Đồng thời
và Dị thời
Hồng Dương
(I)
Trật tự Bất vô nhân: Nhân quả và Ngẫu duyên.
Theo Phật, hết thảy hiện tượng tuy vô thường biến
thiên, nhưng trong cái thiên biến vô thường ấy có một lý pháp nhất quán
vĩnh viễn bất diệt. Đó là pháp tắc duyên khởi được định nghĩa: "Cái này
có thời cái kia có, cái này sinh thời cái kia sinh, cái này không thời
cái kia không, cái này diệt thời cái kia diệt." (Kinh Phật tự thuyết.
Tiểu bộ I). Tất cả những hiện tượng thiên sai vạn biệt chẳng qua là kết
quả của những tác dụng của lý pháp duyên khởi. Chúng nương vào nhau mà
tồn tại, không một vật gì có thể tồn tại độc lập tuyệt đối. Thế giới này
là một mạng lưới vĩ đại được dệt thành bởi vô số quan hệ nhân quả dị
thời và quan hệ hỗ tương tồn tại.
Trong Lời nói đầu bản tiếng Anh “The I Ching or
Book of Changes” chuyển từ ấn bản do Richard Wilhelm dịch Kinh Dịch Hán
ra Đức ngữ, Carl Jung phân biệt hai lối tư duy, một theo trật tự bất vô
nhân, một theo trật tự vô nhân. Hai trật tự này biểu hiện hai nguyên lý
cơ bản của nhận thức luận Phật giáo, nguyên lý nhân quả (tadutpatti;
Principle of Causality; Non-identity of the underlying reality) và
nguyên lý đồng quy nhất (tàdàtmya; Principle of Identity), có thể tóm
lược như sau: tùy trường hợp hai sự vật có căn bản hữu pháp khác hay
đồng (hữu pháp chỉ vật tự thân, còn gọi là tự tánh, hay tự thể), chúng
được nối kết trên phương diện lôgic căn cứ trên công thức "cái này cóù
thời cái kia cóù" của định lý duyên khởi hoặc bằng cách quy hợp chúng về
cùng chung căn bản hữu pháp đồng nhất của chúng.
Khoa học suy diễn theo trật tự bất vô nhân. Trật
tự này một thời được chấp nhận như một tiên đề chân lý (axiomatic
truth). Lối nhìn bất vô nhân mô tả biến cố xuất hiện theo thứ tự một
chuỗi A, B, C, D. và giải thích bằng lối nghịch suy do đâu D trở thành
hiện hữu: đó là do bắt nguồn từ nhân C hiện hữu trước D, và C cũng vậy,
bắt nguồn từ nhân B, v..v…
Trên phương diện lôgic (lôgic có nghĩa là tất
yếu), một nhân không nhất thiết có quả của nó tiếp nối theo, tại vì luôn
luôn một chướng ngại nào đó có thể ngăn chận sự dẫn sinh quả. Trái ngược
lại, đã là quả thời tất nhiên là quả sinh xuất từ nhân của nó. Nó không
thể hiện hữu nếu nó không phải là một quả và nó không thể là một quả nếu
nó không phải là quả tất yếu của nhân của nó. Vì vậy, mọi biến cố đều
không phải là biến cố nếu nó không sinh xuất từ một biến cố khác.
Tưởng cũng nên biết quan điểm của Duy thức về
nhân quả. "Những gì nói về nhân quả chỉ là giả thi thiết. Quan sát thấy
pháp hiện tại có khả năng dẫn sinh tác dụng về sau, theo đó giả lập quả
đương lai, đối chiếu với cái hiện tại được nói là nhân. Khi quán sát
thấy pháp hiện tại có sự đáp ứng với dấu hiệu đi trước, theo đó giả lập
cái đã từng hiện hữu là nhân, đối chiếu với cái được nói là quả hiện
tại. Giả, nghĩa là hiện thức xuất hiện tương tợ tướng của cái ấy. Lý thú
nhân quả như vậy rất hiển nhiên, vượt ngoài hai cực đoan, khế hợp trung
đạo. Những bậc có trí nên thuận theo đó mà tu học." (Luận Thành Duy
thức. Tuệ Sỹ dịch giải)
Hiện nay đa số khoa học gia theo thuyết hiện
thành tuần quy (regularity theory) của David Hume chủ trương nhân luôn
luôn có quả tiếp nối theo và sự tiếp nối tạo thành những mẫu hình quan
hệ kế tục không thay đổi: "Chúng ta có thể định nghĩa nhân là một sự vật
có một sự vật khác tiếp nối theo, và nơi nào tất cả sự vật tương tợ sự
vật đầu đều có sự vật tương tợ sự vật sau tiếp nối theo." Những mẫu hình
quan hệ kế tục không thay đổi như vậy được gọi là "hiện thành tuần quy"
(regularity) hay “hiện thành động lực tuầu quy" (dynamical regularity)
để phân biệt với “hiện thành thống kê tuần quy” (statistical regularity)
sẽ nói đến trong phần sau.
Khi khảo sát những tiến trình diễn biến với vô số
điều kiện chi phối, lối nhìn theo trật tự bất vô nhân đưa đến sự khám
phá trong tất cả mọi thay đổi phức tạp thường xuất hiện những hiện thành
tuần quy (regularity). Hiện thành tuần quy tạo nên những luật nhân quả,
tức những quan hệ tất yếu bất biến giữa các vật thể, biến cố, điều kiện,
hay mọi cái gì khác ở một thời điểm với thời điểm sau.
Luật nhân quả chẳng những tiên đoán quá trình các
biến cố, như thay đổi dinh dưỡng và tập thể dục thường xuyên làm giảm
nguy cơ mắc bệnh, mà còn tiên đoán thuộc tính của sự vật về cả hai mặt,
phẩm chất và số lượng. Chẳng hạn, sự tiên đoán chất uranium tác động bởi
các neutron sẽ biến đổi thành một nguyên tố mới, plutonium, chưa bao giờ
thấy hay chưa từng sản xuất bất cứ ở đâu. Về phẩm chất, quan hệ nhân quả
nước kết thành băng khi lạnh và bốc hơi khi nóng là một phần bản chất
của nước, không có phần này thời không thể là nước. Cũng như luật hóa
học hydro và oxy hợp lại thành nước là một tính chất cơ bản của hydro và
oxy, nếu không thời không thể là hydro và oxy. Tương tự, các định luật
định lượng cũng là một phần bản chất của các sự vật tùy thuận những định
luật ấy. Thật vậy, một số tính chất giúp ta nhận ra một chất lỏng là
nhiệt độ sôi, trị số tính dẫn điện, trị số tỷ trọng của chất lỏng, trị
số tần số của các phổ vạch chất lỏng phát ra hay hấp thụ, và nhiều số
lượng khác nữa. Tóm lại, những luật nhân quả mà một sự vật tùy thuận cấu
thành một khía cạnh chủ yếu của cách thức sự vật ấy hiện hữu. Những luật
nhân quả điều hành nhiều tiến trình khác nhau trong thiên nhiên đều liên
kết chặt chẽ với đặc tính của các sự vật, do đó biểu dương cách thức
hiện hữu của những sự vật ấy.
Luật nhân quả không dự đoán được một trị số độc
nhất cho quả, mà trái lại là một trong một số khả năng. Như trường hợp
đo lường, độ đo không có một trị số nhất định, mà chỉ biết nằm trong một
khoảng sai số nào đó không thể tránh được. Ngoài ra, trong thế giới hiện
tượng các vật thể cá biệt hỗ tương giao thiệp toàn diện trong những
tương quan vô tận và vô ngại, mỗi điều kiện hay biến cố đều có vô số
nguyên nhân. Trong quan hệ nhiều nhân một quả, nhiều loại nhân khác nhau
có thể cùng dẫn sinh một kết quả. Thí dụ: Nước của mọi cơn mưa trong một
vùng đều chảy ra biển tại chỗ con sông chính đổ ra biển. Trong mọi
trường vật lý, tất cả luật nhân quả đều mang tính chất nhiều nhân-một
quả.
Dù nhân dù quả cả hai đều tùy thuộc vô số yếu tố
ở bên ngoài phạm vi tình huống của vấn đề đang cứu xét, và vì tính chất
quá phức tạp hoặc vì điều kiện khảo sát hiện tại không cho phép nên rất
khó nhận chân ảnh hưởng của những yếu tố này. Tuy nhiên, trên phương
diện thực tiễn, không thể lưu tâm đến hết thảy mọi yếu tố liên hệ để
tiên đoán một kết quả trăm phần trăm chính xác. Trong trường hợp khảo
sát với tính cách gần đúng, chỉ cần một số hữu hạn nhân tố trọng yếu
(significant causes) tức nhân tố có ảnh hưởng đáng kể trên kết quả mà
thôi.
Nhưng làm sao biết chắc tất cả nhân tố trọng yếu
cần thiết của một vấn đề đã được cứu xét? Phương pháp kiểm chứng là thử
tái lập thí nghiệm. Nếu các khía cạnh cơ bản của kết quả không tái xuất
hiện giống như lần trước thời lý do là có một số nhân tố trọng yếu đã bị
bỏ sót. Thật ra, không có cách nào thử nghiệm để kiểm tra hết thảy mọi
nhân tố trọng yếu cần thiết đã được cứu xét.
Một vấn đề mới được đặt ra. Tánh tất yếu của một
luật nhân quả không thể tuyệt đối. Thí dụ định luật nói rằng một vật thả
giữa không trung sẽ rơi. Đó là điều thường xảy. Nhưng nếu vật ấy là một
mảnh giấy và nếu do ngẫu duyên có một ngọn gió mạnh thổi đến, mảnh giấy
có thể bay lên thay vì rơi xuống. Bởi vậy nói một luật nhân quả là tất
yếu chỉ khi nào trừu xuất gạt ra ngoài tình huống hết thảy mọi ngẫu
duyên có tính hoặc nhiên, nghĩa là tùy duyên, có thể có mà cũng có thể
không có. Có thể chừng nào ta quan tâm cùng một lần xét đến hết thảy mọi
sự vật trong vũ trụ thời phạm trù ngẫu duyên tiêu biến, và theo đó mọi
sự kiện tất nhiên xảy ra không thể tránh được. Nhưng từ trước đến nay
không một định luật nhân quả nào đã làm như vậy. Thật ra mỗi khi gặp một
vấn đề nào đó, ta có thể tìm thấy những luật tắc chi phối một số ngẫu
duyên bằng cách nới rộng phạm vi của trạng huống. Như trong trường hợp
mảnh giấy bị gió thổi tung, ta có thể nghiên cứu những luật tắc quyết
định ngọn gió thổi như thế nào. Những gì xem như ngẫu duyên trong phạm
vi hẹp nay trở thành kết quả của những quan hệ nhân quả tất yếu trong
phạm vi vừa được nới rộng.
Tuy nhiên, trong phạm vi mới mở rộng các quan hệ
nhân quả tất yếu ấy không tránh khỏi gặp thêm nhiều ngẫu duyên mới khác.
Bởi vì cách gió vận hành tùy thuộc vị trí của các đám mây, nhiệt độ của
thủy thổ, và có khi bị ảnh hưởng của các tia tử ngoại, các chùm âm điện
tử phát xuất từ những đốm đen trên mặt trời. Như vậy có nghĩa là ta phải
nghiên cứu rộng thêm những luật tắc chi phối sự hình thành các đám mây,
sông biển, đất núi, và các tiến trình sinh khởi các đốm đen trên mặt
trời. Tiếp tục như thế mãi vẫn không bao giờ loại trừ triệt để hết thảy
ngẫu duyên. Đến nay, chưa bao giờ có bằng chứng sự tìm hiểu nguyên nhân
bằng lối nghịch suy có thể chấm dứt tại một chung điểm, tại một nguyên
nhân đầu. Điều này chứng tỏ trong thế giới hiện tượng mọi sự vật đều
xuất xứ từ sự vật khác và sinh xuất các sự vật khác. Nói cách khác, mọi
quan hệ nhân quả ắt phải tác động trong những phạm vi tình huống hữu hạn
và luôn luôn bị chi phối bởi các ngẫu duyên xuất hiện bên ngoài những
tình huống ấy.
Hợp lý hơn hết là chấp nhận hai phạm trù, nhân
quả tất yếu và cơ hội tùy duyên, biểu tượng hai mặt của tất cả mọi tiến
trình trong vũ trụ. Cũng có thể ví hai phạm trù ấy như hai cách nhìn
chung một vật thể nhưng đối lập. Mỗi quan điểm là một cách trừu xuất
tượng hình từ một tình huống hoàn chỉnh. Tượng trừu xuất trưng bày đầy
đủ một số khía cạnh của vật thể, nhưng sẽ dẫn đến những kết quả sai lạc
nếu ta quên rằng chung cánh đó chỉ là một lối nhìn phiến diện. Quan điểm
này hạn chế, cải chính quan điểm kia, và do tương quan liên hệ với quan
điểm kia giúp ta thi thiết một khái niệm khá chính xác về vật thể. Lẽ cố
nhiên, ta có thể nhận thức vật thể theo muôn vàn quan điểm khác nhau,
nhưng tựu trung với bất cứ quan điểm nào bao giờ cũng có một quan điểm
đối nghịch. Tóm lại, ngoài luật nhân quả còn có những luật tắc có tính
cách tổng quát hơn luật nhân quả: luật ngẫu duyên (laws of chance) và
những luật tắc về quan hệ giữa nhân quả và ngẫu duyên.
Ngẫu duyên là những khả năng hiện hữu bên ngoài
tình huống liên hệ. Đặc tính của ngẫu duyên là không thể bằng vào những
thuộc tính của các vật thể ở bên trong tình huống mà định nghĩa bản chất
của chúng. Nói cách khác, ngẫu duyên có tính cách tương đối độc lập đối
với nhũng gì ở bên trong tình huống. Thật ra, kinh nghiệm cho thấy không
tìm đâu ra những hữu có tự tính: vạn vật cộng đồng hiện hữu và đồng thời
hiện khởi trong quan hệ không gian và thời gian. Bởi thế cho nên không
thể có độc lập tuyệt đối. Nhưng khi mối tương quan liên hệ không đáng
kể, có thể bỏ lơ, thời khái niệm ngẫu duyên tương đối độc lập đối với
tình huống liên hệ có thể xem như một lối nhận thức gần đúng, tối hậu có
thể sửa chữa và bổ túc bởi khái niệm nhân quả.
Hiện thành thống kê tuần quy.
Để thông hiểu ngẫu duyên và quan hệ giữa nhân quả
và ngẫu duyên, tưởng cần biết đến khái niệm “hiện thành thống kê tuần
quy” (statistical regularity), một khái niệm cơ bản của thống kê học
(Statistics) và nguồn gốc của thuyết thống kê xác suất (Statistical
probability theory).
Hãy quan sát các phân tử khí chuyển động trong
một hộp khí chứa độ chừng 10 lũy thừa 23 (số 1 đèo theo 23 số zero) phân
tử, một số ngang với số sao trong vũ trụ. Vì các phân tử liên tục va
chạm nhau nên quỹ đạo của mỗi phân tử loằng ngoằng ngẫu nhiên, bất quy
tắc. Các phân tử chuyển động một cách hết sức bất ổn định. Thí dụ, thay
đổi một lượng nhỏ góc chuyển động đầu của bất kỳ phân tử nào sẽ thay đổi
lớn chiều di chuyển của nó sau lần va chạm thứ nhất. Độ lớn thay đổi ấy
sẽ còn tăng lớn hơn nữa sau lần va chạm kế tiếp, v..v…và kết quả tích
lũy của những lần thay đổi như vậy có thể đưa phân tử liên hệ đến một
vùng không gian rất khác. Do đó, một sai lạc bé nhỏ trên bất kỳ phương
diện nào, có thể toán học, có thể đo điều kiện đầu, có thể phát biểu
những định luật nhân quả cơ bản, với thời gian sẽ dẫn đến những sai lạc
cực đại trong mọi dự đoán về chi tiết các chuyển động phân tử. Mọi cố
gắng tìm phương thức dự đoán chi tiết sự vận hành của các cá thể thuộc
một hệ thống gồm độ 10 lũy thừa 23 phân tử đều vô vọng.
Tuy nhiên, đáng lưu ý ở đây là chính những yếu tố
ngăn chận mọi cố gắng dự đoán chi tiết sự vận hành của các cá thể cũng
là yếu tố góp phần làm dễ dàng mọi dự đoán tổng quát những tính chất
trung bình vĩ mô của hệ thống mà không cần đến những thông tin chính xác
về hoạt động cá biệt của mỗi một phân tử.
Thật vậy, từng mỗi phân tử ở mức vi mô có khuynh
hướng dao động tương đối độc lập đối với những sự kiện ở mức phạm vi
rộng lớn (vĩ mô) và do tương đối độc lập mà các cá thể phân tử có một
tầm biến thiên dao động ngẫu nhiên vô cùng phức tạp bao gồm một số rất
lớn khả năng không thể nào quan sát và mô tả được. Tuy nhiên, chính cách
thức biến thiên dao động ngẫu nhiên vô cùng phức tạp ấy hoán khởi ở mức
vĩ mô một khuynh hướng vận hành đều đăïn, hợp thường quy, gọi là “hiện
thành thống kê tuần quy” (statistical regularity), tức những thống kê
trung bình hay trung bình phạm vi rộng lớn có những biến chuyển đều đặn
có thể đoán biết trước được.
Những vận hành vừa trình bày trên được tìm thấy
trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa thống kê: xã hội, kinh tế, y tế,
và khoa học. Khắp tất cả các lĩnh vực đó, trong sự vận hành của từng mỗi
vật thể, biến cố, và hiện tượng cá biệt đặc biệt có một sự biến thiên
hay dao động ngẫu nhiên, bất quy tắc mà chi tiết không thể dự đoán trong
tình huống liên hệ. Nhưng nếu nhìn tổng quát sự vận hành trong phạm vi
rộng lớn các chuỗi dài hay quần tập nhiều vật thể, biến cố, và hiện
tượng ấy, thời thấy xuất hiện những hiện thành thống kê tuần quy chung
hợp với những biến thiên hay dao động ngẫu nhiên, bất quy tắc.
Thời gian định nghĩa theo thống kê học là một
hiện thành thống kê tuần quy sinh xuất từ sự vận hành ngẫu nhiên, bất
quy tắc của vô số hạt ở mức vi mô và được nhà vật lý học Reichenbach mô
tả: “thời gian mỗi lúc sinh ra mới và khác như một quan hệ thống kê từ
sự hỗn độn nguyên tử”.
Trong cơ thể con người, những tác dụng hóa học
chế ngự sự vận chuyển những hóa chất liên kết loại thần kinh dẫn truyền
(neurotransmitter), cũng như những thế tác động (action potentials) có
tác dụng chi phối sự truyền dẫn tín hiệu dọc theo các dây thần kinh đều
là hiện thành thống kê tuần quy sinh xuất từ những tác dụng lượng tử
trong phạm vi rộng lón của tầng sâu thẳm nhất của hệ thần kinh.
Những đại lượng trung bình vĩ mô, như số trung
bình hạt trong một vùng không gian hay áp suất trung bình trên một diện
tích, …, hoàn toàn không bị chi phối bởi những chuyển động và cách thức
phối trí trong không gian của những cá thể hạt. Một phần là do liên quan
một số quá lớn chuyển động và phối trí khác nhau trong không gian, và
nếu trong một vùng không gian một hạt thay đổi chiều di chuyển, hiệu quả
của sự thay đổi này trên trung bình phạm vi rộng lớn có thể tiêu biến
bởi những thay đổi đối nghịch trong chuyển động của các hạt kế cận. Do
đó, chuyển động ngẫu nhiên, bất quy tắc của nhiều hạt tạo ra dao động mà
kết quả là với thời gian lâu dài và xét trung bình thời trong phạm vi
rộng lớn các dao động ấy tương giao tương hủy. Theo cơ học thống kê, bất
kỳ điều kiện đầu nào cũng dẫn đến những chuyển động ngẫu nhiên, bất quy
tắc hoán khởi những trung bình phạm vi rộng lớn thay đổi gần kề những
trị số trung bình nhất định.
Vì những trị số trung bình này hoàn toàn tùy
thuộc chỉ những tính chất tổng quát của hạt, như tỷ trọng trung bình,
động năng trung bình, v..v… là những đại lượng có thể trực tiếp định
nghĩa ở mức phạm vi rộng lớn, cho nên sự thành lập những quan hệ ổn định
và có thể dự tri chỉ liên quan mức phạm vi rộng lớn mà thôi. Vì vậy mới
hiện thành một mức vĩ mô, ở đó có riêng một tập hợp phẩm tính tương đối
độc lập và một tập hợp quan hệ tương đối độc lập. Các quan hệ tương đối
độc lập này cấu thành một tập hợp luật nhân quả ở mức vĩ mô.
Như vậy, do hiện thành thống kê tuần quy mà hai
mức tương đối độc lập, vi mô và vĩ mô, được phân biệt. Khái niệm mức
tương đối độc lập thường thấy trong đa số ứng dụng. Trong vật lý học,
dưới mức nguyên tử là mức các hạt căn bản gồm electron, proton, neutron,
v..v… Dưới mức các hạt căn bản, còn có mức hạ tằng lượng tử đang được
nghiên cứu. Theo chiều ngược lên, trên mức nguyên tử là mức phân tử
tương ưng với những định luật hóa học, rồi đến mức sinh vật thuộc phạm
vi khảo sát của sinh học, v..v… Mỗi mức có riêng cách vận hành và những
tập hợp phẩm tính, luật tắc, và quan hệ biểu trưng đặc tính của mức ấy.
Hiện thành thống kê tuần quy được áp dụng giải
quyết vấn đề sai số trong quan sát đo lường. Tưởng cũng nên nhắc lại
quan sát đo lường là phương pháp duy nhất của khoa học để thiết lập sự
liên hệ giữa thực tại, khái niệm, và toán ngữ. Do quan sát đo lường mà
khoa học có thể sử dụng các số làm ngôn ngữ để suy luận, mô tả, và
truyền đạt. Sai số đo lường thường được chia thành hai loại, loại hệ
thống (systematic errors) và loại ngẫu nhiên (random errors). Sai số hệ
thống là do nhân bên ngoài, thí dụ: do dụng cụ đo lường, do quên lưu ý
sự thay đổi áp lực không khí trong khi đo lường chẳng hạn. Có thể giảm
thiểu chúng tới mức triệt tiêu bằng cách tìm hiểu và kiểm soát các nhân
tố liên hệ. Trái lại, sai số ngẫu nhiên là bất xác định, vô thường, phản
ảnh sự kiện mỗi lần đo lường tất thế nào cũng đo lường một đại lượng hơi
khác. Vì sai số ngẫu nhiên là do biến thiên dao động ngẫu nhiên, bất quy
tắc của các ngẫu duyên độc lập đối với tình huống đo lường, cho nên
phương cách duy nhất xác định phần nào một trị sai số ngẫu nhiên là lặp
đi lặp lại sự đo lường càng nhiều lần càng tốt. Theo một định lý toán
học, hết thảy mọi hệ quả do biến thiên ngẫu nhiên gây ra tương tác tương
hủy để cuối cùng sai số ngẫu nhiên tỷ lệ nghịch với căn số bậc hai của
số lần đo lường.
Hiện thành thống kê tuần quy còn làm sáng tỏ quan
hệ giữa những biến đổi số lượng và biến đổi phẩm tính. Chẳng hạn, những
biến đổi trị số động năng trung bình của chuyển động phân tử sẽ kéo theo
sự biến đổi những phẩm tính tương hợp với các trạng thái khí, lỏng, và
rắn của vật chất. Đặc tính của mọi biến đổi phẩm tính là sự xuất hiện
nhiều loại nhân tố trọng yếu mới tạo thành nhiều luật tắc mới. Thí dụ:
thể tích của khí là do bình chứa xác định, nhưng trong trạng thái lỏng
thời lại do nội tại cơ cấu của chất lỏng xác định. Do đó, hiện thành một
nhân tố mới: khuynh hướng duy trì một thể tích không thay đổi. Phẩm tính
này biểu hiện dưới một dạng thức mới của luật liên kết thể tích với
những tính chất khác của chất lỏng như nhiệt độ và áp suất.
Nói chung, chính những hiện thành thống kê tuần
quy cấu thành những luật tắc gọi là luật thống kê (statistical laws),
một tính chất mới của các luật thiên nhiên: trong những phạm vi rộng lớn
các hiện thành thống kê tuần quy có thể xuất hiện ở mức vĩ mô, những
hiện thành thống kê tuần quy này hầu như hoàn toàn không liên hệ với
những chi tiết chính xác của những chuyển động ngẫu nhiên phức tạp và
bất quy tắc đang vận hành ở mức vi mô. Luật thống kê cho phép dự đoán
gần đúng những thuộc tính của sự vận hành trung bình các chuỗi dài hay
quần tập rộng lớn các hạt sau một thời gian lâu dài mà không cần mở rộng
phạm vi tình huống để tìm thêm những nhân tố bổ sung đã ảnh hưởng tình
tiết biến thiên của các hạt.
Thí dụ: Bảo hiểm thống kê có thể dự đoán gần đúng
tuổi sống trung bình của một cá nhân thuộc một nhóm tuổi tác, chiều cao,
sức nặng, …xác định mà không cần tìm hiểu chi tiết vô số yếu tố phức tạp
góp phần vào sự sống hay chết của mỗi cá nhân của nhóm. Lý do duy nhất
là bởi tại những yếu tố trách nhiệm về cái chết của bất kỳ cá nhân nào
đều đa chủng và bất đồng, và bởi tại chúng tác động tương đối độc lập
theo cách thức dẫn đến những luật thống kê.
Hai mặt của các tiến trình thiên nhiên, nhân quả
và ngẫu duyên, đều liên kết với những luật thống kê. Nhìn theo khía cạnh
cơ hội tùy duyên, một định luật thống kê là một khuynh hướng tuần quy
phát khởi từ sự hỗ giao hỗ triệt giữa những dao động ngẫu duyên trong
một quần tập rộng lớn vật thể hay biến cố. Nếu chuyển sang lối nhìn đối
lập xem toàn thể hết thảy mọi vật thể hay biến cố trong một quần tập
thống kê như một thực thể, thời định luật thống kê trở thành định luật
nhân quả gần đúng áp dụng cho loại thực thể này.
Thống kê xác suất và Luật số lớn.
Khái niệm hiện thành thống kê tuần quy đã xúc
khởi sự triển khai thuyết toán học về xác suất, cơ sở của các phương
pháp thống kê, gọi là thuyết thống kê xác suất (statistical probability
theory) hay nói gọn, thuyết xác suất. Thuyết toán học này thường được sử
dụng để khảo sát tổng thể của những quần tập rộng lớn các vật thể, hiện
tượng, hay biến cố tùy thuộc những ngẫu duyên ở bên ngoài phạm vi tình
huống đang cứu xét. Từ xưa, xác suất đi đôi với đánh bạc, và thường đánh
bạc hay dùng đồng tiền hay súc sắc cho nên mỗi khi cắt nghĩa xác suất là
gì, thông lệ là lấy thí nghiệm gieo đồng tiền hay súc sắc làm thí dụ.
Bây giờ, hãy dùng thí nghiệm gieo đồng tiền để
giải thích thế nào là thống kê xác suất. Tuy nhiên, nên biết rằng mỗi
lần thử thí nghiệm gieo đồng tiền thời chỉ có hai biến cố hoặc sấp hoặc
ngửa có cơ hội xảy ra. Nhưng thường trong những thí nghiệm khác với mỗi
lần thử, có nhiều biến cố có cơ hội xảy ra. Chẳng hạn, nếu gieo một súc
sắc thời có 6 biến cố hoặc hữu hay nếu đếm số vi sinh vật trong một mẫu
lấy từ một ao nước thời số hoặc hữu có thể là bất kỳ số nguyên nào.
Nếu theo dõi kết quả của mỗi lần gieo đồng tiền,
không ai có thể nói chắc mỗi lần rơi xuống đồng tiền sẽ sấp hay ngửa. Đó
là đặc tính hoặc nhiên của ngẫu duyên. Chẳng hạn, nếu gieo từ một độ cao
khá lớn, đồng tiền có thời giờ quay vài vòng trước khi rơi xuống nền.
Mặt hiện ra tùy thuộc các chuyển động lúc đầu, bởi thế cho nên những
biến thiên nhỏ trong chuyển động đầu có thể làm đồng tiền rơi xuống mặt
này thay vì mặt kia. Thêm nữa, thân thể con người mà chuyển động ảnh
hưởng các điều kiện đầu là một hệ thống vô cùng phức tạp. Sự vận hành
của hệ thống tùy thuộc vô số chủng loại yếu tố dao động. Do đó, sau một
số rất lớn lần gieo, những biến thiên của chuyển động đầu truyền từ tay
đến đồng tiền cũng đủ làm thay đổi kết quả cuối cùng. Vì vô số yếu tố
dao động ở bên trong thân thể hoàn toàn không phụ thuộc hướng sấp ngửa
của đồng tiền lúc ban đầu cho nên không có gì lạ là sau một thời gian
lâu dài và xét trung bình, những dao động đó chẳng ảnh hưởng đồng tiền
rơi mặt này hay mặt kia. Rốt cuộc, nếu theo dõi số lần rơi mặt sấp hay
ngửa sau mỗi lần gieo đồng tiền thời số ấy dao động rất ngẫu nhiên, bất
quy tắc, trong khi ấy những hiện thành thống kê tuần quy xuất hiện trong
sự biến thiên tần số tương đối của mỗi mặt (relative frequency; tức số
lần sấp hay ngửa chia cho tổng số lần gieo) . Bởi vậy, sau một số rất
lớn lần gieo, trực giác dự kỳ là nếu tăng số lần gieo mãi mãi thời tần
số tương đối mặt sấp cũng như tần số tương đối mặt ngửa sẽ tiến đến cùng
một trị giới hạn dự kỳ là một nửa (0.5).
Đã có người làm thí nghiệm gieo đồng tiền 10 ngàn
lần, đếm tất cả 5 067 lần sấp. Như vậy, lúc chấm dứt thí nghiệm, tần số
tương đối mặt sấp là 5 067 / 10 000 = .5067 và tần số tương đối mặt ngửa
là 4 933 / 10 000 = .4933. Xét riêng sự biến thiên của tần số tương đối
mặt sấp từ khi bắt đầu cho đến khi chấm dứt thí nghiệm, thời ban đầu tần
số tương đối dao động rộng lớn nhưng với sự gia tăng lần gieo, tần số
tương đối giảm thiểu biến thiên và chuyển gần một trị số khá ổn định.
Không có gì bất hợp lý nếu giả thiết rằng các dao động biến thiên của
tần số tương đối mặt sấp sẽ tiếp tục không ngưng triệt giảm nếu thí
nghiệm được lặp đi lặp lại mãi mãi. Cuối cùng, tần số tương đối mặt sấp
sẽ tập trung càng lúc càng gần trị số giới hạn dự kỳ một nửa (.5), nếu
không bằng thời sai khác cũng không đáng kể.
Do đó, bằng vào trực giác, ta có thể định nghĩa:
Thống kê xác suất hay xác suất của một biến cố là trị số giới hạn của
tần số tương đối xảy ra biến cố ấy khi tăng bất tận số lần thử thí
nghiệm.
Nói cách khác, nếu một biến cố X xảy ra x lần
trong số n lần thí nghiệm giống nhau và nếu số n rất lớn, thời tỷ lệ số
lần x xảy ra tức tần số tương đối x/n tiến gần một trị số giới hạn gọi
là thống kê xác suất hay xác suất P(X) của biến cố X.
Khái niệm hiện thành thống kê tuần quy được phát
biểu theo ngôn ngữ toán học trong thuyết xác suất dưới hình thức các
định lý gọi là luật số lớn (laws of large numbers). Những luật này có
thể xem như phần đối chiếu lý thuyết của định nghĩa khái niệm xác suất
bằng trực giác nói trên. Luật số lớn nhìn nhận yếu tố ngẫu duyên là quan
trọng và quan hệ nhân quả không đủ lý do để giải thích và tiên đoán. Các
luật số lớn thông báo những trị trung bình và những hiện thành tuần quy
tương đối, không mô tả những ngẫu nhiên, những đặc thù, những cá thể,
những biến cố hay hiện tượng có tính duy nhất không thể trùng tố. Bởi
thế, luật số lớn cũng như luật nhân quả không hoàn toàn đúng.
Tất cả luật ở mọi mức và hết thảy các thứ luật
thuộc phạm trù khác nhau, như định tính và định lượng, quyết định và
thống kê, ..., biểu thị những khía cạnh bất đồng nhưng tương quan tương
liên của cùng tiến trình vũ trụ. Mỗi khía cạnh tương ứng với một cách
nhìn gần đúng và phiến diện vào thực tại, cách nhìn này giúp sửa sai
những cách nhìn kia. Mỗi cách nhìn nhận chân đầy đủ một bề của tiến
trình mà các cách nhìn kia hoặc đã bỏ sót hoặc chỉ phớt qua. Riêng đối
với luật nhân quả và luật số lớn, nên xem cả hai loại đó đều là những
phát biểu gần đúng. Nói thế có nghĩa là một luật nhân quả có thể là một
phát biểu thống kê gần đúng về vận hành trung bình của một quần tập rộng
lón các phần tử dao động ngẫu nhiên, bất quy tắc, một luật số lớn có thể
là một phát biểu thống kê gần đúng về hiệu quả vận hành của một số rộng
lớn nhân tố biến chuyển có tính cách độc lập.
Thực tại là tiến trình.
Mọi sự vật chẳng những không ngưng biến chuyển,
mà tất cả là một dòng sinh diệt liên tục, tất cả là lưu chú, là tương
tục bất doạn. Nói như thế có nghĩa thực tại được nhận thức là tiến trình
(reality considered as process), cái đương là (what is) là tiến trình để
trở thành chính nó. Tất cả những gì có thể phô diễn bằng lời như vật
thể, biến cố, điều kiện, cấu trúc, v..v… đều là tượng trừu xuất từ tiến
trình ấy. Tiến trình có thể ví với dòng nước trôi chảy và biến chuyển
trên đó nổi lên những mẫu hình xoáy nước, sóng gợn, … luôn luôn thay
đổi. Xoáy nước, sóng gợn đều trừu xuất từ dòng nước chảy, hiện
khởi và biến mất trong toàn thể tiến trình của lưu chú. Những tượng trừu
xuất này đoản tạm, không phải chất liệu cứu cánh hiện hữu tuyệt đối độc
lập, chỉ vận hành với tính cách tự trị mà thôi. Chúng là nội dung của
những hiện thành tuần quy, “tự căn bản pháp tính hiện thực ‘ở đâu đó’.
Thế nhưng ‘nơi nào đó’ có tác dụng, nơi đó pháp tính mới được nỗ lực
quán chiếu để phát hiện.” (Tựa Nhận thức và tánh Không. Tuệ Sỹ)
Nội dung của tất cả mọi định luật khoa học bao
gồm không gì khác ngoài những tượng trừu xuất đoản tạm như vậy, tồn tại
và vận hành chỉ với tính cách tương đối độc lập. Nói như thế có nghĩa là
cách thức chúng hiện hữu ở một mức nào đó không thể vin vào sự vận hành
của nhữngï vật thể ở mức thấp hơn mà dự đoán một cách chính xác mặc dầu
những đặc tính của cách thức chúng hiện hữu tùy thuộc quan hệ giữa chúng
và các vật thể ở mức dưới. Bởi thế không thể chấp nhận có một học thuyết
cơ bản dùng làm nền tảng bất biến, nơi cuối cùng quy giảm hết thảy mọi
hiện tượng vật lý, cho rằng hết thảy mọi thuộc tính của các quần tập vật
thể, biến cố, … đều có thể giải thích tựa trên tập hợp các chất liệu cứu
cánh của nền tảng đó.
Thật ra, vì nền tảng từ đó lưu xuất mọi hiện
tượng chính là toàn thể hoàn chỉnh của dòng vũ trụ thiên lưu, tương tục
bất đoạn, và vì không thể dùng ngôn ngữ và đo lường để mô tả cái toàn
thể thiên lưu ấy, cho nên khoa học cần áp dụng phương pháp trừu xuất
(abstraction) và tiếp cận (approximation) như trong thuyết thống kê xác
suất để tìm cách trừu xuất đúng những vật thể thật sự hiệu dụng, có lợi
ích giúp giải quyết chính xác các vấn đề trong nhiều trạng huống và điều
kiện khác nhau. Nếu đúng là những vật thể trừu xuất có tác dụng hữu hiệu
trong một trạng huống, thời chúng sẽ cho ta một ý niệm gần đúng về những
nét chính yếu của thực tại trong trạng huống đó. Nghĩa là, lý thuyết nào
sử dụng chúng để thành lập các công thức tất phải dẫn đến dự đoán chính
xác và kiểm soát các tiến trình tự nhiên đúng theo kế hoạch lý thuyết
sắp đặt. Trái lại, nếu không được như vậy, thời cần kiểm tra sửa đổi các
vật thể trừu xuất cho đến khi tìm ra được các tượng trừu xuất thích ứng
với lý thuyết. Do đó, công trình nghiên cứu khoa học là một chuỗi dài
bất tận kiểm tra sửa đổi dẫn đến khái niệm trừu tượng về những sự vật
tương đối độc lập, với mức độ gần đúng càng lúc càng cao, với phạm vi
trạng huống và tập hợp các điều kiện càng lúc càng mở rộng.
Các luật nhân quả và luật thống kê tương ưng với
kiến giải bất vô nhân sanh trình bày trong luận thức tứ cú của Hoa
nghiêm Nhất thừa Giáo nghĩa Phân tề Chương, hợp với chủ trương "vạn pháp
đều sanh do nhân và duyên" của Pháp Tạng trong sự phân loại sáu nghĩa
của nhân căn cứ trên quan niệm "là nhân thời phải có tác dụng, hữu lực
hay vô lực mà đãi duyên".
Khác biệt với của ngài Pháp Tạng, luận thức tứ cú
của Bồ tát Long Thọ dẫn đến kết luận là mọi pháp đều vô sanh, nghĩa là
không có sự sanh có tự tính tức sự sanh do năng lực dẫn sanh quả từ tự
tính của nhân. Tưởng cũng nên biết sở dĩ có sự khác biệt như vậy là vì
tứ cú Trung quán cần được thành lập trên duy nhất một bình diện thời
gian để thực hiện quá trình phủ định khắp toàn thể vũ trụ ngôn thuyết.
Do đó, trong hệ thống luận lý Trung quán hết thảy mọi ngôn thuyết (ngôn
ngữ và luận lý) đồng thời trở nên sai lầm cần phải triệt để đoạn tận để
chứng đạt cái "chân không diệu hữu".
Phía Hoa nghiêm Ngũ giáo Chương, luận chứng tứ cú
được thành lập trên nhiều bình diện thời gian khác nhau, cho nên quá
trình đoạn hoặc chứng chân dẫn đến kết quả là một khi "lìa hẳn vọng
tưởng hý luận thời thấy ngay trong tự thân sẵn có trí huệ rộng lớn là
Phật tánh, cùng Phật không khác." Như vậy, cái "nhân của tự thân" là
"cái còn lại" sau một tiến trình tu đoạn phiền não.
Ngoài ra, trong sáu nghĩa của nhân, trên phương
diện thể, ngài Pháp Tạng phân biệt nhân có hai: nhân Không và nhân Hữu.
Nhân Không là căn cứ vào sự kiện mọi hiện tượng do duyên sinh đều vô tự
tính. Nhân Hữu là căn cứ vào sự kiện mọi hiện tượng do duyên sinh đều là
danh tự giả tướng. Hữu mượn danh mà có cho nên giả hữu. Vậy theo thuyết
Nhị đế, mọi hiện tượng (biến cố, trạng thái, hay quá trình) của thế giới
thường nghiệm trong đó luật nhân quả và luật thống kê chi phối và điều
hành mọi tiến trình, mặc dầu theo Chân đế là duyên khởi như huyễn, không
có tự tính, nhưng theo thế tục đế, chúng có, chúng là giả hữu, là danh
tự giả tướng.
Khác Kinh lượng bộ, về thời gian, nhân quả nhất
định phải có trước sau, với Hữu bộ đặc biệt "nhân quả đồng thời" cũng
được coi là đặc trưng của nhân quả. Lục nhân luận của Hữu bộ đề cập sáu
nhân, Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Đồng loại nhân, Tương ứng nhân, Biến
hành nhân, và Dị thục nhân, trong đó Câu hữu nhân có hai trạng huống:
Một là “Câu hữu nhân đồng nhất quả”, nghĩa là trạng huống do nhiều
nguyên nhân khác nhau kết hợp lại mà sinh ra một kết quả. Đây chính cũng
tương đương với cái gọi là “hiệp đồng nguyên nhân”. Hai là, “Câu hữu
nhân hỗ vi quả” (Câu xá, quyển 6) tức là điều kiện hỗ tương tư trợ để
thành lập một sự kiện, như trạng huống khi chủ quan và khách quan phát
sinh quan hệ, thời chủ quan là nguyên nhân của khách quan, khách quan là
nguyên nhân của chủ quan, cả hai dựa vào nhau, làm nhân cho nhau mà
thành lập hiện tượng. Trạng huống này tương đương với cái gọi là “hỗ
động nguyên nhân”.
"Nhân quả đồng thời", nghe qua tưởng chừng có mâu
thuẫn, bởi vì nói đồng thời tức phủ định luật nhân quả dị thời. Nhưng ở
đây nên hiểu "nhân quả đồng thời" có nghĩa là "thức chuyển biến". Thức
(vijnàna) là một trong những cái duyên cho các hiện hữu, nhưng là cái
duyên đặc biệt. Nó là chủ lực ở ngay trong mỗi mỗi chúng sinh, có năng
lực phân biệt biết được cái khác và tự biết được mình. và có chủng tử
tại A lại da. Trong Tam thập tụng sớ giải (Trimsikà-bhàsya) của An Huệ
(Sthiramati), thuận hợp với hai trong sáu đặc tính của chủng tử (nhân)
là sát na diệt và quả câu hữu, chữ "chuyển biến" (parinàma) được giải
thích là: (1) sự biến chuyển nhân diệt quả sinh do đó mà có sự khác
biệt; (2) sự biến chuyển nhân diệt quả sinh xảy ra trong sát na hiện
tại, tức sinh diệt đồng thời.
Lưu ý nhân và quả ở đây tiếng Phạn là kàrana và
kàrya chứ không phải hetu và phala. Kàrana có nghĩa là tác động (chẳng
hạn, thấy, nghe, ...) và kàrya là tác quả hay cái bị tác động (cái bị
thấy, được nghe, ...). Theo An Huệ, đối với một tác động nào đó thời tác
dụng và tác quả hiện tại của nó, cả hai đồng thời hiện khởi, mặc dầu
nhân kàrana và quả kàrya có tướng trạng sai biệt. Khác với hetu và phala
cũng dịch là nhân và quả, nhất định nhân hetu luôn luôn đến trước quả
phala, kàrana có khi xem là nhân thời kàrya là quả, nhưng có khi kàrya
là nhân thời kàrana là quả. Quan hệ giữa kàrana và kàrya là quan hệ hai
chiều, khác hẳn quan hệ một chiều giữa hetu và phala.
Trong thức chuyển, An Huệ phân biệt hai tầng
chuyển biến xảy ra đồng thời và nghịch chiều: nhân chuyển (hetu
parinàma) còn gọi là huân tập (vàsanà) tức các pháp làm nhân tố cho A
lại da (hiện hành sinh chủng tử) và quả chuyển (phala parinàma) tức A
lại da làm nhân tố cho các pháp (chủng tử sinh hiện hành). Trong nhân
chuyển hiện tượng (phala) bây giờ là kàrana và chủng tử (hetu) là kàrya.
Trong quả chuyển, chủng tử là kàrana và hiện tượng là kàrya. Như vậy,
kàrana và kàrya có thể chuyển từ cái này qua cái kia và ngược lại. Nhân
chuyển và quả chuyển phát sinh dị biệt và xảy ra đồng thời, kàrana <==>
kàrya, đó là ý nghĩa của thức chuyển theo An Huệ và cũng là chủ trương
của Pháp tướng tông: "Tam pháp triển chuyển, Nhân quả đồng thời".
Thế giới hiện tượng nương trên cơ sở thức chuyển
mà giả lập. Tánh đồng thời tức phi thời của thức chuyển trở thành nguồn
gốc của thời gian và không gian. Như vậy, cái thế giới mà khoa học tìm
cách miêu tả như thực tại, trong đó mọi tiến trình tuân theo luật nhân
quả và luật xác suất chính là cái thế giới tự thiết lập và hình thành do
biến dịch sinh diệt từng sát na.
(II)
Nhất thời vị:
Đồng thời là
câu khởi.
Đồng thời
(simultaneity) không có nghĩa là cùng ở chung trong một thời khoảnh,
trong một lúc, mà đơn
giản có nghĩa là câu khởi, là cùng phát sinh một lượt. Các biến cố câu
khởi tương hỗ quan liên bởi tại chúng cọng tồn, chúng cùng hiện hữu.
Để cùng hiện
hữu chúng không cần đến
thời gian, cái mà ta gọi là thời khoảnh, là lúc. Thật ra, bởi chúng cùng
phát sinh một lượt nên mới nói
đến thời
khoảnh, thời khoảnh này tự nó không phải là một hữu thể thời gian, nó
chỉ là cái lớp (tập hợp) các biến cố cùng phát sinh, cùng hiện hữu.
Chúng ta suy diễn thời gian từ biến cố, chứ không suy diễn biến cố từ
thời gian.
Theo trên, khái niệm thời khoảnh (lúc) không chủ
yếu bằng khái niệm biến cố. Khái niệm
đồng thời
đã
được dùng
để
định nghĩa thời
khoảnh là lớp (tập hợp) các biến cố câu khởi và cọng tồn.
Đó
là thuyết thời gian tương
đối của Leibniz
đối nghịch
thuyết thời gian tuyệt
đối của Newton trong
đó
thời gian độc
lập đối với
biến cố. Tuy nhiên, cả hai thuyết
đều bất lực
không giải quyết nổi mâu thuẫn căn
bản: trong khi phía không gian, khái niệm
đo lường không
gian và khái niệm trật tự không gian thuận hợp nhau, thời về phía thời
gian, khái niệm nối tiếp (succession) và khái niệm tồn tại (duration)
đối chọi nhau.
Chính sự mâu thuẫn này
đã gây nhiều thắc mắc không giải
đáp
được về bản
thể, về tính khả phân, về
đơn vị
đo lường thời
gian. Nhà toán học Henri Poincaré nhận xét sự kiện chúng ta không có một
trực giác nào về sự bằng nhau giữa hai khoảng thời gian, vì thế, mặc dầu
có thể biết biến cố này
đến trước biến
cố kia, nhưng không thể nào nói một cách chính xác thời gian
đến trước là
bao nhiêu, nếu không căn
cứ vào khái niệm tồn tại thường
được
định nghĩa một
cách độc
đoán. Do
đó,
ông luận chứng rằng vì
định nghĩa thời gian nhiều cách khác nhau dẫn
đến sử dụng
nhiều "ngôn ngữ" khác nhau cùng diễn tả chung những sự kiện thực nghiệm
giống nhau, cho nên thời gian phải
được
định nghĩa như
thế nào để các
định luật căn
bản của vật lý học càng "đơn
giản" càng tốt. Ông kết luận "không có sự kiện
đo thời gian
theo cách này là chân thật hơn
đo theo cách
kia; nói chung là chỉ chọn lựa cách
đo nào tiện lợi
thích dụng hơn. Giữa hai cái
đồng hồ, chúng
ta không có quyền bảo cái này chân thật, cái kia không chân thật; chúng
ta chỉ có thể nói theo giờ cái
đồng hồ
đầu là có lợi."
Theo Einstein, không có cách gì hợp lý
để
định nghĩa thời
gian ngoại trừ quy chiếu về một hệ thống
đồng hồ liên
kết nhau. Ông viết: "Chúng ta phải lưu ý rằng mọi xét
đoán trong
đó
có vai tuồng của thời gian
đều luôn luôn
là xét đoán về
những biến cố đồng
thời. Nếu, chẳng hạn, tôi nói, 'Chuyến tàu này
đến
đây vào lúc 7
giờ', thời theo tôi có nghĩa là 'Sự kim ngắn
đồng hồ tôi chỉ
vào số 7 và sự tàu đến
là biến cố đồng
thời." Không có vấn đề
nếu đồng thời
xảy ra tại duy nhất một
điểm, nhưng sẽ
gặp khó khăn
khi phải liên kết các biến cố cách biệt trong không gian. Nói hai biến
cố cách biệt trong không gian là
đồng thời có
nghĩa là gì? Làm thế nào so sánh giờ
đồng hồ chỉ tại
đây với sự tàu
đến ga tại chỗ
đó
lúc 7 giờ? Hỏi như vậy tức là tìm cách
định nghĩa khái
niệm đồng thời
bằng một phương pháp kỹ thuật. Thí nghiệm bằng trí tưởng tượng, Einstein
đề xướng liên
kết các đồng hồ
bằng cách phát tín hiệu từ một
đồng hồ khởi
đầu
đến một
đồng hồ xa cách
và điều chỉnh
giờ trên đồng
hồ xa cách bằng giờ trên
đồng hồ khởi
đầu cọng thêm
nửa thời gian vận hành khứ hồi của tín hiệu giữa hai
đồng hồ ấy.
Thí nghiệm liên kết theo cách này có thể thực
hiện với bất kỳ đồng
hồ nào dùng làm khởi đầu
cũng được,
không đồng hồ
nào trọng yếu hơn đồng
hồ nào, và đã
định nghĩa rất
minh bạch khái niệm đồng
thời như là nguồn gốc từ
đó
sinh xuất thời gian thường nghiệm. Poincaré phát biểu cùng một quan
điểm: "Đồng
thời là một quy ước, không gì khác ngoài sự phối hợp các
đồng hồ bằng
cách trao đổi
giao nhau những tín hiệu
điện từ và quán
sát thời gian thông quá của tín hiệu." Einstein
đã thành tựu
biểu tượng khái niệm đồng
thời và thời gian tương
đối bằng phương
pháp kỹ thuật: thiết lập một mạng lưới liên kết
đồng hồ bằng
tín hiệu điện
từ , tạo thành một bộ máy thời gian hiệu dụng khắp mọi nơi và có giá trị
với bất kỳ hệ quy chiếu chuyển
động
đều nào trong
vũ trụ.
Giải quyết xong phương cách
định nghĩa
đồng thời, tựa
vào hai định
đề của thuyết
tương đối hẹp
(1.- Mọi tiến trình vật lý diễn biến trong hệ quy chiếu chuyển
động
đều
đều
độc lập
đối với hệ quy
chiếu và 2.- Ánh sáng truyền dẫn với tốc
độ không thay
đổi dẫu nguồn
ánh sáng chuyển động
với bất cứ vận tốc nào), Einstein chứng minh
được: Hai biến
cố đồng thời
trong hệ quy chiếu này không còn
đồng thời trong
hệ quy chiếu khác.
Theo thuyết thời gian tương
đối, các biến
cố không cọng hữu cọng tồn có thể tương quan liên hệ thời gian nếu giả
thiết có một chuỗi dài gồm các trạng thái của vũ trụ, mỗi trạng thái là
một lớp biến cố đồng
thời với một biến cố cho, và các trạng thái ấy tương quan liên hệ theo
thứ tự trước và sau. Với
định nghĩa thời
gian như vậy, hai trạng thái không
đồng thời không
thể đồng nhất
trên mọi phương diện, các trạng thái của vũ trụ sẽ không tái hiện, và
thời gian được
công nhận là chủ yếu: năm,
tháng, ngày, giờ, trở nên
đặc tính cốt
yếu của biến cố.
Từ xưa
đến nay, từ
Đông sang Tây,
nhiều khoa lý số thành hình với mục
đích
tìm hiểu ý nghĩa của thời khoảnh
để tiên
đoán tương lai.
Chẳng hạn, khoa số Hà Lạc dựa vào 64 quẻ Kinh Dịch
đổi ngày giờ
sinh tính ra hai quẻ cho từng người, một Tiên thiên, một Hậu thiên.
Người đoán dựa
vào hai quẻ đó
mà suy đoán ra
mọi việc, các thăng
trầm họa phúc suốt cả
đời. Khoa số Tử vi cũng do năm
tháng ngày giờ mà biến các quẻ các hào Kinh Dịch ra thành những tên sao
rồi xem cách cục sinh hóa ra sao
để
đoán phú quý
thọ yểu cho cả đời.
Carl Jung nhận xét ở Tây phương thường thắc mắc
hỏi cớ sự nào dẫn đến
tình trạng này hay cái nhân nào sinh ra quả ấy, thời trái lại người
Đông phương
quan tâm tìm hiểu những biến cố nào có thể
đồng thời xảy
ra một cách có ý nghĩa vào cùng một thời khoảnh, những hiện tượng nào có
khuynh hướng phát sinh cùng một lúc. Như vậy, trung tâm của vấn
đề là một thời
khoảnh bao hàm một quần tập biến cố. Tuy suy tư theo lối nhìn nhân quả
cũng liên can đến
thời gian qua khái niệm trước và sau, nhưng theo lối nhìn hiện tượng
đồng thời phát
sinh một cách có ý nghĩa thời "nhất thời vị" có vai trò chủ chốt là tóm
thâu cả một quần tập biến cố vào một tiêu
điểm.
Đồng thời tương
ưng: Nguyên lý của Kinh Dịch.
So sánh tư tưởng Kinh Dịch vớùi khoa học Tây
phương, Carl Jung viết trong Lời nói
đầu: "Khoa học
của chúng ta, tuy vậy, căn
cứ trên nguyên lý bất vô nhân (causality), và nguyên lý này
được xem như
một tiên đề
chân lý. Nhưng quan điểm
của chúng ta đang
có sự thay đổi
lớn. Những gì quyển Bình luận về Thuần túy Lý trí (Crtique of Pure
Reason) của Kant không thành tựu thời vật lý học hiện
đại
đang thực hiện.
Các tiên đề của
lý bất vô nhân bị lung lay tận gốc rễ; nay chúng ta biết rằng cái gọi là
luật thiên nhiên thật ra chỉ là những chân lý thống kê, bởi vậy nhất
thiết phải chấp nhận ngoại lệ.
Đến bây giờ
chúng ta vẫn không thấu triệt rằng phải cần
đến những phòng
thí nghiệm với những hạn chế khắc nghiệt
để chứng minh
tính luôn luôn đúng
của luật thiên nhiên. Nếu
để sự vật trong
tình trạng tự nhiên, sắc tướng chúng sẽ rất khác: mọi tiến trình hoặc
một phần hoặc toàn thể tiếp giao với ngẫu duyên, nghĩa là trong tình
trạng tự nhiên một quá trình biến cố tuyệt
đối tuân theo
những luật tắc riêng hầu như là một ngoại lệ.
Tâm thức người Trung hoa, theo như tôi thấy biểu
lộ trong Kinh Dịch, tuồng như chỉ chú trọng
đến diện ngẫu
duyên của các biến cố. Cái mà chúng ta gọi là tương phù (coincidence)
tuồng như là điều
họ quan tâm nhất, và cái mà chúng ta tôn sùng như lý bất vô nhân
(causality) thời họ chẳng hề lưu ý. Chúng ta phải thừa nhận có
điều gì
đó
cần phải nói đến
về tánh cách vô cùng quan trọng của ngẫu duyên. Con người hao tổn biết
bao công sức nhằm loại trừ và giới hạn sự tai hại và hiểm nghèo ngẫu
duyên biểu thị. Những tư duy lý thuyết về nhân và quả có vẻ mờ nhạt và
phủ bụi so với những kết quả thực tế của ngẫu duyên. Không có gì sai lầm
khi bảo rằng tinh thể thạch anh là một lăng
kính sáu phương. Phát biểu như thế
đúng
thật chỉ khi nào đó
là một tinh thể lý tưởng. Nhưng
đâu có tìm ra
được hai tinh
thể hoàn toàn giống hệt nhau trong thiên nhiên, mặc dầu tất cả tinh thể
đều sáu phương
là điều không
thể nhầm lẫn được.
Sắc tướng đương
hiện, tuy vậy, tuồng như thu hút sự chú ý của nhà hiền triết Trung hoa
nhiều hơn là sắc tướng lý tưởng.
Đống luật thiên
nhiên cấu thành thực tại thực nghiệm
đối với nhà
hiền triết mang nhiều ý nghĩa hơn là những lời giải thích các biến cố
tựa trên lý bất vô nhân, thường phải phân cách biến cố này với biến cố
kia để tiện bề
khảo sát.
Phương cách Kinh Dịch nhìn thực tại tuồng như
phản lại phương cách nhìn mọi sự vật theo lý bất vô nhân. Theo quan
điểm Trung hoa
xưa, cái thời khoảnh đang
quan sát là do cơ may mà có chứ không phải kết quả xác
định bởi sự
chung hợp của nhiều tiến trình dây xích nguyên nhân. Sự vật
được quan tâm
là cấu hình tạo nên bởi những biến cố ngẫu duyên
đúng
vào thời khoảnh quan sát, chứ không phải những lý do giả thiết tưởng
chừng có thể giải thích vì sao có sự tương phù. Trong khi người Tây
phương để tâm
sàng lọc, cân đo,
chọn lựa, phân hạng, cách ly, thời người Trung hoa hình dung thời khoảnh
bao hàm hết thảy mọi sự vật,
đến tận chi
tiết vụn vặt nhất giác quan không nắm bắt
được, bởi vì
tất cả mọi phần tử đó
tổ thành thời khoảnh quan sát.
Do
đó,
điều xảy ra là
khi gieo ba đồng
tiền hay đếm
qua những lần biến bốn mươi chín cọng cỏ thi, những chi tiết ngẫu duyên
ấy thu nhiếp vào hình ảnh của thời khoảnh quan sát và tạo nên một phần
của nó, một phần không có gì
đáng
cho chúng ta quan tâm, nhưng rất có ý nghĩa
đối với người
Trung hoa. Câu nói "bất cứ gì xảy ra trong một thời khoảnh thế nào cũng
mang phẩm tính riêng biệt của thời khoảnh ấy"
đối với chúng
ta thật quá tầm thường và hầu như không có ý nghĩa. Câu nói
đó
không phải là một lập luận trừu tượng mà là vô cùng thực tế. Có những
người sành rượu chỉ nhìn bề ngoài, nếm mùi vị, và qua tác dụng của rượu
mà nói rượu đó
đến từ
ruộng nho nào và được
cất vào năm
nào. Có những người chơi
đồ cổ chỉ cần
nhìn một tác phẩm nghệ thuật hay một món gia cụ là nói
đúng
một cách kỳ lạ tên tác giả cùng với
địa
điểm và thời
khoảnh nguồn gốc. Và cũng có những chiêm tinh gia mặc dầu không biết
ngày, nơi sinh của ông (bà) mà vẫn có thể mô tả vị trí của mặt trời và
mặt trăng cùng
với tinh quần nào của Hoàng
đạo mọc trên
chân trời vào thời khoảnh sinh ra ông (bà).
Đứng trước
những sự kiện như vậy, phải nhìn nhận rằng các thời khoảnh có thể lưu
lại những dấu vết bền lâu.
Nói cách khác, bất luận ai
đã sáng chế
Kinh Dịch đều
tin tưởng rằng quẻ bói vào một thời khoảnh tương phù với thời khoảnh ấy
về phương diện phẩm tính không kém gì về phương diện thời gian.
Đối với người
ấy quẻ bói biểu tượng thời khoảnh lúc quẻ hiện,
đúng
hơn cả giờ đồng
hồ chỉ hay tiết mục lịch phân, vì quẻ
được xem như là
dấu chỉ tình huống thiết yếu vào thời khoảnh quẻ hiện.
Giả thiết vừa nêu trên liên hệ một nguyên lý
đáng
tìm hiểu, tôi gọi là nguyên lý
đồng thời tương
ưng (synchronicity), một khái niệm diễn bày một cách chính xác một lối
nhìn đối nghịch
với lối nhìn bất vô nhân (causality). Vì lý bất vô nhân chỉ là một chân
lý thống kê và không tuyệt
đối, là một
loại giả thuyết giúp tiến hành công việc khảo sát, căn
cứ trên đó
tìm hiểu cách thức hiện khởi của các biến cố, làm thế nào biến cố này
sinh xuất từ biến cố kia, trong khi theo lý
đồng thời tương
ưng thời sự tương phù giữa các biến cố trong không gian và thời gian
mang ý nghĩa gì đó
hơn là thuần túy ngẫu duyên, ấy là cái tánh
đặc biệt nương
tựa lẫn nhau, giữa các biến cố khách quan với biến cố khách quan cũng
như với các trạng thái (tâm lý) chủ quan của người quan sát hay của
nhiều người quan sát.
Cách người Trung hoa xưa chiêm ngưỡng vũ trụ
không khác cách của các nhà vật lý học hiện
đại, các khoa
học gia này không thể phủ nhận mô hình thế giới họ thiết lập là một cấu
trúc tâm vật lý vô nghi. Biến cố lượng tử trong thế giới vật lý vi mô
bao gồm luôn cả người quan sát cũng giống như thực tại ẩn dưới Kinh Dịch
bao gồm những điều
kiện chủ quan, nghĩa là tâm lý, trong toàn thể của tình huống sát na.
Cũng như nhân quả mô tả trình tự biến cố,
đồng thời tương
ưng đối
với người Trung hoa đề
cập sự tương phù biến cố. Trên quan
điểm nhân quả
ta được nghe
một truyện hí kịch nói làm thế nào D phát sinh và hiện hữu: nó bắt nguồn
từ C hiện hữu trước D, và C
đến lượt nó có
cha là B, v..v... Trên quan
điểm
đồng thời tương
ưng một tấm tranh về sự tương phù
được vẽ ra, có
ý nghĩa giống vậy. Làm thế nào A', B', C', D', v..v... tất cả
đều hiện khởi
trong cùng một thời khoảnh và tại cùng một nơi? Trước hết, hiện khởi như
vậy là do biến cố vật lý A' và B'
đều có cùng
phẩm tính như biến cố tâm lý C' và D', và ngoài ra, tại vì tất cả
đều biểu hiện
của một và cùng tình huống sát na. Tình huống
được giả thiết
là biểu thị một bức tranh dễ nhận hay dễ hiểu."
Những lời Jung trình bày trên phát xuất từ kinh
nghiệm nghề nghiệp. Đối
với ông, tâm thức không phải là một yếu tố khóa kín trong thân thể mà
giống như bầu khí quyển trong
đó
ta đang sống.
Thuyết đồng
thời tương ưng của ông gióng theo tư tưởng kinh Dịch cho rằng mỗi thời
khoảnh có đặc
tính riêng, và mọi biến cố xảy ra trong thời khoảnh ấy dều phân thụ tính
chất duy nhất ấy. Thực tại của trạng thái tâm thức tương ứng với thực
tại của các biến cố đồng
thời hiện khởi trong môi trường chung quanh. Jung sử dụng kinh Dịch như
phương tiện khám phá ngoại giới, cái khí quyển tâm lý trong
đó
ta đang sống.
Và ông áp dụng thuyết
đồng thời tương ưng
để phân tích và
chữa trị.
Một
điểm
đáng
ghi nhận: Nhà báo Miguel Serrano, người Argentine, tường thuật rằng Jung
một tháng trước khi mất có
đọc một sách
Thiền Phật giáo và vừa khi
đọc xong
đã chú thích
mấy lời như sau: "Đối
với tôi tuồng như chúng tôi cùng nói một chuyện như nhau, và sự khác
biệt duy nhất giữa chúng tôi là dùng những từ ngữ khác nhau
để cùng mô tả
chung một thực tại." (Serrano, Miguel: C. G. Jung and Hermann Hesse: A
Record of Two Friendships. New York: Schocken, 1966. Tác giả không nói
rõ sách Thiền ấy tên gì và do ai viết.)
Ông nhận xét bệnh nhân ông thường có người mộng
tưởng những hình ảnh ký hiệu rồi sau
đó
thật lạ kỳ là chúng tương phù với những biến cố ngoại giới. Nếu nhận
thức những biến cố ngoại giới này là ký hiệu thời chúng
đồng nghĩa với
những hình ảnh mộng tưởng. Tuồng như
điều này hầu
hết phát sinh khi một nguyên hình (archetype)
được kích hoạt
trong vô thức của người quán sát, tạo một trạng thái tình cảm khẩn
trương cao độ.
Vào những lúc như vậy, có những biến cố cùng ý nghĩa xảy ra ở ngoại
giới, biểu hiện một "sự tương phù có ý nghĩa" mà Jung gọi là hiện tượng
"đồng thời
tương ưng" vì hai biến cố tâm và vật không nối kết qua quan hệ nhân quả
mà qua ý nghĩa và đồng
thời.
Bản chất của
đồng thời tương
ưng là có ý nghĩa và tương hợp với một sự kích khởi công năng
ở tầng sâu thẳm nhất của tâm thức.
Đặc biệt là khi
những mẫu hình tâm lý vươn lên thấu ý thức thời các hiên tượng
đồng thời tương
ưng đạt tột
đỉnh. Sự tương
phù thường phát hiện vào những thời
điểm gay cấn
hay căng thẳng
trong đời sống
của một cá nhân, như sinh, chết, cảm thấy yêu
đương, tâm lý
trị liệu, hoạt động
sáng tác cao độ,
hay đổi thay
nghề nghiệp. Những khi chuyển biến cơ cấu, tuồng như nội tâm hoán khởi
sự cọng hưởng của ngoại giới hoặc sự bạo phát tâm lực lan truyền thế
giới vật lý.
Về hiện tượng này, Jung kể lại câu chuyện vào năm
1909 trong một cuộc gặp Freud, khi bị chỉ trích nặng nề vì thiên trọng
thuyết duy tâm và cảnh cáo sẽ bị "triều
đen của bùn
huyền bí học" cuốn trôi, Jung cảm thấy nóng ran nơi hoành cách mạc.
Đúng
lúc ấy, cả hai người nghe tiếng gãy rắc rắc rất lớn từ tủ sách
dến. Jung cho đó
là một thí dụ về "xúc tác phát hiện ra ngoài (catalytic
exteriorization)". Freud bảo: "Hoàn toàn vô nghĩa (Sheer bosh)." Jung
liền dự đoán
một biến cố như thế sẽ tái diễn, và ngay lúc ấy một tiếng nổ khác vang
lên, lần này làm Freud giật mình.
Trong khi các
định luật vật
lý học không lưu tâm đến
khát ái dục vọng của con người hay sự cần thiết có ý nghĩa, thời
đối với các
tiến trình tâm thức đồng
thời tương ưng tác dụng như tấm gương và hiển thị ở bên ngoài những biến
đổi ở bên
trong. Một số hiện tượng
đồng thời tương
ưng phát khởi từ ngoại giới rồi chuyển vào nội tâm khi ý nghĩa của chúng
tiết lộ. Chúng tùy thuộc khả năng
nhận chân một ý nghĩa sâu xa hơn nữa nơi những mẫu hình và quần tập hiện
tượng cọng hữu ở chung quanh.
Điều này liên
can đến phương
cách đặc biệt
ta nối kết với môi trường, dự
đoán những biến
cố, hay cảm tri một mẫu hình cơ bản nào
đó
của thế giới. Thí dụ: các văn
nghệ sĩ thường cảm giác linh thông biết trước rất lâu những biến cố
hay thay dổi xã hội quan trọng. Như trong truyện Gulliver Du ký, các nhà
thiên văn học
giả tưởng của Jonathan Swift biết Hỏa tinh có hai vệ tinh rất lâu trước
ngày các người thật trong
đời có thể quán
sát thấy như vậy. Như lời ca của Trịnh công Sơn thương nhớ người
đi trong ca
khúc Biển nhớ viết lúc còn học tại trường Sư phạm Quy nhơn, rất lâu
trước 1975, "Ngày mai em
đi biển nhớ tên
em gọi về, bờ núi nghiêng nghiêng
đợi chờ, sỏi
đá
trông em từng giờ, nghe buồn nhịp chân bơ vơ, nghe ngoài biển
động buồn hơn",
tuồng như phát xuất từ vô thức linh cảm ngày ra
đi của hàng vạn
người vượt trùng dương di tản.
Cũng có những hiện tượng
đồng thời tương
ưng chỉ phát khởi nội tâm, không có biến cố vật lý trọng yếu nào làm
bạn. Chẳng hạn mộng tưởng, ký ức, tư tưởng, ký hiệu, và cảm giác phát
sinh từ nội bộ, hiển thị những mẫu hình vô nhân, biểu tượng tương phù
trong tâm thức của nhiều cá nhân khác nhau. Thí dụ những
đồng thời phát
minh của những khoa học gia không hề giao tiếp liên lạc nhau. Như thuyết
tiến hóa chẳng hạn, là khám phá của hai công trình nghiên cứu
độc lập nhau.
Khi Charles Darwin theo lời khuyên của bạn bắt
đầu viết về
thuyết tiến hóa của những loài mới, thời theo ông kể: "Tất cả chương
trình của tôi bị đánh
đổ, bởi vì chớm
hạ năm 1858 ông
Wallace khi ấy ở quần
đảo Malay gửi cho tôi một luận thuyết về Khuynh hướng các thứ rời
bỏ hẳn kiểu nguyên thủy (On the Tendency of Varieties to depart
indefinitely from the Original Type), và luận thuyết ấy trình bày
đúng
hệt thuyết của tôi." Trường hơp tính vi tích phân cũng vậy, do cả hai,
Newton và Leibnitz, đồng
thời khám phá.
Kinh ngạc hơn nữa là tư tưởng
đồng thời tương
ưng phát khởi trong những lãnh vực hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, làm
sao cắt nghĩa sự tăng
trưởng tri thức về bản chất ánh sáng qua những thí dụ sau
đây.
Vào khoảng giữa thế kỷ 16, Vermeer và nhiều họa
sĩ ở Hòa Lan quan tâm tìm hiểu bản tính của ánh sáng, những tác dụng của
nó khi chiếu vào phòng xuyên qua cửa, cửa sổ, và các khe, và sự biến
đổi của nó khi
chiếu qua kính màu. Trong thời gian ấy Isaac Newton dùng lăng
kính khảo sát các thành phần của một tia sáng lọt qua một lỗ nhỏ trên
cánh cửa sổ của phòng ông ở Cambridge, Anh quốc.
Hai trăm
năm sau, họa sĩ
Anh Joseph M. W. Turner hình dung ánh sáng như một oa tuyền
đang xoáy tít,
như một năng
lực làm tan biến mọi sắc tướng, không kém gì sức chuyển
động nổi gió,
đổ mưa, và dậy
sóng. Sau đó
không bao lâu, Maxwell phát minh phương trình mô tả thuyết sóng
điện từ trường
giải thích ánh sáng là do chuyển
động tương tức
tương nhập của hai làn sóng, sóng
điện và sóng
từ. Cuối thế kỷ 19, phái ấn tượng chủ trương ánh sáng thuần túy là một
lực có công năng
làm hiện khởi và tan biến sắc tướng, có thể phân tán ra thành nguyên tử
cấu phần của cảm giác. Trên quan
điểm
đó,
ánh sáng quy giảm thành những
điểm hay lượng
tử màu sắc. Vài năm
sau, Planck và Einstein cùng một quan
điểm
đã công thức
hóa những khái niệm trên tạo thành thuyết lượng tử ánh sáng và vật chất.
Những khái niệm và kiến thức kể trên có phải
đến từ những
dạng ký hiệu thu nhiếp trong vô thức hay chúng là những biểu tượng danh
ngôn thuộc lãnh vực nghệ thuật, văn
chương, âm nhạc, hay khoa học phóng khai từ ý nghĩa ẩn mật trong thiên
nhiên? Sự tương phù của các biến chuyển tư tưởng, cảm tưởng, và ý tưởng
giữa các nhóm không tương quan giao tiếp và xuyên qua nhiều lãnh vực
khác nhau không phải là kết quả giao cảm hay kết nối tâm thức mà là dấu
chỉ của một tiến trình tâm vật tương hỗ triển khai từ một thực tại siêu
quá cái tâm thức cá nhân bị giới hạn trong không thời gian.
Điểm
đặc biệt của
đồng thời tương
ưng là trong một thời khoảnh nó vừa là một hiện tượng cá biệt duy nhất,
vừa là hiện thành của trật tự vũ trụ. Hạn cuộc trong một thời khoảnh, nó
biều hiện bản tính siêu nhiên của nó. Chính sự tương quan nội tại của sự
tương phù tâm vật với tánh siêu nhiên là nguyên nhân của tính cách thần
kỳ, siêu tự nhiên của hiện tượng
đồng thời tương
ưng.
Trật tự vô nhân: Hỗ tương y tồn.
Các biến cố
đồng thời tương
ưng thường hay đột
khởi, xảy ra bất thường, khi có khi không, không thể tiên
đoán. Jung nhận
thức chúng như là những sự cố
đặc biệt duy
nhất của một nguyên lý tổng quát mà Jung gọi là trật tự thiết lập vô
nhân (acausal orderedness). Ở
đây, chữ nhân
được hiểu là
lực, năng
lượng, hay thông tin chuyển từ một vật thể xác
định này
đến một vật thể
khác. Cụm từ "trật tự thiết lập vô nhân" có nghĩa là, các hiện tượng
sinh khởi theo luật tương quan tương duyên, hỗ tương y tồn, chứ không
theo luật nhân quả.
Thí dụ: Không vật lý gia nào có thể giải thích
nguyên nhân phát xuất tính phi cục bộ của thế giới lượng tử. Họ cũng
không hiểu tại sao các
đồng vị phóng xạ (radioisotopes) phân rã theo những tốc
độ xác
định, tại sao
tốc độ của ánh
sáng trong khoảng trống là 300 000 kilomet mỗi giây, không hơn không
kém. Trong thế giới tâm thức, kể
đến những phẩm
tính của số nguyên tự nhiên, không nhà toán học nào cắt nghĩa
được vì sao có
một số số nguyên là số nguyên tố (prime numbers) và do
đâu trong dãy
số nguyên, các số nguyên tố sắp xếp tuần tự theo thứ tự như hiện thấy.
Họ cũng không thể giải thích vì sao số 6 là một số toàn nhiên (perfect
number), nghĩa là cọng hay nhân ba thừa số 1, 2, và 3 của nó, 1 + 2 + 3
hay 1 x 2 x 3, thời số thành là nó?
Thái
độ chung là
đành
phải chấp nhận chúng "đến
như vậy", phẩm tính của chúng "là thế", không thể xác
định là do
nguyên nhân nào. Nói cách khác, các câu hỏi "Tại sao?", "Từ
đâu mà có cái
này?", hay "Cớ sự nào gây ra tình thế ấy?" tuồng như vô nghĩa
đối với những
hiện tượng trên. Trong Giải thâm mật kinh có câu: "Như Lai nói cái gì
thức biết thời cái ấy chỉ do thức hiện." Mặt khác, theo thuyết duyên
khởi, vì là nghiệp người cho nên tâm thức chúng ta "là thế", không thể
dùng nhân quả hay xác suất
để giải thích
và các tiến trình tâm thức của chúng ta vận chuyển theo trật tự thế nào
thời hình thành đối
tượng theo trật tự thế ấy. Do
đó,
chúng ta công nhận một cách tự nhiên, không chút thắc mắc những hằng số
cơ bản vật lý học như tốc
độ ánh sáng,
chu kỳ bán hủy của các chất phóng xạ, hay những phẩm tính của số nguyên
tự nhiên, chúng đương
nhiên "đến như
vậy".
Khác với những thí dụ trên, hiện tượng
đồng thời tương
ưng là sự cố đặc
biệt nhất thời trong đó
người quán sát ở vào vị thế khả dĩ nhận biết thêm một phần tử thứ ba
(tertium comparationis), phần tử kết hợp hai phần tử
đồng thời tương
ưng, ấy là sự tương tợ ý nghĩa của hai biến cố nội tâm và ngoại giới
đồng thời tương
ưng. Tuy nhiên, chúng ta thường không ở vào vị thế có thể nhận biết sự
tương tợ ý nghĩa ấy cho nên không thể nào hiểu
được chúng là
biến cố tâm vật lý đồng
thời tương ưng.
Trong nguyên lý
đồng thời tương
ưng, Jung phân biệt hai khái niệm. Một là trật tự thiết lập vô nhân hiển
thị trong các tiến trình lượng tử, trong các tính chất vật lý biểu hiện
dưới dạng các hằng số cơ bản, hay các phẩm tính của số nguyên tự nhiên.
Hai là hiện tượng đồng
thời tương ưng coi như một thực lệ riêng biệt của trật tự thiết lập vô
nhân tổng quát, "tức của sự tương
đẳng giữa hai
tiến trình tâm lý và vật lý trong
đó
quan sát viên may mắn ở vào vị thế khả dĩ thấy
được một yếu tố
thứ ba, đó
là ý nghĩa."
Nguyên hình (the archetype) không phải là nguyên
nhân của đồng
thời tương ưng, vì nếu thế
đồng thời tương
ưng hóa ra là theo trật tự bất vô nhân. Trật tự vô nhân hiển thị trong
hiện tượng đồng
thời tương ưng chứ không sinh xuất chúng. Các dạng của trật tự thiết lập
vô nhân nói chung là bản hữu, vốn có từ vô thủy, và hiển thị hợp thường
quy, ngoại trừ các dạng của
đồng thời tương
ưng thời ngẫu duyên xuất hiện, biểu thị những tác
động sáng tạo
trong thời gian (acts of creation in time), hiển bày ý nghĩa tiềm tàng
của một nguyên hình nào
đó.
Do đó,
Jung quan niệm ngẫu duyên "một phần là một yếu tố phổ biến vốn có từ vô
thủy, một phần là tổng hợp vô lượng tác
động sáng tạo
cá nhân phát sinh trong thời gian." Tuy các tác
động sáng tạo
phát sinh thường xuyên trong thiên nhiên, chúng trở thành những tương
phù có ý nghĩa chỉ khi nào một cá nhân kinh nghiệm chúng. Về tính cách
quan trọng của sự nhận biết ý nghĩa, Jung viết: "Nếu không có tâm thức
suy tư của con người thời thế giới là một bộ máy khổng lồ vô nghĩa, vì
theo kinh nghiệm của chúng ta chỉ có con người là
động vật duy
nhất có khả năng
toàn nhiên phát hiện bất kỳ ý nghĩa nào."
Cần phân biệt nguyên hình và biểu tượng
đa dạng của nó
trong ngôn ngữ, tâm hành, và thế giới: ảnh tượng, ý tưởng, cảm xúc, hay
cuồng tưởng. Không thể nào quán sát cơ cấu tự thân của các nguyên hình
được; chỉ khi
nào bị kích động,
vào những giây phút gay cấn hay khẩn trương, thời chúng khởi sinh một
ảnh tượng, một cuồng tưởng, một tư tưởng, một trực giác, hay một xúc
cảm. Vì di truyền nên trong vô thức của mọi người cơ cấu của các nguyên
hình tương tợ giống nhau. Nhưng các biểu tượng cá nhân của nguyên hình
thời không thế. Thí dụ ấn tượng gây sợ hãi trong tâm thức của
đứa bé sinh và
lớn lên ở Phi châu có thể là một sư tử hay cá sấu, nhưng nếu sinh và lớn
lên ở Hoa kỳ thời có thể là một chiếc xe vận tải cỡ lớn
đang tiến rất
nhanh về phía nó. Biểu tượng nguyên hình khác nhau như vậy là kết quả
của sự hỗ tương giao thiệp giữa tâm thức và môi trường ngoại giới khác
nhau.
Sự hình thành những mẫu hình trong tâm thức
thường bồi theo những mẫu hình vật lý ở ngoại giới. Và
đồng thời tương
ưng xem như biểu thị tiềm năng
hay ý nghĩa hàm chứa trong sát na hiện tại, hay ám chỉ ý nghĩa ẩn tàng
trong một đời
sống, một mối quan hệ, hay một thời khoảnh lịch sử. Vào lúc tương phù
phát hiện, tâm và vật tuồng như không còn là hữu thể cách biệt mà tự
phối trí thành một tình huống ký hiệu
đồng nhất và có
ý nghĩa, hai thế giới vật lý và tâm lý hiển thị hai mặt của cùng
thực tại. Thực tại nhất thể này là một cảnh giới công năng
phi thời, phi không gian, Jung
đặt tên là unus
mundus (the one world; nhất thể thế giới). Như thế, bằng chứng thực
nghiệm về sự hiện hữu của nhất thể thế giới chính là hiện tượng
đồng thời tương
ưng.
Theo Jung, phương thức hữu hiệu nhất
để mô tả nhất
thể thế giới unus mundus là dùng ký hiệu toán học. Jung giải thích: "Hơn
hết mọi sự, số giúp mang lại trật tự trong cái hỗn
độn của các
hình tướng. Số là khí cụ tiền
định
để sáng tạo
trật tự, hay để
nhận biết một chỉnh hợp tuần quy, một trật tự thiết lập (orderedness)
tuy hiện hữu nhưng chưa hay thấy. Số có thể là yếu tố trật tự tối sơ của
tâm thức loài người." Nếu quả thật số, và toán học nói chung, phản ảnh
trật tự của unus mundus thời
điều này soi
sáng tính mầu nhiệm bí ẩn của toán học, là một tác dụng của tâm mà biểu
thị thế giới vật lý với hiệu quả phi thường. Giống lượng tử, số có hai
mặt bổ sung, phẩm và lượng,
động và tĩnh,
do đó
số có vai trò trọng yếu là bắc cầu nối kết tâm và vật. Bà Marie-Louise
Von Franz, học trò và cộng tác viên thân cận nhất của Jung, quả quyết:
"tính mầu nhiệm của unus mundus an trụ trong bản thể của số."
Bà Von Franz nhận thấy tư tưởng của vật lý gia
David Bohm có nhiều điểm
tương đồng với
của tâm lý gia Carl Jung. Bohm phân biệt hai thứ trật tự, thu nhiếp và
phóng khai. Thường chúng ta thấy biết vẻ mặt phóng khai hay hiển lộ của
thực tại trong khi vẻ mặt thu nhiếp hay tàng ẩn tạo thành bối cảnh vô
thức. Như vậy, khái niệm trật tự thu nhiếp tương ứng với vô thức và trật
tự phóng khai với thức.
Bohm tóm tắt như sau: "Yếu chỉ của khái niệm này
là toàn thể vũ trụ theo cách nào
đó
thu nhiếp trong tất cả sự vật và mỗi sự vật thu nhiếp trong toàn thể.
Như thế, theo cách nào
đó và với
mức độ nhiều
hay ít tất cả sự vật thu nhiếp hay dung nạp hết thảy sự vật; tuy nhiên
trong trạng huống kinh nghiệm thông thường, sự dung nhiếp ấy không ngăn
ngại tánh tương đối
độc lập của sự
vật. Điều căn
bản được
đề xướng là
quan hệ thu nhiếp đó
không có tính chất thụ
động hay nông cạn. Trái lại, nó hoạt
động và trọng
yếu đối với
tình trạng đương
là của mỗi sự vật. Như vậy, mỗi sự vật tương quan nội tại với toàn thể,
và do đó,
với tất cả sự vật khác. Trong khi ấy, các quan hệ ngoại tại trình hiện
theo trật tự phóng khai hay hiển lộ trong
đó
mỗi sự vật được
nhìn thấy tương đối
cách biệt và có trương
độ, và chỉ quan hệ bên ngoài với các sự vật khác. Như thế, trật
tự phóng khai, trật tự thống trị kinh nghiệm thông thường và vật lý học
cổ điển (Vật lý
Newton), tuồng như tự nó có một vị thế
độc lập. Nhưng
kỳ thật, không thể tách biệt nó ra khỏi sở y của nó ở trong thực tại cơ
bản của trật tự thu nhiếp." Nói cách khác, trật tự phóng khai dẫn xuất
từ trật tự thu nhiếp: nó là dạng biến chuyển của một trật tự thứ cấp bao
hàm trong trật tự thu nhiếp. Trật tự thứ cấp này tạo
điều kiện
(duyên) phát hiện những tiến trình tâm hay vật như những mẫu hình trừu
xuất từ một toàn thể hoàn chỉnh.
Theo Bohm, thực tại là toàn thể hoàn chỉnh ấy,
tương tục lưu chú với nhiều
độ phóng khai
và thu nhiếp, nên gọi là toàn lưu (holomovement), tương
đương với nhất
thể thế giới unus mundus của Jung. Thực tại bao gồm cả hai cảnh giới
tâm, vật, và trật tự thu nhiếp
đồng thời áp
dụng trong cả hai cảnh giới tạo thành một nhịp cầu nối kết chúng. Von
Franz đồng ý về
những gì Bohm nói đều
có thể áp dụng vào lĩnh vực nghiên cứu của Jung: “Chẳng hạn, những
nguyên hình có thể hiểu như là những cấu trúc năng
động, không thể
nhìn thấy, tiêu bản của trật tự thu nhiếp. Mặt khác, nếu một nguyên hình
khởi sinh một mộng tưởng, thời nó
đã lộ xuất và
trở thành “hiển lộ” (explicated) hơn. Nếu tìm cách giải thích cái mộng
tưởng ấy với kỹ thuật giải khai ý nghĩa (hermeneutic technique) của Jung
thời nó sẽ “hiển lộ” và lộ xuất nhiều hơn nữa.”
Von Franz hàm ý rằng nội hàm của vô thức có thể
biểu minh ở nhiều độ
khác nhau, do đó,
biến vô thức thành thức nhiều hơn. Như thế, không còn sự phân biệt rõ
ràng giữa thức và vô thức; tâm thức là một toàn thể chứa một cảnh giới
phóng khai của thức, cảnh giới này và toàn thể ấy tương ly tương tức. Do
tập khí lâu ngày thức thường xuyên hướng về một phía cố
định, phía cảnh
giới phóng khai của nó, cho nên không nhận biết trật tự thu nhiếp vốn là
nguyên lý của mọi sinh khởi và tồn tại. Tuy nhiên, theo Bohm, thức không
nhất thiết phải trùng hợp với trật tự phóng khai bởi vì chúng ta có
thể trực nhận những diện thiên lưu ẩn áo của trật tự thu nhiếp trong bối
cảnh những diện cụ thể và hiển lộ của kinh nghiệm cá nhân. Nghĩa là, nếu
thức đủ sáng
suốt để nhận
thức sự hỗ tương nhiếp nhập của các hiện tượng tâm lý và vật ly thời sự
hòa hợp tâm vật thành một thể có thể trực quán thay vì thông
đạt bằng lý
luận quy nạp. Muốn thế, theo Duy thức, phải "đạt
quả chuyển y", chuyển thức thành trí. thời mới
đủ sáng suốt
để trực nhận
những tầng ẩn áo nhất của tâm thức.
Song song với vấn
đề thức và vô
thức trong tâm lý học là vấn
đề vật chất và
năng lượng
trong vật lý học. Trước Einstein, năng
lượng cũng như vật chất có cảnh giới riêng, cảnh giới này tùy thuận
định luật bảo
toàn năng
lượng, tương đối
độc lập
đối với cảnh
giới kia tùy thuận định
luật bảo toàn vật chất. Sau Einstein, sự phân chia không còn rõ ràng
nữa, năng và
khối được xem
như hiển thị hai mặt của cùng một thực tại, gọi là năng-khối
nhất thể, toán học biểu diễn dưới hình thức vectơ năng
lượng - động
lượng 4 thứ nguyên (the energy-momentum 4-vector). Hai nguyên lý bảo
toàn năng lượng
và bảo toàn vật chất nhiếp nhập thành một nguyên lý mới: bảo toàn năng-khối.
Trên bình diện hiện tượng, khối và năng
hiển thị hai cảnh giới tương
đối biệt lập
chừng nào vận tốc di chuyển xem như không
đáng
kể so với vận tốc của ánh sáng. Năng
lượng tương ứng với một thành phần của vectơ năng-động,
khối lượng với ba thành phần kia. Nhưng khi chiếu vectơ năng-động
trong hệ thống quy chiếu của một thí nghiệm, hình chiếu của vectơ ấy tác
dụng như một toàn thể, không phân biệt thành phần năng
và thành phần khối. Tánh
đồng nhất của
hai thành phần năng
và khối chứng minh sự hiện hữu một cảnh giới siêu quá hai cảnh giới năng
lượng và vật chất.
Thí dụ năng-khối
nhất thể trên giúp ta hiểu làm thế nào tâm và vật trong hai cảnh giới
riêng biệt, tương đối
độc lập, mà vẫn
nối kết nhau thành một, bởi chúng có chung cội nguồn trong
đáy
sâu của unus mundus. Giống như các
định luật bảo
toàn năng lượng
và vật chất, tâm và vật hiện thành theo cách riêng, những biến
đổi của tâm
không ảnh hưởng đến
vật và ngược lại. Tư tưởng chẳng hạn, tuồng như tác
động một cách
tương đối
độc lập
đối với những
biến chuyển trong thế giới vật lý. Ngược lại, những biến chuyển của vật
chất không bị tư tưởng chi phối làm thay
đổi. Vậy mà một
số hiện tượng bất quy tắc như hiện tượng
đồng thời tương
ưng đôi khi
đột khởi, rất
bất ngờ, ám chỉ sự nối kết bí ẩn tâm và vật thành duy nhất một thể. Và
tại những mức thu nhiếp càng sâu thẳm hơn nữa của hiện thành, bằng chứng
nối kết càng thấy rõ rệt,
đó
là nguyên hình của số, cốt tủy của trật tự thiết lập trong cả hai cảnh
giới tâm và vật.
Trong Phật giáo, ý tưởng về tương giao và nhất
thể được Thạch
Đầu phô diễn
rất thiện xảo trong Tham
đồng khế. Trong
đó
tính cách tương giao của Sáng và Tối
được miêu tả
như là hạn chế lẫn nhau và
đồng thời hòa
hợp nhau.
Ý tưởng về tương giao và nhất thể phát xuất từ
triết lý Hoa nghiêm. Theo thuyết bốn pháp giới của Trừng Quán thời cách
nhìn thứ ba, Lý sự pháp giới, một thế giới trong
đó
tất cả những hiện hữu riêng biệt của nó (vastu) tức Sự có thể
đồng nhất với
Nhất tâm tức Lý là sở y, xiển minh tính cách hỗ tương giao thiệp giữa
những hiện hữu như tâm pháp và sắc pháp, và tính cách bất tương ly và hỗ
nhập hỗ tức của Nhất tâm và tất cả các hiện hữu riêng biệt của nó, tức
Lý Sự đồng
nhất.
Pháp Tạng cho rằng giáo lý Như Lai tạng là giáo
lý về lý sự dung thông vô ngại và thuyết Như Lai tạng duyên khởi hay
tánh khởi làm sáng tỏ cái nhìn lý sự dung thông vô ngại. Hiểu “tánh
khởi” theo nghĩa 'lý sự vô ngại' thời tánh khởi chỉ vào tác dụng của Tâm
(Lý) làm sinh khởi thế giới hiện tượng (Sự). Như thế, thế giới hiện
tượng là biểu tượng của Tâm, và vì bản tánh của Tâm là thanh tịnh, tự
tánh thường trụ, nên do
đó
mà toàn thể thế giới hiện tượng xuất sanh từ Không
đúng
theo quan niệm lý sự vô ngại. Chính do tánh Không mà các pháp mới có thể
đồng thời hiện
khởi, cộng đồng
hiện hữu, và hỗ tương giao thiệp tạo thành một Nhất thể nhịp nhàng hòa
điệu.
Đồng thời tương
ưng theo Jung là sự tương phù có ý nghĩa. Nếu hiểu "tương phù có ý
nghĩa" là "cùng xuất sanh từ Không" thời ý nghĩa nói ở
đây chính là
tánh Không.
Hồng
Dương
|