& Thích Thái Tuệ
Thật khó mà chọn ra một tiêu chuẩn chung về ý hướng Tôn giáo cho nhân loại trong cộng đồng xã hội; đây là một vấn đề cực kỳ khó khăn và tế nhị, vì chúng hình thành và phát triển theo kiểu đa diện không phải là đơn diện, đa hướng không phải là đơn hướng.
Việc nhận thức của con người về Tôn giáo cũng như thế, nó biến đổi tùy theo cơ cấu não trạng, cảm thức con người qua từng quốc gia, từng thời đại khác nhau. Có thể người ta đón nhận bằng lý tưởng tín ngưỡng, bằng sự xây dựng mạng lưới an toàn tâm linh hoặc bất lực về nhận thức khi đến với Tôn giáo. . .
1. Nhu cầu tín ngưỡng:
Xét về trình độ nhận thức, quan điểm chính kiến, ý hướng hành động và khả năng chứng đạt thì tất cả các Tôn giáo đều có những mặt khác nhau; nhưng xét theo khái niệm thuần túy Tôn giáo thì nó lại có điểm rất tương dung: Bất luận dưới hình thức nào trong thâm tâm sơ khởi của tín đồ của mỗi Tôn giáo đều cùng chung một nhịp đập, cùng chung một khái niệm biểu tượng lý tưởng tín ngưỡng.
Tín ngưỡng là bước khởi đầu để đưa mọi người thể nhập vào đạo, là cơ hội để dấy lòng từ thiện từ trong tiềm thức của con người, là thói quen để con người làm việc lành, là giây phút hạnh phúc, là giây lát để cõi lòng mở rộng và đón nhận ánh sáng Đạo vàng. Nếu điểm khởi thủy không lập cước vững chãi thì bước thứ đến khó lòng tiếp cận sự ngoạn mục, thâm thúy và siêu việt của Đạo. Hệ thống tổ chức giáo lý của Tôn giáo bao giờ cũng bao gồm hai mặt: Mặt hình nhi thượng (triết lý, huyền học), mặt hình nhi hạ (luân lý đạo đức, nghi lễ tín ngưỡng. . . ). Các Tôn giáo trong quá trình phát triển và duy trì ngoài bình diện đặt nặng mặt kiến trúc thượng tầng còn phải chuyển tải mặt hạ tầng tín ngưỡng thắm nhuần và lưu lộ trong sinh hoạt thường nhật của tín đồ. Chúng ta có thể đoan chắc rằng, nếu không có tinh thần tín ngưỡng thì không thể có tính kiên tâm và nghị lực để quán sát và thu thập những tư liệu khái niệm về Tôn giáo, cũng như thành đạt mục đích cao thượng. Đức tin đúng nghĩa là đức tin có năng lực kỳ diệu khiến cho người ta an tâm vững chí, dõng mãnh tiến bước trên đường Đạo. Đức tin là nguồn gốc của đạo, là mẹ đẻ của mọi công đức, đức tin nuôi lớn thiện căn. Như ngài Long Thọ nói: "Lên núi đầy vật báu, nếu không tay thì chẳng lấy được gì". Cũng vậy, gặp được chánh pháp mà không có đức tin thì rốt cuộc chẳng hưởng được một tí gì công đức. Đức tin là không còn thắc mắc, hoài nghi những điều được nghe thấy hoặc tư duy, hướng tất cả ý chí, hành động vào một đối tượng mà mình đã chấp nhận hay ngưỡng mộ. Nhờ đức tin mới xóa bỏ được tỵ hiềm, ngờ vực, chán nản và loại trừ những chất độc đã và đang làm tê liệt sức sống trong xã hội. Tuy nhiên, đức tin phải là sản phẩm nội tại của bộ óc và trái tim như Descartes đã nói: "Đức tin là hành vi tự do". Đức tin trong Phật giáo phải là niềm tin của Chánh kiến (Samyaksam drsti = Sammasamditthi), đức tin phát khởi sau khi sáng suốt suy luận, không a dua, theo càng, tin suông, thiếu thực hành. Niềm tin tác động thành sức mạnh tổng hợp vô hình không thể lay chuyển và cũng là nhân tố làm chất xúc tác, kích thích sự quyết tâm bởi hành vi ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội.
Chúng ta có thể nói ngay rằng, đối với những người tin tưởng vào giáo lý Nhất thần quan niệm Thượng đế và Thần linh đều có khả năng ban ơn giáng phước, sắp đặt mọi sự khổ đau và hạnh phúc. Do vậy, họ chỉ biết tôn kính, cầu nguyện để làm sao thể nhập với thực thể siêu hạn ấy. Như thế, thì con người hoàn toàn không có chủ quyền, đời đời chỉ làm nô lệ cho Thần linh hay Thượng đế. Hình tượng của một vị giáo chủ trong khung cảnh trang nghiêm tịch mặc mà tín đồ đang khẩn cầu là một hình ảnh tượng trưng để cho tín hữu tưởng niệm đến cuộc đời và hành trạng của Ngài. Đa phần tín đồ Ky tô giáo đều tin bảy tín điều trong Tân ước một cách tuyệt đối không bàn cãi:
1. Đức mẹ đồng trinh.
2. Hiện thân của Chúa (Thượng Đế hiện thân thành người, nghĩa là, Thượng Đế là Jésus).
3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa.
4. Sự sống lại của Chúa.
5. Sự thăng thiên của Chúa (thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại).
6. Chúa trở lại trần thế
7. Ngày phán xét cuối cùng
Nếu ở phương Tây tin Thượng đế tạo ra con người, thì ở phương Đông tin con người là Thượng đế và con người tự cứu chuộc lấy mình. Hạnh phúc hay khổ đau đều phụ thuộc vào hành động của chính mình, lời nói, ý nghĩ mà mỗi cá nhân tạo ra có ý thức, đó là một quy luật vận động tự nhiên không một ai có thể hướng dẫn hay an bài. Vì tự vận động theo một nguyên tắc nhất định nên không thể thiên vị, thiên tình cho những ai đã vi phạm tội lỗi. Như vậy, vấn đề cầu nguyện không phải chỉ là vấn đề cầu xin Thượng đế tha thứ tội lỗi mà là tự mình cứu lấy mình. Trong Phật giáo tuy có hình thức lễ bái tín ngưỡng, nhưng những hình thức này không mang tính van xin, phục tùng trước một vị Thần linh để rồi sợ hãi và cúi đầu vâng lệnh. Sự lễ bái ở đây là chỉ tỏ lòng tri ân vô hạn, tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ đến lý tưởng siêu việt của Ngài. Nhưng điều quan trọng hơn hết, may mắn hơn hết chính là sự thực hành nghiêm chỉnh giáo lý của Ngài, Phật dạy: " Người nào thấy giáo pháp (Pali: Dhamma) là thấy Như Lai ". Sau này, Ngài Sri Radhakrishman khi nói về vấn đề lễ bái cầu nguyện, Ngài quan niệm: "Những lời vái van cầu nguyện có tính cách là sự cảm thông riêng tư, một sự mặc cả với Thần linh. Đối tượng mà nó tìm ra là những tham vọng trần tục đang thiêu đốt ý thức về bản ngã. Đằng khác, tham thiền là tự mình sửa đổi lấy mình"[1]. Phật giáo không ban hành những tín điều buộc người phải nhắm mắt tin theo, không giáo điều bắt buộc người khác phải chấp nhận trước khi suy nghĩ, không có nghi thức dị đoan vô lý và lễ tiết gò bó, không có hiến tế và không có ép xác khổ hạnh để gội rửa thân tâm hoặc bằng nước Thánh, hoặc tắm mình dưới một dòng sông được gọi là Linh thiêng như sông Gange theo quan niệm của Ấn giáo. Thế nhưng, từ trước đến nay con người thường chỉ tìm nơi Đạo Phật như một Tôn giáo dưới hình thức cổ kính, thâm uyên, chìm mình trong màu áo tiếng chuông, trong việc cúng Phật, cầu an, cầu siêu. Tin Phật như tin Trời, thờ Chúa. Linh thiêng hóa đức Phật như một Thượng đế toàn năng, có quyền ban phát ơn lành. Sự lầm lạc này không những hại cho công cuộc tu chứng của mình, mà chẳng làm vẻ vang gì cho đạo Phật cả; trái lại, còn thêm nhiều những tấm màn che khuất một nội dung đạo Phật sáng, đẹp và thực tiễn. Vì vậy, khiến cho những người chưa hiểu sinh lòng ngộ nhận, xuyên tạc nhiều điều đáng tiếc về đạo Phật. Nếu ta không thay đổi cách nhìn, không vén bỏ bức màn hình thức dày đặc đang bao trùm đạo Phật, thì tự ta, tự nơi ngộ tín của ta, ta đã thoái hóa Phật giáo. Đạo Phật đáng lẽ hướng dẫn con người trên đường thực tập đời sống an tịnh giải thoát, nhưng trong thực tế phần lớn người ta ít quy thú về đạo Phật với tinh thần thực hành tâm linh, mà chỉ thích những hình thức tín ngưỡng và lễ nghi nhất thời. Phải chăng não trạng của con người chỉ dừng lại ở đây ? hoặc số lượng Tăng sĩ không đủ để đáp ứng hay là thiếu khả năng hướng dẫn?
Thiết tưởng hình thức tín ngưỡng là nếp sống tâm linh của quảng đại quần chúng biểu lộ qua cách thức lễ bái, cầu nguyện Đấng tối cao, chấp nhận chân lý một cách không phê phán, tạo dựng hình tượng, viết thành kinh sách để cho tín đồ học hỏi và hành trì. Hình thức này tuy không phải là tuyệt đối nhưng rất hữu ích vì nó giúp người hành lễ tập trung tư tưởng vào đối tượng trong sạch, người trí thức thuần thục cũng có thể thực hiện được để thành tựu một đời sống thanh bình, an lạc và hạnh phúc ở đây và bây giờ.
Nhìn lại vấn đề tín ngưỡng ngày nay, nó không còn giữ đúng nguyên trạng làm cầu nối để đưa người sơ cơ thể nhập đạo nữa, mà dường như không ít Tôn giáo đã biến nghi lễ trở thành nguyên lý cứu cánh thay vì là phương tiện. Đa phần mọi người ngày nay, đi chùa, đến nhà thờ với mục đích là để cầu tự, cầu tài, cầu lộc, cầu danh vọng và chức tước. . . với vật lễ gồm đủ mọi thứ như sơn hào hải vị, hương hoa đèn nến tranh nhau đặt lễ, thắp hương, phóng hóa vàng mã, bái qùy xụp lạy như con cái thắp hương ngày giỗ mẹ cha; tất cả đều im lặng, thầm kính tưởng nhớ, rồi đóng một chút đĩnh tiền bổ sung vào công quỹ phước đức để xây dựng chùa chiền, Thánh đường nguy nga tráng lệ. . . rồi ra về thanh thản. Bên cạnh vấn đề tín ngưỡng, người ta còn tạo ra những hiện tượng mê tín, dị đoan mê hoặc nhân tâm, để rồi làm biến dạng tính linh thiêng nơi Tôn giáo thành một thứ Tôn giáo tà ngụy như đã và đang xảy ra trong xã hội. Bởi vậy, những người đứng đầu tổ chức giáo hội phải có trách nhiệm rất lớn trong việc giáo dục tín đồ của mình đi đúng qui trình xã hội đó là tự do, công bằng, văn minh và chủ quyền.
Ngày nay, vấn đề Tín ngưỡng không còn hạn cục trong giáo luật của Tôn giáo nữa; trái lại nó còn được bàn bạc rộng rãi trong Hiến pháp của mọi quốc gia, trong Bản Hiến chương Liên hợp quốc quy định: Người nào cũng được quyền tự do tư tưởng, tự do theo lương tâm của mình và tự do tín ngưỡng, quyền đó bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo và tín ngưỡng, hoặc một mình, hoặc cùng nhiều người khác, trước công chúng hoặc ở các tư gia. Người nào cũng được quyền biểu dương tôn giáo của mình, hoặc địa hạt giáo dục, hành đạo, thờ phụng và lễ nghi. Những điều này như là một qui định chung mà các nước hội viên đã cam kết, hợp tác với Liên hợp quốc để bảo đảm hữu hiệu sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản khác.
2. Bất lực về nhận thức:
Cuối cùng để trả lời lý do tại sao vai trò tín ngưỡng của Tôn giáo nhân danh chân lý mặc khải không còn đáp ứng nỗi khát vọng của nhận thức con người trong Xu thế mới. Từ lâu, lòng mê tín, niềm sợ hãi cộng với kiểu " tư duy uốn nắn" đã trấn ngự bao trái tim con người không còn hấp dẫn đối với mọi thế hệ chịu ảnh hưởng nền văn minh khoa học kỹ thuật, đặc biệt là thế hệ trẻ. Càng ngày, con người càng định hướng lại hình ảnh của Thượng Đế, gạt ra bên lề những tư tưởng huyền bí, phiền toái khó hiểu. Quan niệm về Thượng Đế bị đóng gông trong mô hình siêu hạng, biến Chúa trở thành một thứ tồn tại siêu nhiên ở xứ trời xanh xa rời nhân thế, không đoái hoài gì tới cuộc đời dâu bể và chúng sanh điêu linh, đã làm cho người ta một thời khát mộ và ước vọng đến nay đã đổi thay. Nó đã nhường bước cho những giáo lý thực nghiệm có thể áp dụng được vào trong đời sống hàng ngày nhằm chuyển hóa khổ đau, khai thông được bế tắc, xây dựng lại được tổ ấm tình thâm trong gia đình mà xưa nay giáo lý Đức tin đã làm băng giá cõi lòng. Vì chú trọng đến Đức tin cho nên sự nhận thức cũng bị hạn cục trong khuôn khổ, thậm chí đôi khi con người không nhận ra được những hành động trái đạo đức, thiếu đứng đắn của vị giáo chủ, chủ chăn hoặc vị Đạo sư cũng đều cho là Thánh sự. Đó là manh mối phát sinh ra nhiều hiện tượng "uy quyền", tạo niềm tin mù quáng, xây dựng một lối sống bất lực trong cuộc đời.
Hiện nay, tinh thần tự do và đời sống cá nhân của con người đang bị nhiều hình thức Tôn giáo của nhiều giáo phái quyền uy đe dọa nghiêm trọng. Đạo Phật không đặt trên sự thị oai quyền lực, ngay cả Đấng đạo sư chân thật hoặc truyền thống lâu đời, như trong đoạn kinh sau đây, chúng ta sẽ hiểu rõ giá trị lý trí của con người khi Đức Phật dạy cho người dân làng Kalàma, Ngài nói: " Hãy đến đây người Kalàma, không nên mặc nhiên chấp nhận một điều gì trong kinh sách, vì ức đoán suy diễn, vì hiền nhân khả kính khả ái. . . chỉ vì tập tục cổ truyền trao đến tay ta, hay chỉ vì điều ấy đã được ghi chép. Này người xứ Kalàma, chỉ nên chấp nhận những điều nào hợp với luân lý, được các bậc Thiện tri thức tán dương, nếu thực hiện được những điều này sẽ được an vui hạnh phúc thì hẳn các người phải thực hành động như vậy. " (Kinh Trung A Hàm)
Thánh ngôn của Đức Phật, tuy đã trải qua hơn hai mươi lăm thế kỷ nhưng vẫn còn chấn động mãnh liệt đến tâm thức con người, đã khai sáng, đã tiếp sức sống cho con người hùng tráng vươn lên, không bi quan và bất lực trước bản thân và hoàn cảnh sống, bởi vì "Tất cả chúng sanh đều sẵn có Phật tánh. "
Trong bối cảnh nhiễu nhương, nhân loại đã và đang cũng như sẽ đương đầu biết bao nhiêu tổ chức quyền lực, từ cổ đại qua trung đại đến hiện đại, trải dài từ Thiên chúa giáo, Hồi giáo đến một số ý thức hệ mang nhãn hiệu Tư bản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa, nhân danh khoa học kỹ thuật. Tất cả những hình thức tổ chức này không ngoài mục đích là để khai thác, lợi dụng, bóc lột tinh não (chất xám) và sức lực của con người. Nó vô tình biến con người trở thành một kẻ nô lệ chỉ biết cúi đầu và tuân phục để mặc cho con Tạo xoay vần lạnh lùng trôi chảy, đưa dòng tiến hóa ngược chiều tràn lan trên vạn nẻo. Có rồi lại không, không rồi lại có. Thế sự thăng trầm, trắng đổi thành đen, hết đen đổi thành đỏ,vì thế mà Thi sĩ Tản Đà phải ngâm nga chua chát :
"Hết trò phu cáng lại phu xe
Văn minh ước độ bao cây số
Tiến bộ như anh cũng chán phè. "
Thật vậy, cái cảnh say men ý thức hệ, cuốn hút bởi các tổ chức quyền lực, sùng tín mãnh liệt trước chân lý Mặc khải đang đổ vào đầu những người dân vô tội, làm lòng người hoang mang đứng trước ngã ba đường nhìn nhau ngơ ngác, cuối cùng quyết định chạy vội vào những Tôn giáo khác nhau mà họ coi như những chiếc thuyền của Noé cứu nạn cả thân xác lẫn tâm hồn. Có thể nhiều người trong số họ đã thất vọng vì sự hiểu biết của mình còn non trẻ trước thế giới siêu nhiên vô cùng tận. Và những cuộc tìm kiếm lại bắt đầu trở về, trở về với đời sống tâm linh.
Với sự hoạt diệu của cái ta nhỏ bé này dù có cố gắng mấy đi nữa cũng chỉ là cái sức nhỏ nhoi, yếu ớt không thể tự lực vươn lên đến với sinh mệnh tuyệt đối, cũng như người ta không thể đứng lơ lững giữa không trung mà nhìn. "Con người muốn thực hiện sinh mệnh tuyệt đối cần phải nhờ một sức thiêng liêng ở ngoài cái ta nhỏ bé hẹp hòi này. Vì trông đợi ở một Đấng từ bi, bác ái cứu thế ấy, nên mới dốc lòng cầu nguyện, mong đem cái tâm kiền thành cầu sự cứu rỗi giải thoát ở sức thiêng liêng đó chứ không tin ở nỗ lực bản thân. Đó là lập trường của những người chủ trương tha lực chủ nghĩa, nghĩa là chủ trương cho rằng sinh mệnh tuyệt đối chỉ có thể tìm ở ngoài bản thân. "[2]
Như vậy, chúng ta thấy rằng với khả năng nhận thức hạn chế của con người trước thế giới vô hạn, nên con người cần phải nương tựa vào thế giới Tâm linh Tôn giáo để thăng hoa giá trị nhân cách và phát triển đạo đức cuộc sống miên trường.
3. Ổn định tâm linh -Phát triển đạo đức Tôn giáo:
Tôn giáo là một hiện tượng đã tồn tại lâu đời trong xã hội loài người; chúng biến chuyển và thăng trầm theo nhịp bước của thời gian, khi thì được tôn trọng, lúc thì bị miệt thị. Con người là chủ nhân ông đã và đang gây ra cũng như sẽ gánh chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng chẳng hạn như sự ô nhiễm môi trường sinh thái, nhiễm ô môi trường tâm linh. Bởi vậy, sau những kinh nghiệm đớn đau như thế, con người thấy cần tìm lại giá trị mỹ cảm của tinh thần, và Tôn giáo đã đề cao cái giá trị đó.
Tất nhiên, như người bệnh nặng thích tiêm thuốc mạnh, niềm tin tôn giáo trong thời gian qua đã tới chỗ "cuồng tín, thoát ly hẳn thực tế". Thêm vào đó, sự hiểu biết của con người còn hạn chế, nên không thể khám phá ra thế giới thực tại là gì, biến chuyển như thế nào. Tới lúc, con người cũng nhận ra được sự cuồng tín đó nhưng cuối cùng vẫn rối bời, không lối thoát; vì thế, người ta phải tìm về với con đường Tôn giáo.
Có thể nói rằng, Tôn giáo đã tìm thấy ở đó những chất liệu thật nhất, gần gũi nhất với con người để tạo nên một hệ thống luân lý đạo đức của mình, như triết gia người Đức Kant nói: "Tôn giáo là sự tri nhận rằng các nguyên tắc đạo đức của chúng ta là những quy luật không được vi phạm", cũng như một triết gia khác tương tự nói: "Tôn giáo là thành phần trung tâm trong nền giáo dục xác định cách ứng xử đạo đức của chúng ta. " Bởi thế, nếu hiểu Tôn giáo chỉ đơn thuần về mặt niềm tin Tín ngưỡng thì chưa đủ; mặt khác, Tôn giáo còn có cả một hệ thống cơ cấu tổ chức giáo lý như triết lý, văn học nghệ thuật, và luân lý đạo đức. . .
Tuy phạm vi hoạt động của Tôn giáo và đạo đức hiện thực xã hội không giống nhau nhưng tất cả ít nhất đã nêu bật một yếu tố cần thiết đó là kiến thiết xã hội con người theo phương châm Chân-Thiện-Mỹ. "Sự bắt nguồn cũng như phạm vi của tôn giáo và đạo đức vốn không hẳn giống nhau, vì tôn giáo là sự quan hệ giữa con người hiện thực và cái gọi là siêu nhân. Còn đạo đức thì chủ yếu được thành lập trên quan hệ giữa người và người; duy có điểm giống nhau là cả hai đều lấy sự hy sinh tự kỷ làm mục đích, hay ít ra phải lấy đó làm một yếu tố chủ yếu. Tôn giáo vốn lấy sự hy sinh là yếu tố lớn nhất. Các tôn giáo ở trình độ thấp lấy sự hy sinh bề ngoài đối với thần thánh là điều kiện cần thiết cho sự cảm thông giữa thần và người; các tôn giáo ở trình độ cao thì lấy sự không hóa tự thân để hòa nhập siêu tự nhiên làm con đường nhiếp lý và dưới hình thức này, ta thấy sự hy sinh là một lối hành trì trọng yếu. Đạo đức thì cũng thế(. . . ). Như vậy, cả tôn giáo và đạo đức đều lấy việc xa lìa ngã chấp, ngã dục làm điều kiện trọng yếu nhất, cho nên bản chất của tôn giáo và đạo đức không thể tách rời nhau. "[3]
Chúng ta có thể đoan chắc rằng những ảnh hưởng trong đời sống văn hóa, tinh thần không có ảnh hưởng nào mạnh hơn Tôn giáo, và cũng không có sự quyến rũ nào bằng sự quyến rũ của Tôn giáo, một khi Tôn giáo đã đi vào lòng người. Chính nhờ Tôn giáo mà con người biết thăng hoa nhân phẩm, bồi dưỡng nhân cách hoàn mỹ, tạo đời sống hạnh phúc đích thực, phát huy nội tâm thanh tịnh an lạc tuyệt đối, đặc biệt là phát huy toàn bộ tiềm lực của chính bản thân và trí năng, đây là xét trên bản chất nguyên nghĩa của Tôn giáo. Đi sâu vào góc độ triết học, văn học, nghệ thuật học, thẩm mỹ học và đặc biệt là đạo đức học, mỗi Tôn giáo có một nền tảng luân lý đạo đức khác nhau.
Trong tất cả các Tôn giáo trên thế giới, Phật giáo là một Tôn giáo có sắc thái luân lý đạo đức sâu đậm nhất. Nhưng nếu nhận xét và phê phán theo lập trường học vấn thì cũng có nhiều sự giải thích khác nhau. Như lời Đức Phật dạy: '' Lời dạy của ta không phải đến để mà tin, mà đến để thấy ", mục đích của đức Phật trước sau vẫn là ở chỗ thực hành, không phải thuyết minh về lý luận, cho nên những lời dạy của Ngài liên quan đến luân lý đạo đức phần lớn là những lời giáo huấn lâm thời chẳng qua chỉ là đức mục mang tính phương tiện, quan hệ gián tiếp mà thôi. Mục đích của Phật giáo là giải thoát. Mà giải thoát là siêu việt hiện thế, do đó luân lý đạo đức theo nghĩa thông thường không là gì so với vấn đề giải thoát giác ngộ cả. Tùy thuộc căn cơ và não trạng của từng người, mà Đức Phật thi thiết phương tiện hướng dẫn. Giáo lý xây dựng một nền tảng đạo đức cho con người thì vô hạn, nhưng giáo lý đơn giản nhất là không làm điều ác, chỉ làm điều thiện, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời đức Phật dạy (Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo). Và trên nữa là hạnh Từ-Bi-Hỷ-Xả và Ngũ giới. Từ-Bi-Hỷ-Xả là bốn yếu tố cần thiết trong tình thương đích thực, luân lý đạo đức trong đó một yếu tố bao hàm cả ba yếu tố và ngược lại trong ba yếu đều chứa một yếu tố như là biểu hiện tình thương không giới hạn, hoàn toàn vị tha, không vướng mắc, không kỳ thị, không phe nhóm. . .
Tinh thần Năm giới là nền tảng của hạnh phúc gia đình và là chất liệu của chí nguyện lợi tha, nó có khả năng bảo vệ sự sống và làm đẹp cuộc đời. Năm giới cũng là nguyên tắc hướng dẫn chúng ta về với hướng an lạc, giải thoát và giác ngộ; là nguyên tắc của hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình và xã hội. Học hỏi, thực hành theo năm giới, ta sẽ đi đúng con đường chánh pháp; ta sẽ tránh được những lỗi lầm, khổ đau, sợ hãi và thất vọng; ta sẽ xây dựng được một cuộc sống hòa bình, an lạc cho chính bản thân và xã hội. Lòng khoan dung, tính từ bi và sự thành tâm được thể hiện qua những lời lẽ nói trên chính là một trong những di sản quý báu nhất trong nền văn hóa tâm linh đạo đức Phật giáo.
Năm giới ấy là:
a. Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra mà nguyện không sát hại.
b. Ý thức được những khổ đau do sự lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra mà nguyện không trộm cắp.
c. Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra mà nguyện không tà dâm.
d. Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra mà nguyện không nói dối.
e. Ý thức được những khổ đau do sử dụng ma tuý và độc tố gây ra mà nguyện không dùng những chất độc tố.
Đạo Phật lấy sinh hoạt đạo đức vì tình thương vô ngã làm bản vị. Đặc điểm này không những khác hẳn với các Tôn giáo khác mà còn là một trong những nguyên nhân mang lại cho Phật giáo một ảnh hưởng lớn đối với xã hội nữa.
Đối với Nho giáo:
Luân lý đạo đức của Nho giáo là Trung dung hành động, và sinh hoạt theo Thiên mệnh, thực hành Tam cương (vua tôi, cha con, vợ chồng) và Ngũ thường (Nhân, nghĩa, lễ, trí và tín).
Nhìn chung, thế giới quan của phương Đông là cố gắng đạt tới trạng thái hòa hợp với xã hội, giúp cho con người nắm được chân lý thực tại thông qua trực quan, trực giác, bằng hành động của chính mình nghĩa là chân lý đã có mặt ngay trong cõi đời này, con người miễn cần phải tìm. Theo Phật giáo thì "chân lý" không có ranh giới, nó không cần có biểu trưng của Tôn giáo nào cả và cũng không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào, thế lực nào trong bất kỳ thời đại nào. Nhưng trong khi đó những người theo Ky tô giáo phương Tây quan niệm ngược lại, xem chân lý còn ở cõi Thiên đàng trên bầu trời cao vút.
Nguyên tắc đạo đức của Ky tô giáo đó là ca ngợi tình yêu của tuổi trẻ với người thân, tính khiêm nhường, tính kiên trì, sự lựa chọn và khuất phục, đặc biệt hơn hết là tính công bằng Bác ái. Ở đây, phạm vi đề tài chỉ xét đến vài nét đặc thù mà thôi.
Sinh hoạt đạo đức của Ky tô giáo dựa trên mặt hoạt dụng là Mến Chúa và Yêu người. "Mến Chúa và Yêu người là hai tình cảm không thể tách rời nhau, người có lòng Mến Chúa thì phải biến tình thương thành hành động, tức là phải yêu đồng loại, thương kẻ xung quanh như thương chính mình vì "Thiên Chúa là Tình yêu" như Thánh Jean đã nói: " Cái thấy được mà còn chưa yêu thì làm sao yêu được cái mình không thấy. Không phải cứ kêu gọi Chúa thì được lên Thiên đàng. Tôi chỉ thực sự Mến Chúa khi tôi thương yêu đồng loại, thương kẻ sống quanh tôi và nhất là thương những người nghèo khó, phải hết lòng giúp đỡ những ai cần đến mình, phải phấn đấu để san bằng mọi bất công, phải tha thứ và yêu mến chính kẻ thù vì đồng loại ta đều là con Chúa. " (Đạo đức học - Vĩnh Đề)
Theo Thánh kinh, Thượng đế đã giao ước mười điều răn nổi tiếng cho người Do Thái, về sau đã trở thành nền tảng đạo đức của Ky tô giáo, trong đó ba giới đầu biểu hiện sự Mến Chúa, còn lại bảy giới sau là thi thiết Tình thương Bác ái. Bác ái đích thực không phải là sự bố thí, sự làm phúc nhưng là tình thương. Đó là một tình thương cụ thể nghĩa là ta chỉ có lòng bác ái thực sự khi yêu thương những con người cụ thế sống cạnh bên ta, ngay những kẻ không đáng cho ta yêu mến, bác ái yêu thương tất cả mọi người. Tình thương của bác ái không phải là một tình cảm thụ động; bác ái đòi hỏi ta phải có những hành động thiết thực như trong Thánh kinh dạy: " Chúng con đừng yêu mến bằng môi, bằng miệng mà phải yêu mến bằng việc làm, bằng cả tấm lòng chân thành".
Mười điều răn ấy là:
1. Không được thờ phụng một Thần nào khác ngoài Ta
2. Không kêu tên Thượng Đế một cách vô cớ
3. Hãy nhớ ngày lễ nghi để thanh hóa
4. Hãy thảo kính với cha mẹ
5. Không giết người
6. Không phạm tội tà dâm
7. Không được trộm cắp
8. Không được dối hại người
9. Không được thèm muốn vợ(hay chồng) của người khác
10. Không được thèm muốn của cải của người khác.
Đây là mười giáo điều cơ bản, để thiết lập nền đạo đức nhân thế. Ngoài ra, dân Do Thái đã để lại cho Ky tô giáo nhiều quy luật hành xử khác nữa, mà cụ thể nhất là câu: " Hãy thương yêu xóm giềng như chính mình, yêu ngay kẻ thù của mình " đồng nghĩa với câu tiếng Việt: " Thương người như thể thương thân ". Theo họ, đức Jésus còn dạy: " Người nào tát vào ta má bên trái thì phải chìa ngay má bên phải ra cho họ " và còn rất nhiều điều khác nữa. Ở đây, người viết không nói ra.
Thiết tưởng, con người nếu hiểu thế giới đạo đức Tôn giáo là thế giới bên kia, thì đó chỉ là lời nói bóng với những hình ảnh linh động, gợi trí tưởng tượng. Thực tế, nếu trong thế giới hiện thực, đạo đức Tôn giáo không có một dấu hiệu gì thì không thể bảo đảm thế giới bên kia là thực có. Do đó, đạo đức là đạo đức của hành động, chỉ có hành động chính trực mới giải thoát con người thoát khỏi công lệ '' cuồng tín, thoát ly hẳn thực tế ", tránh khỏi những lập luận quàng xiêng, hoang đường xem Tôn giáo như là một mãnh lực để an ủi và dắt dẫn chúng sanh vào cõi huyền viễn vô cùng. Ngày nay, tinh thần đạo đức Tôn giáo phải hòa hợp, lồng khép, dung hợp giữa đạo và đời, giữa thần tính và nhân tính, cư xử có định hướng vào trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Niềm ao ước sâu xa nhất của con người ngày nay là tìm ra được một môi trường sống, một khung cảnh có an ninh, tình thương và hiểu biết lẫn nhau được che chở trong tình thương yêu của Phật, Thượng Đế và Phạm Thiên . v. v. . . Ý niệm thiết lập một nền đạo đức tại thế, một thế giới Thiên đường Cực Lạc, một Vương quốc Tịnh Độ ngay ở dân gian là ý niệm của hầu hết mọi tín đồ Tôn giáo. Nhưng chúng ta không may mắn kiến tạo nên những viễn cảnh hoang đường không tưởng, tạo ra cho nhau những tính nghi kỵ, hận thù và xung đột; tất cả không ngoài mục đích để vênh danh bản ngã, để củng cố quyền lực dưới mọi hình thức Tôn giáo nhằm thống trị với nhau. Chúng ta đã đánh mất bản chất của Tôn giáo, ngày đêm rong ruổi chạy theo kinh tế thị trường, kiến thiết và xây dựng cơ sở hạ tầng, cho nên chúng ta không có đủ thời gian để chăm sóc, vun bón môi trường tâm linh trong ta và những người yêu thương chung quanh ta. Bởi lẽ ấy mà đức Dalai Lama thứ 14 của Phật giáo Tây Tạng tại Hội Nghị Thượng Đỉnh về việc bảo vệ môi trường và phát triển, do Liên hợp quốc tổ chức tại Brazil, năm 1992, Ngài nói:" Mục đích của Tôn giáo không phải là kiến tạo Chùa cao Phật lớn, Thánh đường nguy nga và tăng thêm số lượng tín đồ. . . mà Tôn giáo chỉ đến với loài người và hướng dẫn họ ra khỏi tối tăm cùng mạt mà chính họ đã gây tạo. Mỗi Tôn giáo trên thế giới dù có các quan điểm khác nhau về triết thuyết, nhưng trước và trên hết vẫn là những lời dạy làm giảm bớt lòng ích kỷ và hãy thương yêu lẫn nhau. Nhưng không may, có nhiều người đã nhân danh Tôn giáo đã gây ra những cuộc đấu tranh hơn là giải quyết chúng. "
Sự ổn định trật tự trị an và phát triển nhân cách của con người là vấn đề tối cần thiết cho mọi quốc gia trên thế giới, dưới thời đại khoa học và công nghệ. Bởi vậy, từng quốc gia sở tại nên thay đổi cách nhìn, tạo chí thiện cảm với Tôn giáo, nỗ lực cùng giáo dục để lần hồi phát huy truyền thống đạo đức và nâng cao đời sống tâm linh trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và công ước quốc tế, hầu xây dựng một thế giới hùng cường và thái bình.
Tiếng gọi của Tôn giáo vang vọng xa trong thinh không như lan tỏa thái hòa đi mọi ngã, xóa đi tất cả, để mất đi tất cả những gì rối ren giữa cuộc đời tất bật đầy hoa lệ vật chất, và bắt đầu bước trên lộ trình " trở về với mái nhà xưa ", với mái nhà tâm thức là đạt đến sự "hòa giải hoàn toàn" giữa con người với con người, giữa con người với môi trường và giữa con người với chính mình. Tất cả chỉ còn lên đường . . . !
Thích Thái Tuệ