầm này biến mất thời tham ái cũng không hiện khởi.
Bây giờ, tự nhiên sẽ thấy được vô ngã, nghĩa là không có ai ở
đằng sau mọi tiến trình, không có một quyền lực, một thực thể, hay linh hồn nào
có thể làm chủ được bản thể của vạn vật. Từ sát na này sang sát na khác, các
hiện tượng xuất hiện theo một tiến trình tự nhiên. Vô ngã liên quan đến danh sắc
hay tất cả những hiện tượng vô thường không có tự ngã. Đặc tính của vô ngã là
thấy được sự sinh và diệt không diễn ra theo ý muốn của ta. Mọi hiện tượng tâm
vật lý diễn ra trong ta, đến rồi đi một cách tự động, theo một luật tắc tự
nhiên, ngoài sự kiểm soát của ta. Hãy nhìn vào đời sống khi ta ngã bệnh, đau
khổ, rồi chết. Những tiến trình này có vận hành theo ước muốn của ta chăng? Có
quyền lực hay thực thể nào kiểm soát các tiến trình này hay không? Sự thấy biết
rõ ràng vô ngã phát sinh ngay từ lúc ta quán chiếu sự sinh diệt của các hiện
tượng, chứ không đến từ sự suy nghĩ hay lý luận, và không hề bị ảnh hưởng hay bị
điều khiển hoặc bị tác động bởi một nguyên nhân nào bên ngoài.
Khi không thấy được sự sinh diệt của mọi hiện tượng thân và tâm,
thời rất dễ có tư tưởng lầm lạc rằng có một cái ngã, một cá nhân, hay một cái
tôi trường tồn vĩnh cữu ở trong thân và tâm này. Các quan kiến sai lầm như vậy
sẽ tạm thời loại bỏ bằng phép quán niệm.
Mặc dầu bốn lãnh vực quán niệm trong kinh Tứ niệm xứ đều có liên
quan đến năm uẩn được nói đến trong Bát nhã Tâm kinh: quán niệm thân thể nơi
thân thể liên quan đến Sắc uẩn, quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ liên quan đến Thọ
uẩn, quán niệm tâm ý nơi tâm ý liên quan đến Tưởng và Hành uẩn, quán niệm đối
tượng tâm ý (pháp) nơi đối tượng tâm ý liên quan đến Thức uẩn, phương pháp thực
hành có điều khác biệt với pháp môn Tích Không quán của Tâm kinh.
Tích Không quán là dùng quán sát phân tích để thấy các pháp không
tự có mà do nhân duyên hòa hợp mới có, có một cách giả tạo, trống rỗng, không có
tự tính. Tâm kinh mô tả pháp này trong mấy câu: “Xá
lợi tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không, Không tức thị
Sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.”
Như đã nói trong phần trên, đức Phật chỉ cho thấy mỗi uẩn chẳng
có gì là ngã và năm uẩn kết hợp cũng chẳng có gì là ngã. Ngài chỉ rõ ngũ uẩn là
vô ngã, nghĩa là không có Tự ngã, hay nhơn vô ngã, hay sanh vô ngã, với mục đích
là để phá cái chấp nhơn ngã. Chữ “nhơn”
ở đây chỉ hữu tình, bao gồm con người trong đó. Bởi thế để khỏi
hiểu lầm nên nói sanh vô ngã hay hữu tình vô ngã.
Xét về tướng, ngũ uẩn hư huyễn, giả dối, không thật, vô thường,
khổ, không, vô ngã, như đức Thế Tôn nói kệ (Tạp A hàm.
I.265. Kinh Hoa nghiêm, Phẩm Ly thế gian):
"Quán sắc như bọt nước,
Thọ
như bong bóng nước,
Tưởng y như sóng nắng,
Các
hành như cây chuối,
Các
thức là vô ngã.”
Nhưng xét về tánh, thời Tâm kinh nói: “Ngũ
uẩn giai không”.
Nói ngũ uẩn vô ngã thời có nghĩa là trong ngũ uẩn không có một ngã nào. Bây giờ
nói ngũ uẩn giai không thời chính ngay ngũ uẩn là Không, là vô tự tính. Tự thân
của pháp năm uẩn không thể có được (bất khả đắc), bởi vì năm uẩn do nhân duyên
điều kiện mà tồn tại. Cho nên không thể chấp năm uẩn là thật có như chủ trương
của một số học giả vào thời bấy giờ. Nói vô ngã là chú trọng về hữu tình. Nói
Không là nói tất cả các pháp, gồm cả hữu tình lẫn vô tình. Bởi vậy, thay vì dùng
chữ vô ngã để hàm ý cả nhơn vô ngã lẫn pháp vô ngã, có kinh nói rõ hơn là vô ngã
có hai thứ. Chẳng hạn, lý chủ yếu ở trong kinh Lăng Già được phát biểu là:
“Ngũ
pháp tam tự tính, bát thức nhị vô ngã”.
Dịch là: Năm pháp (danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như), Ba tự tính
(biến kế sở chấp, y tha khởi, viên thành thật), Tám thức (Năm thức thân: thấy,
nghe, nếm, ngửi, và xúc chạm; ý thức, Mạt na, A lại da), Hai vô ngã (nhơn vô ngã
và pháp vô ngã; hay hữu tình vô ngã và pháp vô ngã).
Bộ
Đại Bát nhã 600 cuốn và Bát nhã Tâm kinh, bài kinh tóm tắt tinh
yếu của 600 cuốn ấy, có thể thu gọn lại trong câu chủ yếu này: “Quán
Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhất thiết khổ ách”. Dịch là: Vị Bồ tát đã có sức quán tự tại khi thực
hành cái Bát nhã ba la mật đa, chiếu soi rõ năm uẩn đều không, vượt qua tất cả
khổ ách. (Ngũ uẩn Vô ngã. HT. Thích Thiện Siêu)
Quán Tự Tại Bồ tát, danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm, có thể hiểu theo hai
nghĩa. Một, quán thế âm là quán tiếng kêu cứu khổ của chúng sinh, cầu xin cứu
vớt, giải thoát cho họ. Hai, quán tự tại là quán nhất thiết không, tự tại vô
ngại, không bị vướng mắc. Quán tự tại là tự lợi, thuộc về trí. Quán thế âm là
lợi tha, thuộc về bi. Danh hiệu này gồm cả tự lợi, lợi tha, trí và bi.
Quán tự tại còn có một nghĩa khác, chỉ chung cho tất cả chứ không riêng gì cho
Ngài Quán Thế Âm. Theo nghĩa này, quán tự tại là quán các pháp một cách dung
thông, vô ngại, không còn vướng mắc, không còn chấp ngã. Đây là nghĩa của dòng
chữ Quán Tự Tại đặt lên đầu kinh. Lý do: Vì Bát nhã Tâm kinh được coi như một bộ
kinh trích lục ý và lời của bộ kinh Đại Bát nhã, chứ không phải là bộ kinh Phật
thuyết trọn vẹn, có phần tựa, phần chánh tông, và phần lưu thông y như các bộ
kinh khác.
Hành, chiếu kiến, độ, ba chữ ấy đi với nhau. Hành tức thực hành, tu tập những
pháp môn nào đưa tới định để sinh tuệ. Chiếu kiến tức là soi rõ và thấy rõ. Khổ
ách phát sinh từ sự chấp năm uẩn là ngã. Bây giờ có hành mới có khả năng soi rõ
và thấy rõ năm uẩn là Không, do đó khổ ách không chỗ nương tựa để phát sinh. Bởi
năm uẩn đều Không cho nên khổ ách không còn nữa. Tại sao gọi là Thâm Bát nhã?
Trí tuệ nếu mới chứng được Sanh không (nhơn không) mà chưa chứng được Pháp không
thời gọi là Thiển Bát nhã ba la mật đa. Khi chứng được lý Pháp không nữa, trí
tuệ ấy gọi là Thâm Bát nhã ba la mật đa. Theo Phật giáo, làm việc gì mà có trí
Bát nhã trong đó thời việc ấy đã đạt được một cách trọn vẹn, hoàn tất một cách
rốt ráo, tức là vượt qua bờ bên kia, bước qua bờ giác, gọi là độ. Tóm lại, thực
hành cái thâm Bát nhã ba la mật thời có khả năng chiếu soi thấy rõ năm uẩn đều
không và vượt qua tất cả khổ ách một cách trọn vẹn.
Trong sách Vô ngã, Thượng tọa Thích Trí Siêu giới thiệu và trình bày tuy ngắn
gọn nhưng rất đầy đủ, kỹ càng, và rành mạch hai phương pháp tu tập về Vô ngã mà
chính Ông được học và thực hành. Một phương pháp là pháp thiền Tứ niệm xứ và
phương pháp thứ hai dùng lý trí suy luận theo biện chứng pháp Trung Quán. Đây là
tập sách rất hữu ích cho những ai đang học hỏi và thực hành phép quán chiếu về
Vô ngã.
HD.
|