Thiền học
trong nghệ thuật và kiến trúc
Thích Thái Không
|
N |
ghệ thuật và kiến trúc thể hiện nếp sống và hệ thống tý týởng của từng thời ðại. Bởi vậy, muốn tìm hiểu về các nền vãn hóa, tôn giáo và phong tục trong nhân gian thì nghệ thuật và kiến trúc ðóng vai trò rất quan trọng.
Nghệ thuật gồm có những lĩnh vực nhý thõ, họa, âm nhạc, kiến trúc. . . Nghệ thuật hòa ðiệu với tâm hồn của con ngýời. Nếu cuộc sống không có nghệ thuật thì tất cả ðều khô cằn nhý gỗ ðá. Nghệ thuật thể hiện cảm hứng của tâm hồn. Cánh ðào rõi trýớc ngọn gió xuân sẽ trở thành một bức tranh dýới cái nhìn của một họa sĩ. . . Ðối với Thiền, nghệ thuật là phýõng tiện ðể nói lên những sự hiện hữu mầu nhiệm và những pháp hành diêu việt. Những bài thõ Thiền làm thức tỉnh lòng ngýời ðang mê muội. Những bức tranh Thiền ðýa con ngýời trở về với cội nguồn tâm linh trong hiện tại. Lối kiến trúc trong Thiền môn làm cho con ngýời có cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng hõn sau những ngày bôn ba giữa phồn hoa phố thị. Mỗi bức tranh Thiền có mỗi ý nghĩa rất sâu sắc, trong ðó có thể là một nhân vật nhý hình ảnh của Ngài Ðạt Ma Tổ Sý, Ngài Huệ Nãng, hoặc là một cảnh týợng ðõn giản, hoặc chỉ là một vài chữ. . . nhýng nét bút ðã thể hiện tính cách, tý týởng và hành ðộng của ðối týợng và chủ ý tác giả.
Bất cứ ai trong giới Thiền gia ðều xem hình Bồ Ðạt Lạt Ma là một biểu týợng hùng tráng, với ðôi mắt trợn trừng nhìn thế sự, hàm én kiêu hãnh thể hiện nét phong trần, ðôi chân không ðạp trên sóng ðời cuồn cuộn chảy. Hoặc là bức tranh Cửu niên diện bích là một bài học lớn về pháp Thiền Ðại Thừa Bích Quán. Nghĩa là Bích Quán là thế giới tuyệt ðối của tâm, tất cả ðã ðể lại sau lýng ðể trở về với thế giới tĩnh mặc. Bên bức tranh ðề bốn chữ Ðại Thừa Bích Quán không phải là ðiều ðõn giản mà ai cũng có thể lãnh hội ðýợc. Ðây là một Thiền án cho tất cả các hành giả ðang thực tập Thiền. Nếu hiểu bức tranh Bích Quán là ngó vào vách thì thật là vô nghĩa. Qua bức tranh ðã nói lên một pháp hành, Bích Quán là Tâm Quán, không phải nhìn vào vách nhý những ngýời thýờng nhìn mà chính là nhìn vào tâm ðể thấy ðýợc ðiểm tận cùng của tâm, ðó là lối về bất nhị. Ngài Ðạt Ma ðã dạy Nhị Tổ Huệ Khả về phép Bích Quán nhý sau:
Ngoài dứt chý duyên
Trong không toan tính
Tâm nhý týờng vách
Mới là nhập ðạo
Pháp hành Thiền quán ðýợc thể hiện qua bức tranh. Tất cả yếu chỉ của Thiền ðýợc cô ðọng trên từng nét chấm phá, nhý hình ảnh Ngài Huệ Nãng ðốt sách là những lời nhắc nhở cho những ai ôm lấy kiến thức ðể nhốt mình trong chấp ngã.
Trong Thiền tông còn có bộ tranh Thập Mục Ngýu Ðồ ðýợc phổ biến rộng rãi qua các Thiền viện và cũng là kim chỉ nam cho những hành giả ðang thực hành Thiền quán.
Thiền học còn có mặt trong lãnh vực kiến trúc Á Ðông. Mỗi Thiền viện ðều có một lối kiến trúc ôn hòa, khác hẳn với lối kiến trúc La Hy của các Nhà thờ Thiên Chúa Giáo hay lối kiến trúc Trung Ðông của các nhà thờ Hồi Giáo. Kiến trúc của các Thiền viện thể hiện nếp sống trầm tĩnh thanh u nhýng vẫn mang dáng vẻ oai nghiêm của các nõi thờ tự và mang ðậm màu sắc tôn giáo.
Khi býớc vào Thiền viện Phật giáo, ðầu tiên chúng ta phải vào cổng Tam Quan. Không phải ngẫu nhiên mà làm cổng Tam Quan, ngoài nghệ thuật kiến trúc còn có ý nghĩa triết lý rất lớn trong Thiền học, Tam Quan là Tam Giải Thoát Môn, là Tam Pháp Ấn, là “Không” - “Vô Týớng” - “Vô Tác”.
Trong Thiền Viện Phật Giáo, kiến trúc và thiên nhiên hòa ðiệu với nhau bởi vậy khi býớc vào Thiền viện chúng ta có cảm giác thi vị và thanh toát. Vì có một cuộc sống ồn ào náo nhiệt nhý ở phồn hoa phố thị, mà phải là một ðời sống thanh ðạm về vật chất và có một tâm hồn thanh thoát.
Các Thiền viện ở Á Ðông từ xýa ða số ðýợc vua quan xây dựng nên phảng phất ðýờng nét của kiến trúc cung ðình, sự trình bày trang trí nội thất cũng týõng tự nhý các phủ ðệ, nhýng bên cạnh ðó Thiền viện vẫn mang tính cách kiến trúc của nhân gian týõng tự nhý ðình làng miếu vũ cho nên không phải là xa lạ ðối với dân chúng. Từ ðó, kiến trúc của Thiền viện mang nét ôn hòa, khiêm tốn ẩn hiện dýới những výờn ðồi. . . Trải qua bao nhiêu thãng trầm của lịch sử nhýng những nét tiêu sõ của Thiền viện vẫn giữ nguyên nhý cũ. Ở Trung Hoa, thời ðại lục quốc qua phân ðã biến Trung Hoa thành nhiều mảnh, ðất nýớc này phải chịu ảnh hýởng của nhiều nền vãn minh trên thế giới nhý Nga, Anh, Pháp, Bồ Ðào Nha, Nhật, Mỹ và có thay ðổi rất nhiều trong kiến trúc, nhýng các Thiền viện ở ðây vẫn tồn tại và giữ ðýợc Thiền phong. Ở Việt Nam cũng vậy, trải qua những thời kỳ chiến tranh và trở thành thuộc ðịa của nhiều nýớc nhýng những Thiền viện ở ðây vẫn còn nét cổ kính và mang phong thái của Thiền.
Chùa chiền, Thiền viện mang tính nghệ thuật kiến trúc và tính vãn hóa Phật Giáo và vãn hóa dân gian. Ở Á Châu, ðặc biệt là trung Hoa và Việt Nam, luôn luôn lấy tứ linh là long, lân, quy, phung ðể trang trí ở các nõi tôn nghiêm nhý cung ðình, ðền thờ miếu vũ và các Thiền viện. . . Về mặt kiến trúc, khi gắn những hình rồng, phýợng. . . trên mái nhà là ðể cho cân ðối nghệ thuật, về mặt triết lý thì những hình týợng này còn có những ý nghĩa tùy theo bối cảnh. Hình ảnh con Rồng làm ðể týợng trýng cho sự hýng thịnh, thãng hóa và bền vững. Lân týợng trýng cho sự hùng mạnh, uy vũ. Phụng týợng trýng cho ngýời quân tử, có dáng tao nhã, ðời sống thanh cao. Quy týợng trýng cho ðức nhẫn nhục, nhu hòa và sự trýờng cửu. Từ vãn hóa nhân gian, những biểu týợng này cũng ðýợc các Thiền viện sử dụng ðể trang trí ðồng thời cũng có những ý nghĩa tôn giáo riêng, thể hiện những ðức tính trong sự tu tập nhý tinh tấn, vô úy, thanh tịnh, nhẫn nhục. . .
Lại nữa, có một hình ảnh trong kiến trúc rất ðặc biệt ở Á Ðông mà chúng ta thýờng thấy ở các nõi mang màu sắc vãn hóa nhý cung ðình, miếu thờ, hoặc chùa chiền, ðó là hình Long Mã. Ở trýờng Quốc Học - Huế, có bình phong Long Mã, ðó là týợng trýng cho sự phát triển một nền vãn hóa của ðất nýớc. Chúng ta cũng thấy hình Long Mã trên bức phù ðiêu của Tổ Ðình Từ Hiếu - Huế, nhýng hình ảnh Long Mã ở ðây, ngoài nét nghệ thuật tiêu biểu cho thời ðại còn có ý nghĩa rất lớn, ðó là sự tu tập, ðầu rồng týợng trýng cho trí tuệ, ðôi chân tuấn mã týợng trýng cho sự tinh tấn, trên lýng tuấn mã chở một hòm thý, ðó là týợng trýng cho những pháp hành. Một ngýời tu tập phải nhý con long mã, phải có sự suy xét ðúng ðắn theo Chánh ðạo, phải có sự kiên trì bền chí nhý ðôi chân tuấn mã và phải có một pháp hành nhất ðịnh và xem pháp hành ðó là tính mệnh của mình.
Kiến trúc Phật giáo cũng nhý các công trình kiến trúc ở Trung Hoa hay Việt Nam từ thế kỷ 20 trở về ðều mang màu sắc týõng tự. Nền kiến trúc này hoàn toàn mang tính ðộc lập, không ảnh hýởng kiến trúc ngoại lai, ðến bây giờ vẫn còn gần nhý nguyên vẹn. Hình hoa sen ðýợc dùng ðể trang trí trong các chùa chiền và cung ðình. Các biểu týợng và cách xây dựng cũng theo quy luật âm dýõng, các cổng chùa bên ngoài thýờng là có hình vuông góc týợng trýng cho tánh âm, nhýng vòm cổng bên trong lại có hình tròn móng ngựa týợng trýng cho tánh dýõng. Các cột trụ trong cung, hoặc trong chùa chiền và các lãng tẩm ðều ðýợc trang trí hoa sen nở phía dýới và búp sen ở phía trên týợng trýng cho sự thanh cao.
Các mái chùa cong vút ẩn mình dýới những tàn cây, tiếng chuông chùa u trầm vọng lên làm thanh thản lòng ngýời. Kiến trúc các Thiền viện mang tính cách oai hùng của cung ðình làm nõi nýõng tựa tinh thần cho những ngýời dân Á Ðông, ðồng thời cũng có nét dân dã ðể hòa mình với quần chúng. Cho nên, hình ảnh chùa làng, ðình miếu ðã dễ dàng ði sâu vào lòng của ngýời dân.
Trong nền
kiến trúc Á Ðông
có một ðiều
ðáng
chú ý nhất là kiến trúc lãng
tẩm và tháp. Ðối
với quan niệm lão - Nho, cho rằng Sanh viết ký nhi tử viết quy, cuộc
sống này là giả tạm, chỉ có chết mới thực sự là trở về. Từ quan niệm
ðó
cho nên, lãng
tẩm của những ngýời
quyền quý ở Á Ðông
là những công trình kiến trúc lớn và mang tính vãn
hóa. Trong Phật giáo, khác với quan niệm trên, các tháp thờ týợng
Phật hoặc xá lợi của Phật, là
ðể
cho các Phật tử ðến
chiêm bái. Hoặc khi các vị tổ sý
viên tịch, các ðệ
tử và tín ðồ
xây dựng tháp là ðể
thể hiện lòng tôn kính và týởng
nhớ công ðức
của vị ðó.
Cho nên, các tháp thờ Phật và tháp Tổ trong Phật giáo
ðều
có một ý nghĩa riêng. Các tháp thờ Phật
ða
số ðều
ðýợc
xây bảy tầng, trong ðó
tôn trí bảy týợng
Phật, týợng
trýng
cho bảy ðời
các Ðức
Phật, và số bảy trong Phật giáo là týợng
trýng
cho trung ðạo,
một ngôi tháp xây bảy tầng không cao cũng không thấp. Các tháp Tổ, thýờng
ðýợc
xây ngay trên mộ phần của các vị Tổ. Hoặc có những nõi
xây những tháp vọng, do những vùng có vị Tổ
ðó
ðến
giáo hóa, nhýng
khi viên tịch thì ở chỗ khác và hài cốt
ðýợc
tôn trí ở một nõi
khác, nên các ðệ
tử
và tín ðồ
ðã
ghi nhớ công ðức
và xây dựng tháp thờ vọng. Tháp các vị Tổ thýờng
là nãm
tầng, týợng
trýng
cho Ngũ ðức
sý,
ðó
là nãm
phẩm tính tạo nên một vị Hòa Thýợng:
Không thiên ái; Không sợ hãi; Không
sân si; Giáo hóa ðúng
thời, ðúng
nõi
và ðúng
ðối
týợng;
Dùng Pháp thích hợp ðể
giáo hóa. Tháp những vị A Xà Lê thýờng
ðýợc
xây ba tầng, týợng
trýng
cho Tam vô lậu học, là Vãn
- Tý
- Tu. Trên ðỉnh
tháp có hoa sen hoặc bầu hồ lô, hoa sen týợng
trýng
cho sự thanh tịnh, hồ lô týợng
trýng
cho sự hòa hợp âm dýõng
và kết tinh của trời ðất.
Trong kiến trúc thể hiện tâm hồn của những ngýời dân Á Ðông, những tâm hồn trầm tĩnh và sâu lắng là nền tảng của những ðýờng nét kiến trúc nhu hòa nhýng rất trang nghiêm.
Thích Thái Không