ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT TRIỀU LƯ
LÊ VĂN KINH
(tiếp theo)
NỀN
PHÁP LUẬT TRIỀU LƯ THÍCH ỨNG VỚI XĂ HỘI ĐƯƠNG THỜI
Ngày nay, sau khi đă làm quen với các quan niệm về luật pháp của Tây phương, ta coi sự thích ứng với nhu cầu của xă hội là một tính chất tất nhiên của luật pháp.
Song, nếu ngược ḍng thời gian, ta trở về với các bộ luật cũ của Trung Hoa và gần đây với bộ Hoàng Việt Luật Lệ, tức luật Gia Long, ta sẽ rơ các nhà làm luật ngày trước có một quan niệm khác hẳn. Vốn sẵn có tinh thần bảo thủ, nhà làm luật bao giờ cũng coi các bộ luật cổ như những công tŕnh bất hủ, những khuôn mẫu bất di bất dịch. V́ vậy, bộ luật nhà Đường (Đường Luật Sở Nghị) tuy được thảo ra từ năm 653, song qua bao thế kỷ, vẫn được dùng làm “khuôn vàng thước ngọc” cho các bộ luật Trung Hoa về sau. Và, cũng v́ vậy, trong bộ luật của Tàu hay bộ luật Gia Long, người ta đă “quen tay” chép lại nhiều điều luật cũ, tuy đă quá lỗi thời, không c̣n giá trị thực tế hiện tại nữa rồi!
Trái lại, luật pháp triều Lư, theo các tài liệu hiện nay c̣n t́m thấy, chứng minh rơ là các vua triều Lư đă từng săn sóc đến t́nh trạng của dân một cách rất thực tế, trong địa hạt nông nghiệp cũng như trên phương diện tố tụng .
Ngày nay, các nước tiên tiến trên thế giới đă tiến đến một nền kinh tế kỹ nghệ nước ta vẫn c̣n trong giai đoạn kinh tế nông nghiệp. Vậy lẽ tất nhiên cách đây 10 thế kỷ, nghề nông phải là nguồn lợi chính yếu và là ngành hoạt động quan trọng nhất ở nước ta.
Trong khuôn khổ một xă hội trọng nông, nhà làm luật triều Lư đă chăm sóc đến sự thịnh vượng của nghề chân lắm tay bùn, làm giảm bớt nỗi khổ cực của giai cấp nông dân (hằng ngày vẫn phải chịu bao nỗi đắng cay đè nén, hăm dọa từ mọi phái). Khác hẳn với luật Trung Quốc, đồng thời, dưới đời Lư Nhân Tông (1072-1127), các vụ trộm trâu ḅ thường xảy ra rất nhiều ở các làng mạc, khiến người dân quê làm ăn không được yên ổn. Hơn nữa, nhiều kẻ chỉ chuyên môn trộm cướp trâu ḅ của dân gian khiến việc cày bừa phải đ́nh trệ, có khi bốn, năm gia đ́nh phải chung nhau một con trâu hay một con ḅ.
Vốn sinh trưởng ở nơi dân giả, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức Ỷ Lan Nguyên Phi, vợ vua Lư Thánh Tông ) thấu rơ nỗi thống khổ của dân quê trong t́nh trạng ấy, nên đă khuyên nhà vua ra tay trừng trị các kẻ gian làm hại dân lành.
Năm Hội Tưởng Đại Khánh thứ 8 (1117), vua Lư ban hành một đạo luật về việc trộm và thịt trâu ḅ: “Kẻ nào ăn trộm trâu hay thịt trâu ḅ phải phạt 80 trượng và tội đồ làm “Tang thất phu” nghĩa là tội đồ ở các sở nuôi tầm. Ngoài ra c̣n phải hoàn trả lại tiền con vật. Các người lân bang không tố cáo tội phạm cũng bị phạt 80 trượng” (Đại Việt Sử Kư). Có lẽ, trong sử không ghi chép điều luật này được đầy đủ. Theo sử, trong luật trù liệu tội đồ làm “Tang thất phu”, nhưng đây chỉ là một h́nh phạt đối với đàn bà (đàn bà phải làm việc tại sở nuôi tầm). Vậy chắc chắn là sử đă bỏ sót không ghi h́nh phạt đối với người đàn ông ăn trộm trâu, ḅ.
Song, sự che chở dân cày không phải chỉ tóm tắt giới hạn trong việc trừng phạt các sự đạo thiết trâu ḅ là đủ. Đối với dân Việt, câu ca dao “Tấc đất tấc vàng” từ ngàn xưa đă phản chiếu một sự kiện kinh tế căn bản. Tất cả các cơ nghiệp của người dân quê đời xưa chỉ vỏn vẹn gồm vài thửa ruộng, thửa vườn. Cuộc sinh nhai hàng ngày, các thuế má, ma chay và mọi việc đóng góp trong làng, trong xóm, thảy đều trông mong vào mối lợi độc nhất ấy.
Trong trường hợp phải cần tiền, nếu không sẵn của dư của để, họ chỉ c̣n cách đem cầm, bán cái bất động sản ấy. V́ vậy, trong đời sống chất phát của dân quê, các cuộc cầm bán ruộng đất có tính cách quan trọng đặc biệt. Ta có thể nói là hầu hết các việc dính líu đến pháp luật ở sau lũy tre xanh đều do các việc mua bán, cầm cố ruộng đất gây nên. Hiểu được t́nh trạng ấy, vua Lư Anh Tông (1138 - 1175), năm Đại Định thứ 3 (Nhâm tuất, 1142) đă ban hành điều luật về việc kiện tụng và chuộc lại ruộng đất:
“Các ruộng cày cấy đă đem cầm cố có thể chuộc lại trong một hạn là 20 năm. Các vụ tương tranh về điển thổ không thể xin vua xét xử sau một thời hạn 5 hay 10 năm. Phần ruộng vườn bỏ hoang, đă có người cầy cấy, người chủ chỉ có quyền đ̣i lại trong hạn một năm. Trái lịnh này, sẽ phạt 80 trượng.
Kẻ nào tranh nhau ruộng ao mà dùng dao đă thương hoặc đánh chết người sẽ bị phạt 80 trượng và bị tội đồ. Các ruộng ao tương tranh sẽ đền cho người bị thương hay bị chết.
Các ruộng cày cấy hoặc bỏ hoang, đă có văn tự bán đất, không thể chuộc lại. Ai trái lại, cũng phải phạt cùng một tội”. (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Đại Việt Sử Kư).
Đây là điều luật Việt Nam cổ nhất mà ngày nay ta c̣n thấy ghi rơ ràng trong sử về qui chế các điền thổ. Đạo luật ấy đă bênh vực quyền lợi của nông dân về hai phương diện: Xă hội và pháp lư.
1. Phạm vi xă hội:
Phương diện xă hội, là yếu tố quan trọng trong sự quy định về ruộng đất vừa nói trên.
Có thể nói, những lư do xă hội đă thúc đẩy nhà làm luật Triều Lư, cách đây 1000 năm, đặt cơ sở cho một nền cải cách điền địa mà các nước Âu-Mỹ mới chỉ thực hiện gần đây thôi.
Một trong những giải pháp được ban hành là sự tôn trọng quyền lợi của người nông dân đă thật sự cày cấy những ruộng đất đă bỏ hoang và coi họ như sở hữu chủ những ruộng đất ấy, sau một thời gian cày cấy là 3 năm.
Sự thực, những trang sử ta vừa học qua về triều Lư, đă nhắc cho ta rơ chính sách xă hội khôn ngoan ấy, đă được đem áp dụng ở nước cách đây 10 thế kỷ. Cuộc cải cách của Triều Lư c̣n triệt để hơn v́, theo điều luật ban hành vào năm Đại Đinh thứ 3: “Các ruộng bỏ hoang đă được người khác cầy cấy, chỉ sau thời hạn một năm là không thể đ̣i lại được nữa”.
2. Phạm vi pháp luật:
a. Trước hết, đây là lần đầu tiên, nhà làm luật xác định sự phân biệt việc cầm cố vườn ruộng (ta thường gọi là điển mại) với sự bán đất ( ta thường gọi là đoạn mại).
Danh từ “Điển” (nghĩa là cầm đồ) đă thấy được dùng đầu tiên trong tài liệu pháp luật Việt Nam.
Trong luật đă dùng danh từ “Điển thực điền”, nghĩa là cầm cố ruộng đă cày cấy. Danh từ “Điển mại” hiện nay vẫn c̣n được lưu dùng. Một danh từ không thấy trong hai bộ luật nhà Đường và nhà Thanh.
Để cho người dân quê tránh khỏi nạn bốc lột của chủ nợ thường manh tâm chiếm đoạt của họ, vua Lư Anh Tông đă ấn định một thời gian khá dài là 20 mươi năm cho phép họ được chuộc lại ruộng đất trong thời gian ấy. Với quy chế này, người dân quê sau khi cầm cố ruộng nương c̣n có hy vọng một ngày kia sẽ lại được làm chủ thửa ruộng của ḿnh như trước.
b. Để sự bảo đảm của luật pháp được hiệu quả, nhà làm luật c̣n nghiêm phạt kẻ nào ỷ vào sức mạnh để tự ư giải quyết các việc tương tranh về đất đai. V́ vậy, kẻ nào đă dùng dao đánh (đâm, chém) hoặc giết người, không những phải tội về mặt H́nh, c̣n bị mất cả ruộng ao tương tranh để đền bù cho kẻ bị thương hay thiệt mạng. Với điều khoảng này, ta cần đánh dấu một đặc điểm mới của luật pháp triều Lư. Ở đây, ta đă bước từ địa hạt luật H́nh sang địa hạt luật Hộ thuần túy.
Để binh vực người dân quê bị kẻ cường hào hà hiếp; như một người muốn chuộc ruộng bị người chủ nợ đánh, nhà làm luật cảm thấy là phải đi xa hơn là các sự trừng phạt về h́nh sự. Thực là một vinh dự, ấy đă hiểu rằng: duy tŕ trật tự công cộng trong xă hội h́nh luật chưa đủ, mà c̣n cần phải ḥa ḿnh vào đời sống của dân chúng, hiểu thấu nỗi đau khổ oan ức của họ, phải nâng đỡ họ và làm êm diệu những sự bất công mà họ đă phải chịu đựng. V́ lẽ đó, những kẻ cầm dao đánh người, ngoài các h́nh phạt, c̣n phải mất ruộng ao tương tranh để đền cho kẻ bị đánh, bị giết...
c. Tuy nhiên, ta cũng không nên quên rằng, luật pháp triều Lư có một tính cách rất thiết thực: sự bênh vực quyền lợi của tầng lớp nông dân không phải là một chính sách hoàn toàn đạp đổ quyền lợi sở hữu trong mọi trường hợp. V́ vậy, nhà làm luật đă phân biệt rơ ràng sự cầm cố với sự bán đứt hay đoạn mại các ruộng nương. Trong trường hợp có văn tự nêu rơ là đoạn mại, các ruộng nương không thể chuộc lại được.
Đây là một nguyên tắc rất cần thiết cho tính cách vững ổn các hợp đồng đă được kư kết giữa các tư nhân. Nhờ nguyên tắc ấy, các sự mua bán mới có một căn bản vững chắc, và các sự kiện tụng mới mong giảm bớt được.
Về phương diện tố tụng, nền pháp luật triều Lư cũng có tính cách rất thực tiễn.
Để tránh cho dân quê các vụ kiện tụng tốn kém, nhiều khi quá lâu ngày, vua Lư Thánh Tông đă định rằng: “Các vụ tương tranh về ruộng đất không được xin vua xét xử nữa, sau hạn 5 năm hoặc 10 năm, tùy trường hợp”. (Cũng bởi một lư do là trước vua Lư Anh Tông, vua Lư Thần Tông (1127-1138), năm Thuận Thiên thứ nhất (1127) đă lệnh rằng: “Các vụ kiện đă được xét xử dưới các triều vua trước không thể đem ra thưa kiện lại được. Ai trái điều khoản này sẽ bị phạt”.
Xem như vậy, ta thấy các vua nhà Lư rất am hiểu tâm lư của dân quê ta là hay thích kiện cáo. Để diệt trừ thông bệnh ấy, các điều luật trên đây không những là một liều thuốc có hiệu quả mà c̣n nêu cao tŕnh độ pháp lư thời ấy và chứng minh rằng: Luật pháp Việt Nam, ngay trong thời kỳ phôi thai đă có những phương pháp rất tinh vi về phương diện chuyên môn như thời hạn tiên định (Délai préfix) hay nguyên tắc Res judicata pro veritate habetur (nguyên tắc là phàm các vụ kiện đă được xử đều coi như chân lư), mà ngày nay, nền luật pháp tân tiến nào cũng coi là căn bản trong các thủ tục tố tụng.
(Délai préfix: thời hạn tiên định, là một thời hạn do nhà làm luật định ra. Nếu trong thời hạn ấy, đương sự không sử dụng tới quyền của ḿnh, th́ sau này không được quyền khởi tố nữa, thí dụ như thời hạn 5 hay 10 năm trong Đạo luật năm Đại Định thứ ba.
Res judicata pro veritate habetur: Nghĩa là một vụ kiện đă được xử xong th́ được coi như chân lư bất di bất dịch, không thể xin ṭa án xử lại.)
Những trang trên đây đă nêu rơ những điểm đặc sắc trong nền luật pháp triều Lư. Song, nếu muốn khảo sát một nền pháp luật mà chỉ đứng riêng về mặt lư thuyết không thôi th́ chưa đủ, c̣n phải bước từ địa vực nguyên tắc sang địa hạt thực hành, để xem xét cách áp dụng luật lệ ấy và kết quả đă thâu hoạch được là như thế nào.
SỰ ÁP DỤNG LUẬT PHÁP DƯỚI TRIỀU LƯ
Đă sẵn thấm nhuần một tinh thần Từ bi do ảnh hưởng của Phật giáo, nền luật pháp của triều Lư c̣n được áp dụng trong thực tế một cách khoan hồng. Về sự áp dụng ấy, ngày nay trong sử vẫn c̣n nhiều bằng chứng tỏ rơ các biện pháp và kết quả đă thu được rất mỹ măn.
Đó là hai điểm cần phải bàn đến, sau khi đă phân tích tinh thần của nền pháp luật đời Lư.
TÍNH CÁCH KHOAN HỒNG TRONG VIỆC ÁP DỤNG LUẬT PHÁP:
Như chúng ta đă rơ, vào năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 6 (1064) dưới đời vua Lư Thánh Tông. Mùa hạ, vua đang ngồi xử án ở điện Thiên Khánh, có công chúa Động Thiên đứng cạnh, vua chỉ công chúa, rồi nói với các quan xét việc án: “Ta thương dân như con ta vậy. Song dân không biết ḷng ta, phạm các điều tội lỗi, ta rất xót xa. Từ nay, ta muốn tất cả các tội nặng, nhẹ đều được xử một cách rất khoan hồng.”[1] Theo sách Lịch triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Ngô Th́ Sỹ, một sử gia có tài (1725-1780) đă b́nh luận về việc này như sau: “Dọc việc này, ta thấy vua Thánh Tông rất chân thành. Tất cả sự khoan hồng trong sự áp dụng luật pháp và tấm t́nh thân mật giữa vua và dân không hề bị bệ ngọc xa cách”.
Muốn dẫn chứng một thí dụ về tính khoan hồng trong việc áp dụng luật pháp dưới triều Lư; thiết tưởng có thể mượn trong Sử Kư vài trường hợp rất rơ rệt, rất cụ thể.
1. Trường hợp Chế Củ quấy rối biên thùy:
Xứ ta vốn giáp với Chiêm Thành. Người Chiêm thường hay qua quấy rối vùng đất biên thùy, nên vua lư Thánh Tông đă cầm binh trừng giới. Từ ngày vua Chiêm là Rudravarman II (tức Chế Củ, hay c̣n gọi là Đệ Củ) lên ngôi, người Chiêm đă quan hệ, giao tiếp với nhà Tống bên Tàu, để mua lừa ngựa, tổ chức lại quân đội, chuẩn bị, lăm le đánh nước ta. Vua Lư Thánh Tông, có Lư Thường Kiệt phụ tá, thân chinh đi đánh dẹp, phá được kinh thành Chiêm Vijaya (hay Đồ Bàn, c̣n gọi là Phật Thệ), bắt được vua Chiêm đem về kinh đô Thăng Long.
Đối với một kẻ được gọi là “thù địch” như vậy, lẽ tất nhiên, h́nh phạt thông thường ngày trước, phải là tử h́nh! Tuy nhiên, Lư Thánh Tông tha cho Chế Củ về nước, không giết. Và, Chế Củ đă xin dâng cho ta ba châu là Bố Chánh, Ma Linh và Địa Lư, để chuộc tội.
Đất ấy ngày nay là địa phận Quảng B́nh và phía bắc Quảng Trị (1069).
2. Trường hợp Lê Văn Thịnh mưu phản:
Hơn thế nữa, ngay với những kẻ mang tội mưu phản trong nước; một chính sách mềm dẻo và khoan hồng cũng được đem áp dụng:
Lê Văn Thịnh, vốn là người đỗ Thủ khoa trong kỳ thi đầu tiên tổ chức dưới triều Lư năm 1075, làm quan đến chức tể tướng. Mười hai năm sau, bị cách chức và đày lên miền nước độc. Theo Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, th́ ông bị đày lên miền Thao Giang (thượng lưu sông Nhị). Nhưng, theo Việt Nam Sử Lược, th́ ông bị đày lên đến Lương Giang (miền Thanh Hóa).
V́ đâu Lê Văn Thịnh đă bị cách chức và bị đày như vậy?
Sử chép: Lê Văn Thịnh có một người hầu cận nguyên quán ở Việt Nam, biết làm phép thả hơi mù và biến thành hổ báo. Ông học được phép ấy và lập tâm giết vua để cướp ngôi.
Năm ấy, vua Lư dạo chơi ở hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây bây giờ), xem đánh cá. Vua ngự trên một chiếc thuyền chài, có Mục Thận, người phường Tây Hồ, đứng hầu đằng mũi, buông lưới. Khi thuyền đến giữa hồ, th́nh ĺnh trời mù tối, không nh́n rơ ǵ nữa. Bỗng, có một chiếc thuyền chèo vùn vụt tới, lướt qua thuyền vua. Trên thuyền, qua màn sương mù, ai cũng trông thấy một con hổ lớn đương nhe răng gầm gừ. Vua cả sợ. Mục Thận trong cơn nguy cấp, sẵn lưới trong tay, tung ra, tưởng bắt được hổ, lúc xem lại, ai ngờ là Lê Văn Thịnh !
Vua sai lấy giây sắt trói vào cùi mà giam. Song nghĩ tới công lao cũ, nên đă tha tội chết, chỉ đày lên miền nước độc mà thôi.
Chuyện này, có thể là một nghi án của lịch sử, không khác ǵ vụ án Nguyễn Trăi-Thị Lộ. Song dẫu sao, cách gia h́nh của vua Lư đối với Lê Văn Thịnh cũng tỏ rơ là luật pháp triều Lư nhiều khi đă được giảm nhẹ, trong lúc xét xử.
Nếu ta nhớ lại rằng, năm 1071, đă có đạo luật định rơ các số tiền nộp để chuộc tội, trừ trường hợp tội “Thập ác”, trong đó có tội mưu phản; ta sẽ thấy rơ các h́nh pháp dưới triều Lư đă áp dụng khoan hồng đến mức nào... khi Lê Văn Thịnh được tha tội chết.
CÁC BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ
Trong thực tế, các vua triều Lư đă áp dụng nhiều biện pháp để thực hiện được những kết quả khả quan về mặt pháp lư:
Trái với các triều vua sau, chuyên về Nho học và trọng từ chương. Đời nhà Lư, đă có một biện pháp tuyển lựa các pháp quan và luật gia một cách rất xác đáng:
Ngoài mục đính tuyển lấy những người văn học, Sử c̣n chép là năm Đinh Tỵ (1077), có những kỳ thi chuyên môn để chọn lấy những người chữ tốt, giỏi về toán và luật h́nh, để bổ vào làm Lại viên (danh từ “Lại Viên” có nghĩa như công chức ngày nay) ở các viện, như Thư xă và ở các bộ như bộ Hộ, bộ H́nh. Sự phân công đích đáng ấy, cố nhiên phải là một sự khích lệ cho phong trào học Luật. Mà có lẽ cũng v́ vậy, ta thấy tŕnh độ luật pháp đă tiến tới một mức khá cao, không những giữa các giới hữu trách mà c̣n ở cả giai cấp b́nh dân.
Tuy ngày nay không c̣n nhiều chứng cớ, song cũng có thể “lượm lặt” ở trong sử một vài chuyện để chứng dẫn tŕnh độ hiểu biết Luật khá cao dưới triều Lư.
Trước khi bị tội, Lê Văn Thịnh được vua tin dùng. Sau khi phá Tống. Vua sai Lê Văn Thịnh đi sứ sang Tàu để đ̣i các đất bị người Tàu xâm chiếm ngoài biên cương và các đất đă do thổ dân nơi biên ải đem dâng cho vua Tống để thần phục Trung Hoa.
Tuy Binh lực Tống đă bị Lư Thường Kiệt đánh thua tan tác, song vua quan nhà Tống khó ḷng mà gột sạch ngay được “đầu óc thực dân” mà họ đă bị tiêm nhiễm quá lâu ngày. V́ vậy, nên vua Tống chỉ sẵn ḷng trả lại nước ta các đất đai do người Tống xâm lược tại nơi biên thùy. C̣n các đất đai do thổ dân nộp để thần phục nhà Tống là hai động Vật Dương và Vật Ác, họ ngoan cố không chịu trả lại. Viện lư những đất ấy là của thổ dân “tự ư” đem sát nhập vào Trung Quốc chứ không phải là đất đai nước Việt.
Cho hay, vấn đề dân tộc “thiểu số” không phải là vấn đề mới được nêu lên vào thế kỷ XX này ! Một ngh́n năm trước đây, nó cũng đă từng được đem lên tấm thảm xanh quốc tế để che đậy cho cái dă tâm tham lam của vua quan nhà Tống. Và, Lê Văn Thịnh đă trả lời Tống: “Đất th́ có chủ, các viên quan giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi th́ đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà lấy trộm đă không tha thứ được, mà trộm của hay “tàng trữ” th́ luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua.”[2]
Đại diện cho Việt Nam, Lê Văn Thịnh đă trả lời một cách cứng cơi, khiến cho ngày nay ta đọc Sử cũng hân hoan có được một người đại biểu xứng đáng, biết binh vực quyền lợi tổ quốc một cách hợp lư như vậy.
Đối với luật trong nước, khi người nào nhận một vật ǵ để canh giữ, nếu đem vật đó bán và hủy bỏ đi, tất nhiên phải có tội. Huống hồ là các thổ dân, chẳng qua chỉ là những người được vua nước ta tin dùng, cho cai quản các châu quận ở nơi biên ải xa xôi. Lẽ nào họ tự tiện đem đất đai nước ta dâng cho Tống, để xin phần phục, để mà xâm phạm vào lănh thổ của Việt Nam được?
Luận cứ trên đây c̣n tỏ cho ta biết rằng nền pháp luật thời ấy đă tiến đến mức khả quan, cho nên Lê Văn Thịnh đă phân biệt rơ ràng các khế ước ủy nhiệm (mandat), hoặc kư thác (dépôt), với quyền sở hữu (droit de propriété).
Người thụ ủy quyền cai quản vật ǵ phải trọng quyền sở hữu của người chủ vật ấy.
Đối với các nền luật pháp Đông phương, thường không hay nói tới dân luật và quy định rất sơ lược các khế ước. Lời biện minh của Lê Văn Thịnh trên đây đă cho ta nhận chân giá trị chuyên môn của các người được cử ra cầm cân nẩy mực ở thời ấy.
Không những các kết quả khả quan chỉ thu hoạch được ở các giới tri thức và Pháp quan. Mà, ở chính trong chốn b́nh dân, ta cũng nhận thấy một tinh thần tôn trọng luật pháp, dưới nhiều h́nh thức:
Dưới thời lư, việc buôn bán giữa người Tống và dân ta thường được giao dịch tại các đồn đóng ở gần biên thùy và quan ải, gọi là “Bạc Dịch trường”. Cách tổ chức mua bán như vậy, cũng chẳng lấy ǵ làm lạ. V́ ngày xưa, các nước thường nghi kỵ những người ngoại quốc không muốn cho vào lưu thông trong nước, sợ họ manh tâm do thám t́nh h́nh nội bộ. Về việc mua bán như vậy, dân hai nước tải các phẩm vật cần dùng đến nơi, rồi đôi bên mặc cả mua bán, như ngày nay. Sử chép: “Khi đă thỏa thuận, th́ sau có người trả giá đắt gấp đôi, dân ta cũng không bán”. Xem như vậy, dân Việt Nam thời ấy rất trọng chữ “Tín” trong sự giao dịch. Đó là một bằng chứng tỏ rơ là dân t́nh, dân trí đă có một quan niệm vững chắc về mặt Pháp lư. Sự trọng lời hứa trong hợp đồng là một nguyên tắc thiết yếu trong luật pháp. Có nguyên tắc ấy, mới có sự ổn định, an toàn trong sự giao thiệp, về luật pháp không những đối với đồng bào, mà ngay đối với người Tống là người lạ ở nơi khác đến, dân ta vẫn giữ được tính thực thà ấy; thật là một điều quư báu chứng minh sự thượng tôn pháp luật, như là lẽ phải đương nhiên, ở trong giới b́nh dân thời ấy...
KẾT LUẬN
Để kết luận, ta có thể tóm tắt lại trong hai điều, kết tinh các đặc sắc của pháp luật triều Lư:
1. Vượt qua khuôn khổ cổ điển, những học thuyết Nhân trị và Pháp trị của Trung Quốc, nền pháp luật triều Lư đă bắt nguồn từ tinh thần Từ Bi và Trí Tuệ của Phật giáo, để xây dựng một nền pháp lư đặc biệt, thuần từ và hết sức tiến bộ. Đó là nền pháp lư duy nhất ở nước ta chịu ảnh hưởng trực tiếp của tôn giáo, là đạo Phật.
2. Dười triều Lư, nhiều biện pháp chuyên môn đă được áp dụng và đưa lại nhiều kết quả rất khả quan. Trong sự áp dụng luật pháp cũng như trong công cuộc bang giao, nhà Lư có những nhân tài xuất chúng, có thể không hỗ thẹn khi đem so sánh pháp luật nước ta với những nền pháp lư nước ngoài, kể cả luật La Mă - về các nghĩa vụ và khế ước - mà thiên hạ thường coi là “tấm gương” cho tất cả các nền luật pháp của Âu - Mỹ...
Xưa, nay, có lẽ cả về sau này, con người vẫn măi bàn thảo về những vấn đề nào là chính trị, kinh tế, quân sự, luật pháp, văn hóa, v.v... Chẳng phải là chúng ta cũng vừa mạn đàm, t́m hiểu một vài nét về văn hóa triều Lư đó sao? Nhưng, tục ngữ có câu: “chín người mười ư”. Tây phương cũng nói gần như vậy: “Mỗi người mỗi ư”[3]. Không khéo chỉ hai người thôi mà có đến ba ư, cũng nên!
“Pháp luật triều Lư” cũng là một “bài” chúng tôi đă được “học” cách đây gần năm mươi năm, nhưng, cũng may, chưa “quên đi tất cả”. C̣n nhớ những ǵ, nay xin ghi ra, coi như là “cái c̣n lại”…
L.V.K.
[1] Đại Việt Sử Kư, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Riêng trong sách Lịch triều Hiến Chương th́ chép sai là năm Long thụy Thái b́nh thứ 6. Niên hiệu Long thụy Thái b́nh chỉ gồm tất cả 5 năm (1054-1058).
[2] Hoàng Xuân Hăn - Lư Thường Kiệt, trang 377.
[3] Autant tête, autant d’avis.